Vương Hồng Sển (1902–1996)
Tên thật: Vương Hồng Thạnh (hay Vương Hồng Thịnh), sinh ra tại Sóc Trăng, ông mang trong mình 3 dòng máu: Kinh, Hoa và Khmer.
Nguồn gốc tên "Sển": Do sự nhầm lẫn của viên chức giữ sổ lục bộ thời bấy giờ khi ghi chép tên ông theo cách phát âm tiếng Triều Châu của địa phương, từ "Thạnh/Thịnh" biến thành "Sển".
Thời trẻ, ông theo học tại trường Collège Chasseloup-Laubat (trường THPT Lê Quí Đôn ngày nay). Sau khi đỗ bằng Brevet Élémentaire (Tương đương với bậc tiểu học nâng cao hoặc sơ cấp cơ sở trong hệ thống giáo dục cũ), ông bước vào ngạch thư ký công chức và làm việc qua nhiều đơn vị từ năm 1923 đến 1943, trong đó có khoảng thời gian phục vụ tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939–1943).
Sự nghiệp của Vương Hồng Sển gắn liền với vùng đất Nam Bộ và niềm say mê cổ vật diệu kỳ. Ông được giới sử học và khảo cổ đánh giá là một "kho tàng sống" về văn hóa và lịch sử miền Nam.
. Giai đoạn 1948–1964: Ông đảm nhiệm vị trí Quyền Quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi nghỉ hưu.
. Bộ sưu tập cổ vật: Ông dành trọn đời mình để sưu tầm hơn 800 (chính xác là 849) cổ vật quý giá. Đáng chú ý nhất là các bộ sứ gốm cổ men xanh trắng (đồ lam) thuộc thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Ông đóng góp công sức to lớn trong việc định danh, xác định niên đại, phân loại gốm sứ và truyền dạy kinh nghiệm chơi đồ cổ cho thế hệ sau.
. Nghiên cứu văn hóa dân gian: Ngoài đồ cổ, ông còn nghiên cứu sâu sắc về nghệ thuật Hát bội, Cải lương, các trò chơi dân gian Nam Bộ (đá dế, chọi gà, chọi cá, chơi chim, trồng kiểng) cũng như tiếu lâm dân gian.
Văn phong của Vương Hồng Sển mang đậm bản sắc Nam Bộ: bình dân, tếu táo nhưng ẩn chứa trí tuệ sâu sắc và nguồn tài liệu lịch sử phong phú.
Nhà văn Sơn Nam từng viết:
"Những gì ông viết ra như trăng trối, có khi chỉ là chuyện lụn vụn 'tào lao', 'loạn xà ngầu', nhưng với những người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, nó chất chứa những niềm say mê và quyến rũ."
Học giả Nguyễn Hiến Lê đánh giá:
"Chúng ta nên cảm ơn ông đã ghi lại – mặc dù là hấp tấp trong sự trình bày – vô số tài liệu mà trong mấy chục năm, ông đã tốn công đạp xe máy đi sưu tầm khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng lân cận. Về nhà cân nhắc chọn lựa với tinh thần thận trọng đáng khen: chỗ nào chưa đủ chứng cớ thì tồn nghi..."
Di sản, "Vân Đường Phủ" và Thực trạng
. Ngôi nhà của ông tại số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh, TP.HCM (thường gọi là Vân Đường Phủ) do chính ông cất công sưu tầm từng bộ khung nhà cổ từ vùng ven Sài Gòn đem về dựng lại. Ngôi nhà chứa đựng nhiều cấu trúc gỗ quý có tuổi đời hàng trăm năm.
. Trước khi qua đời vào ngày 9 tháng 12 năm 1996 (thọ 94 tuổi), ông đã nguyện hiến tặng toàn bộ 849 cổ vật cùng ngôi nhà Vân Đường Phủ cho Nhà nước với mong muốn thành lập một Bảo tàng mang tên Vương Hồng Sển.
Thực trạng di sản:
. Cổ vật: Ngay sau khi ông mất, toàn bộ số cổ vật đã được cơ quan quản lý chuyển về lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM để bảo quản.
. Ngôi nhà cổ: Ngày 5 tháng 8 năm 2003, UBND TP.HCM đã ra quyết định xếp hạng Vân Đường Phủ là Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ dân dụng truyền thống cấp Thành phố. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài, do công tác bảo tồn chưa kịp thời và những vướng mắc về tranh chấp giải tỏa/sử dụng, di tích này từng rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng và bị trưng dụng làm dịch vụ buôn bán, khiến dự án "Bảo tàng Vương Hồng Sển" gặp nhiều trắc trở.
Vương Hồng Sển để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ, được xem là cẩm nang cho bất kỳ ai muốn nghiên cứu về văn hóa - lịch sử Nam Bộ:
Sài Gòn năm xưa (1960) – Tác phẩm kinh điển về lịch sử và đời sống Sài Gòn xưa.
Thú chơi sách (1960)
Thú chơi cổ ngoạn (1971)
Phong lưu cũ mới (1970)
Hồi ký (1993)
Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993) – Công trình khảo cứu ngôn ngữ Nam Bộ vô cùng giá trị.
….
—————
Trích: Sài Gòn năm xưa- Vương Hồng Sển
Phần 1
Nhắc lại cuộc Nam tiến vĩ đại của dân Việt
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
Đến bây giờ, còn phân phân bất nhứt: các học giả vẫn bàn cãi không thôi chung quanh hai tiếng “Sài" "Gòn", chẳng biết từ đâu, bởi đâu mà có. Kẻ nói vầy, người nói khác, không ai chịu ai. Tranh luận mãi càng thêm rối trí, không bổ ích vào đâu. Một điều an ủi chung cho hạng gàn như tôi là chính trong tập khảo cứu năm 1885, nhà bác học uyên thâm trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, cũng tỏ ra bối rối như ai!
*
Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc "Sài Gòn" của người Việt, chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:
Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại công cuộc Nam tiến không ngừng của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:
- 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi được ách Bắc thuộc, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở cõi Nam.
- 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị
- 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi bờ thêm hai châu Ô Lý (Thừa Thiên);
- 1425, đến Thuận Hoá
- 1471, đến Quy Nhơn
- 1611, đến Phú Yên
- 1653, đến Nha Trang
- 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều đình Huế
- 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng Đồng Nai
- 1693, đến Phan Thiết
- 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn)
- 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên.
- 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang, dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn hiến một thời:
- 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.
Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm lòng lịch sử nước nhà.
Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn), từ ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là
trấn an biên thuỳ, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình.
Nhơn thế, một chức quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu
thuế…). Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thuỷ Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an ninh.
Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần, những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp "tàm thực" ấy mà mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tận mũi Cà Mau. Sự bành trướng nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng…..”
Sửa lần cuối: