Hơn nửa đời hư

d9v2kpf.jpeg

Vương Hồng Sển (1902–1996)
Tên thật: Vương Hồng Thạnh (hay Vương Hồng Thịnh), sinh ra tại Sóc Trăng, ông mang trong mình 3 dòng máu: Kinh, Hoa và Khmer.
Nguồn gốc tên "Sển": Do sự nhầm lẫn của viên chức giữ sổ lục bộ thời bấy giờ khi ghi chép tên ông theo cách phát âm tiếng Triều Châu của địa phương, từ "Thạnh/Thịnh" biến thành "Sển".
Thời trẻ, ông theo học tại trường Collège Chasseloup-Laubat (trường THPT Lê Quí Đôn ngày nay). Sau khi đỗ bằng Brevet Élémentaire (Tương đương với bậc tiểu học nâng cao hoặc sơ cấp cơ sở trong hệ thống giáo dục cũ), ông bước vào ngạch thư ký công chức và làm việc qua nhiều đơn vị từ năm 1923 đến 1943, trong đó có khoảng thời gian phục vụ tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939–1943).

Sự nghiệp của Vương Hồng Sển gắn liền với vùng đất Nam Bộ và niềm say mê cổ vật diệu kỳ. Ông được giới sử học và khảo cổ đánh giá là một "kho tàng sống" về văn hóa và lịch sử miền Nam.

. Giai đoạn 1948–1964: Ông đảm nhiệm vị trí Quyền Quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi nghỉ hưu.
. Bộ sưu tập cổ vật: Ông dành trọn đời mình để sưu tầm hơn 800 (chính xác là 849) cổ vật quý giá. Đáng chú ý nhất là các bộ sứ gốm cổ men xanh trắng (đồ lam) thuộc thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Ông đóng góp công sức to lớn trong việc định danh, xác định niên đại, phân loại gốm sứ và truyền dạy kinh nghiệm chơi đồ cổ cho thế hệ sau.
. Nghiên cứu văn hóa dân gian: Ngoài đồ cổ, ông còn nghiên cứu sâu sắc về nghệ thuật Hát bội, Cải lương, các trò chơi dân gian Nam Bộ (đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng) cũng như tiếu lâm dân gian.

Văn phong của Vương Hồng Sển mang đậm bản sắc Nam Bộ: bình dân, tếu táo nhưng ẩn chứa trí tuệ sâu sắc và nguồn tài liệu lịch sử phong phú.

Nhà văn Sơn Nam từng viết:
"Những gì ông viết ra như trăng trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn 'tào lao', 'loạn xà ngầu', nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ."

Học giả Nguyễn Hiến Lê đánh giá:
"Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại – mặc dù là hấp tấp trong sự trình bày – vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi..."

Di sản, "Vân Đường Phủ" và Thực trạng

. Ngôi nhà của ông tại số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh, TP.HCM (thường gọi là Vân Đường Phủ) do chính ông cất công sưu tầm từng bộ khung nhà cổ từ vùng ven Sài Gòn đem về dựng lại. Ngôi nhà chứa đựng nhiều cấu trúc gỗ quý có tuổi đời hàng trăm năm.
. Trước khi qua đời vào ngày 9 tháng 12 năm 1996 (thọ 94 tuổi), ông đã nguyện hiến tặng toàn bộ 849 cổ vật cùng ngôi nhà Vân Đường Phủ cho Nhà nước với mong muốn thành lập một Bảo tàng mang tên Vương Hồng Sển.

Thực trạng di sản:

. Cổ vật: Ngay sau khi ông mất, toàn bộ số cổ vật đã được cơ quan quản lý chuyển về lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM để bảo quản.
. Ngôi nhà cổ: Ngày 5 tháng 8 năm 2003, UBND TP.HCM đã ra quyết định xếp hạng Vân Đường Phủ là Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống cấp Thành phố. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài, do công tác bảo tồn chưa kịp thời và những vướng mắc về tranh chấp giải tỏa/sử dụng, di tích này từng rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng và bị trưng dụng làm dịch vụ buôn bán, khiến dự án "Bảo tàng Vương Hồng Sển" gặp nhiều trắc trở.

XInnPUP.jpeg


Vương Hồng Sển để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ, được xem là cẩm nang cho bất kỳ ai muốn nghiên cứu về văn hóa - lịch sử Nam Bộ:
Sài Gòn năm xưa (1960) – Tác phẩm kinh điển về lịch sử và đời sống Sài Gòn xưa.
Thú chơi sách (1960)
Thú chơi cổ ngoạn (1971)
Phong lưu cũ mới (1970)
Hồi ký (1993)
Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993) – Công trình khảo cứu ngôn ngữ Nam Bộ vô cùng giá trị.
….
—————

Trích: Sài Gòn năm xưa- Vương Hồng Sển
Phần 1
Nhắc lại cuộc Nam tiến vĩ đại của dân Việt
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
Đến bây giờ, còn phân phân bất nhứt: các học giả vẫn bàn cãi không thôi chung quanh hai tiếng “Sài" "Gòn", chẳng biết từ đâu, bởi đâu mà có. Kẻ nói vầy, người nói khác, không ai chịu ai. Tranh luận mãi càng thêm rối trí, không bổ ích vào đâu. Một điều an ủi chung cho hạng gàn như tôi là chính trong tập khảo cứu năm 1885, nhà bác học uyên thâm trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, cũng tỏ ra bối rối như ai!
*
Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc "Sài Gòn" của người Việt, chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:
Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại công cuộc Nam tiến không ngừng của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:
- 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi được ách Bắc thuộc, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở cõi Nam.
- 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị
- 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi bờ thêm hai châu Ô Lý (Thừa Thiên);
- 1425, đến Thuận Hoá
- 1471, đến Quy Nhơn
- 1611, đến Phú Yên
- 1653, đến Nha Trang
- 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều đình Huế
- 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng Đồng Nai
- 1693, đến Phan Thiết
- 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn)
- 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên.
- 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang, dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn hiến một thời:
- 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.

Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm lòng lịch sử nước nhà.

Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn), từ ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là
trấn an biên thuỳ, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình.

Nhơn thế, một chức quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu
thuế…). Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thuỷ Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an ninh.
Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần, những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp "tàm thực" ấy mà mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tận mũi Cà Mau. Sự bành trướng nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng…..”
 
Sửa lần cuối:
. Năm 1924 Vương Hồng Sển cưới một tiểu thơ, tên Trần Thị Thố nhưng chỉ hai năm sau hai người ly dị. Lý do duy nhất: ông chồng quá mê sách và đồ cổ.

Năm 1927 ông cưới bà vợ thứ hai, tên Dương Thị Tuyết, con gái ông Phủ Lê Văn An. Khi ông bà Phủ An từ trần, để lại một gia tài đồ sộ cho vợ chồng Vương Hồng Sển. Ông tâm sự:

“… cũng vì có tiền nhiều nên nhơn tâm biến đổi. Sau mười chín năm từ 1927 đến 1946, vợ chồng ăn ở với nhau như bát nước đầy. Bỗng vợ tôi ôm cầm sang thuyền khác. Cô ôm một lô hột xoàn, bỏ tôi với mớ đồ cổ cô cho là vô dụng, chén bát cũ và sách rách bìa xác xơ như chủ nó”.

Năm 1947, Vương Hồng Sển ôm mối hận bỏ Sóc Trăng lên Sài Gòn, trong bụng “nuôi mộng trả thù”. Nhưng thù chưa trả được thì lại “đụng” cô Năm Sa Đéc:

“Năm ở một chòi lá, mướn mỗi tháng 3 đồng; tôi thì không nhà lại thêm tánh quân tử Tàu, nên cũng chẳng có gì... Rồi Năm sanh một trai, cha già con muộn, tôi mừng quá. Hai nỗi khổ gặp nhau. Tôi làm khai sanh và giao kết với nhau: còn thương thì ở, hết thương thì đường ai nấy đi, không có gì bận bịu, cũng không nhắc đến việc gì khác ngoài cái nghĩa tào khang.

Tháng 6/1948, có bố ráp tại xóm Cù Lao, lính Tây bắt cả xóm ra ngồi ngoài sân. Cũng may, tai qua nạn khỏi và cũng nhờ cuộc bố ráp này, ông xin được Sở Canh nông cho phép cất một căn nhà lá tạm, ở đến năm 1953 mới dọn đi. Ông kể lại: “Nơi đây là hạnh phúc nhứt trong đời tôi. Vừa còn trẻ, thêm sanh đứa con trai duy nhứt, đặt tên là Vương Hồng Bảo”.

Sống với nhau hơn 40 năm, ông Vương Hồng Sển khóc trong lúc vợ lâm chung:

“Năm ơi! Năm cũng nên xét lại mà bỏ qua những lỗi lầm của anh, để trong giờ phút sắp tiễn biệt em, đôi ta kẻ âm người dương gian, xin em tha thứ để anh vơi bớt nỗi khổ tâm”.

Ông còn làm bài thơ “Khóc em Năm Sadec”, trong đó có chữ “Sóc Sa” với hàm ý Sóc Trăng và Sa Đéc, nơi “chôn nhau cắt rún” của hai người:

“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò,
Chén cơm Bà Chiểu, con đò Sóc Sa”.

Đó là mối tình già của một kẻ “50 năm mê cải lương” với cô đào hát Năm Sa Đéc. Soạn giả cải lương Nguyễn Phương kể lại:

“Ông Vương Hồng Sển trong những dịp trà dư tửu hậu, kể những kỷ niệm sau khi người vợ thứ hai của ông là bà Dương Thị Tuyết bỏ ông, rồi lấy cái hộp sắt đựng 360 viên hột xoàn từ 3 đến 4 ly của bà Phủ An cho hai vợ chồng ông hưởng gia tài để sang thuyền khác với ông bạn Hà Văn Thân. Ông Sển ra tòa ly dị với bà Tuyết xong nên về Saigon ở để kiếm việc làm.

Ông ở nhờ nhà của bà Hai Hẩu ở đường Aviateur Garros tức đường Thủ Khoa Huân và ông được nhận cho làm việc ở Viện Bảo Tàng trong Thảo Cầm Viên năm 1948, ăn lương công nhựt, mỗi tháng 1.173 đồng. Vương Hồng Sển kể lại cơ duyên gặp gỡ Bà Năm Sa Đéc:

“Tôi quen biết Năm năm 1943, khi đoàn hát Phụng Hảo hát ở Sóc Trăng. Nhà tôi rộng rãi nên tôi rước anh chị em đào kép về nhà tôi ở. Lúc đó có chị Bảy Phùng Há, vợ chồng anh Tư Út (Phạm Văn Đẩu và vợ là Sáu Ngỗng), cô Kim Thoa, cô Tư Thanh Tùng, cô Sáu Ngọc Sương, cô Tường Vi, anh Hai Tiền và Năm đây…

“Tôi làm công chức, đứng bàn ông chánh tỉnh trưởng Tây nên ở Sadec, tôi cũng thuộc về hạng có máu mặt. Tôi mê coi hát bội, hát cải lương hồi còn đi học trường Tây, giờ đây được dịp gần gũi chuyện trò với những anh chị đào kép hát mà tôi qúy mến thì còn gì thích cho bằng? Bởi vậy trong nhà tôi cứ ba ngày có một tiệc lớn, bảy ngày có tiệc nhỏ theo kiểu Tào Tháo chiêu đãi Quan Vân Trường, Tam nhật đại yến, thất nhật tiểu yến… tôi thật sự mến mộ đặc biệt với Năm đây…

“Lúc Năm hát bội thì được giới hát bội nhà nghề đánh giá là thuộc về nhóm Ngũ Châu tức là năm viên ngọc quý: Đó là các cô Năm Đồ, cô Cao Long Ngà, cô Ba Út, cô Hai Nhỏ và cô Năm Sadec đây (hồi hát bội có nghệ danh là Năm Nhỏ). Khi qua lãnh vực hát cải lương thì Năm đây đổi nghệ danh là Năm Sadec, Năm cũng được báo chí và khán giả khen tặng là tài danh thinh sắc lưỡng toàn. Tôi chú ý tới Năm là vì lúc đó Năm vừa đẹp, vừa hát hay mà lại là con người chịu khó làm lụng chuyên cần.

“Mỗi khi tôi bày cuộc tiệc ăn nhậu cho các bạn đào kép thì Năm là người đầu tiên xăn tay áo nhào vô lo việc bếp núc. Khi cuộc tiệc tàn thì Năm xăn tay áo lo thu dọn, rửa chén bát, quét nhà, dọn dẹp như chính là cái nhà của Năm. Lúc đó thì con vợ của tôi, bà Tuyết đó, bả lo đi đậu chến, đi từ sáng tới tối mịt, đứt chến mới mò về, nhà cửa bất biết, thằng chồng no hay đói cũng không hỏi han tới… tôi thương vợ tôi thiệt nhưng mà sao trong lòng hỏng thấy quý bà ta như quý em Năm…
(hết trích)

Qua lời kể lại của soạn giả Nguyễn Phương, Vương Hồng Sển tâm sự về hoàn cảnh của cả hai, một kẻ thì mê cải lương và một người là đào hát:

“Lúc đó, cái năm 1947, tui buồn cho cái thân tui bị vợ cặm sừng, nó bỏ tui… Cái tự ái của thằng đàn ông, tính hỏng thèm lấy vợ nữa… Còn bả thì bả bị thằng chồng nó theo con vợ bé, nó cũng bỏ bả… Tui thì ra tòa chờ tòa tuyên bố cho ly dị, còn bả khi có chồng thì hồi đó nghệ sĩ đâu có làm hôn thơ giá thú chi cho nó tốn tiền mà lại giấy tờ rắc rối. Bởi vậy khi thằng chồng nó quất ngựa chuối truy phong thì cô vợ xách rương ôm trấp kiếm chỗ khác mà sống. Bởi vậy bả hận đàn ông, còn tui hận đàn bà…”

“Rồi thì trời xui đất khiến, cái đêm tôi đi coi hát bội gánh Tấn Thành Ban hát ở chùa Dọn Bàn, Dakao, bỗng nhiên tôi gặp lại em Năm trong vai Lữ Phụng Tiên… Khi nghe em hát… Giỏ lá vai mang nhè nhẹ, em xuống giọng “thoàng”… tôi nghe thiệt là mê man trong dạ. Vãn hát rồi tôi chưa chịu về, còn nấn ná ở cửa hậu trường để gặp Năm khen mấy tiếng thì mới đành bụng.

“Ai ngờ gặp nhau, nói đủ thứ chuyện, tôi dắt chiếc xe đạp, dẫn bộ theo em lại cầu Mac Mahon, em nói em ở xóm Cù Lao nằm bên nầy đường Võ Di Nguy. Đêm đó tôi nhất quyết đi theo cho biết nhà em ở đâu và trong bụng cũng tính khi có dịp thuận tiện thì sẽ lại mời em xuống Chợ Cũ lại tiệm Cao Lâu ăn một bữa cơm Tàu.
(hết trích)

Thế rồi Vương Hồng Sển cũng mò tới xóm Cù Lao. Xui cho ông gặp đúng lúc “mã tà” bao vây cả xóm để xét giấy tờ. Chỉ huy nhóm lính nầy là một thiếu úy người Pháp và hai thằng “xét dăng” (sergent). Cũng nhờ nói tiếng Tây rốp rốp, ông bỗng thành thông dịch viên tình nguyện. Nhờ trong xóm có người “có học”, biết tiếng Pháp, nên lính chỉ xét qua loa rồi bỏ đi.

“Đã gần 12 giờ khuya, giới nghiêm rồi làm sao mà về nhà đây… Năm cũng biết vậy nên biểu tôi vô nhà ngủ, sáng sớm sẽ về. Mà trong nhà chỉ có một chiếc chõng tre một người nằm, tôi ngủ chung trên chõng đó sao được. Bởi vậy tôi kiếm giấy nhựt trình trải dưới đất, tính dọn một chỗ để ngã lưng qua đêm. Ai dè Năm cười cười: “Bộ tính ngủ ở dưới nền đất thiệt sao? Ngủ như vậy, tới sáng thì bịnh đó”

- Thì cũng ráng chịu, bụng làm dạ chịu, đâu có than van… Tôi trải giấy nhựt trình xong, sửa soạn nằm xuống.

- Năm nói: “Nè, hỏi thiệt, anh có thương tui hông? Có muốn thiệt tâm làm vợ làm chồng với tui hông? Nói thiệt đi…

- Thiệt tình tôi thương Năm, tôi thề…

- Khỏi thề! Lên giường đây ngủ. Anh đàng hoàng hay không đàng hoàng, tui biết liền…”
[...]
 
Sửa lần cuối:
"Hơn nửa đời, biết làm sao mà định? Bốn mươi năm mươi cũng được, quá sáu bảy mươi cũng biết đâu chừng? Thôi thì để đó, khi đập nắp quan sẽ hiểu.
Chuyện tôi viết, bắt đầu từ năm sanh (1902) đến năm đi dạy học ở Huế về (1967), thấy nhộn quá nên ở nhà, chớ dư sức hoạt động. Con đường đã trải, cũng dài khá bộn, kể tuổi đầu cho đến nay đã trên bảy mươi, như vậy lẽ đáng nên gọi, nếu mai nầy chết, là “trọn một đời hư”, mới phải.
Như con bạc trúng một canh bài về khuya, đủ gỡ vốn lời, vì “nên” được vào mấy ngày chót vậy xin cho tôi ghi “Hơn nửa đời hư” làm nhan sách.
Tưởng “viết để lại cho con là Bảo” nhưng nay in thành sách có nhiều mắt cùng xem, như vậy “Hơn nửa đời hư” là phải.
Ngoài trời mưa, đêm vẫn lạnh. Gió mướt tỉ tê, mắt già mi ướt. Tôi chuốc đôi hài nhung, mặc thêm một lớp áo ấm, lại ngồi bàn viết:
“Đêm nay gió bấc mưa dầm,
Đèn khuya một bóng, bóng lầm với đêm”
Dưới Mái Tây, ngọn đèn điện cứ reo vui với mấy con thiêu thân tự sát. Song cửa mờ sương che mất khu phố mấy từng cao.

[...]

"Tôi khoác thêm áo ấm, kéo ghế tránh bóng đèn, đêm nay nguyện thức viết cho thật nhiều, kể lại cuộc đời đã qua, lưu lại cho vợ hiền con thơ được biết.
Ô hô? Tuổi chẳng chờ ta...
Tôi nghe nhiều người phàn nàn, cho rằng không hơi đâu nhắc lại chuyện cũ. Cái gì đã qua, hãy để cho nó qua. Hãy nhìn tới tương lai mới phải.
Tương lai! Tương lai! Cách nay ba chục năm, tôi cũng say mê về tương lai, về ngày mai sẽ đến. Nhưng trải qua nhiều biến cố, từ năm 1945 cho đến nay, tuổi mòn chồng chất, tuy chưa đến độ chồn chân mỏi gối, tuy vẫn còn đi bộ hàng cây số không mệt, ngồi đánh máy suốt ngày không đau lưng, nhưng quay đầu ngó lại buổi đã qua, mới thấy cái hay của dĩ vãng.
Đời vẫn không cay nghiệt gì với tôi. Tôi phải biết ghi ân rằng đời đã dành riêng cho tôi khá nhiều hạnh phúc. Nhưng khi ai kia nhắc đến buổi tương lai, bỗng khiến tôi lại bùi ngùi lo sợ. Bất giác tôi lại hồi tường tới chuyện đâu đâu. Tôi đã hết trông cậy vào tương lai, và nếu phải ước mong, hoạ là gởi hết vào cái đầu non và mớ tóc xanh của trẻ đang say giấc nồng bên cạnh.

Xin ơn trên ban tôi thêm vài tuổi, có thì giờ đủ thấy đứa trẻ nên người."

(Hơn nửa đời hư-VHS)
 
Sửa lần cuối:
[...]

Đời vẫn không cay nghiệt gì với tôi. Tôi phải biết ghi ân rằng đời đã dành riêng cho tôi khá nhiều hạnh phúc. Nhưng khi ai kia nhắc đến buổi tương lai, bỗng khiến tôi lại bùi ngùi lo sợ. Bất giác tôi lại hồi tường tới chuyện đâu đâu. Tôi đã hết trông cậy vào tương lai, và nếu phải ước mong, hoạ là gởi hết vào cái đầu non và mớ tóc xanh của trẻ đang say giấc nồng bên cạnh.

Xin ơn trên ban tôi thêm vài tuổi, có thì giờ đủ thấy đứa trẻ nên người."

(Hơn nửa đời hư-VHS)
 
Top