congarung1988
Gió lạnh đầu buồi
Hôm nay tao rảnh lone, lại lên đây xàm tiếp với anh em. Quan điểm cá nhân, anh em trao đổi văn minh lịch sự
Truyện Hùng Vương
Lịch sử là những gì đã xảy ra được người đời sau truyền tụng lại hoặc ghi chép vào sử sách. Tuy nhiên đôi khi đó cũng là những gì sử quan thêu dệt nên nhằm mục đích chính trị. Bởi ý chí chủ quan của giai cấp thống trị cầm quyền nên nhiều câu chuyện được tạo ra đưa vào sử sách với dụng ý khác nhau. Một trong số đó là truyện vua Hùng
Vì sao nhà cầm quyền thời Hậu Lê cần có 1 ông vua Hùng
Năm 938, Ngô Quyền – ông tướng trấn giữ địa phương (Ái Châu) của Dương Đình Nghệ đem quân ra bắc đánh bại quân Nam Hán của Lưu Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng. Mở ra giai đoạn người Việt ở phương Nam thoát khỏi sự lệ thuộc của người phương bắc. Tuy nhiên cái tính cách xứ tự trị chưa thể bỏ được hết thay vì tính chất một quốc gia tự chủ hoàn toàn. Dù các vua Ngô, Đinh, Lê thậm chí là Lý, Trần - người xưng vương người xưng đế, nhưng vẫn làm chủ quốc gia theo cách của 1 ông “vua con trong làng” ngăn cách với mẫu quốc hơn là “đấng cầm quyền toàn trị” của một đất nước độc lập hoàn toàn.
Điều này dựa trên sự áp đảo tuyệt đối của mẫu quốc về hệ thống tư tưởng cai trị hay mô hình nhà nước “nho giáo”, hệ thống tôn giáo “phật giáo đại thừa” hay “đạo giáo”, hệ thống chữ viết “hán tự” hay còn gọi là chữ nho, hệ thống ngoại thương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung Hoa. Ngoài ra các dấu vết về gốc gác Trung Hoa của các dòng họ hoàng gia (Tiền) Lê, Lý, Trần,…ít nhiều còn sâu đậm, ảnh hưởng của những người Hán mới đến VN thời Tùy, Đường còn rất sâu sắc (biểu hiện của các ông sứ quân thời Đinh – mà bản chất là các thủ lĩnh địa phương…) nên các ông vua giai đoạn tiền kỳ của nhà Hậu Lê đều chưa mang một sắc thái đúng nghĩa là vua của một quốc gia độc lập, tự chủ. Bằng cớ nữa là việc các vua nhà Lý, Trần đều xin vua Tàu vương hiệu, thậm chí còn cảm thấy vui mừng khi được phong là quốc vương thay vì quận vương (Lý Anh Tông).
Việc các vua nhà Lý, Trần có xây đàn xã tắc, đàn viên khâu để tế trời nhưng thực tế chưa từng tế. Thậm chí vua Lý còn mang các hòn đá mang dáng dấp sinh thực khí để xin mưa, chứ k phải nhờ đến ông cha – Thiên, Thượng đế để xin mưa. Vua Lý – Nhân Tông, Thần Tông, Anh tông đều sợ Sét. Điều đó cho thấy sự cô lập và nhỏ bé về tư tưởng của các vua Lý, Trần về trước các đấng siêu nhiên. Họ chưa sẵn sang để làm đúng vai trò của một vị vua như các vua TQ đối với thần dân, đất nước và láng giềng.
Năm 1427, Lê Lợi đánh bại Liễu Thắng, bức Vương Thông ra hàng. Nhà Lê thành lập. Việc đất nước mới hình thành sau 20 năm đô hộ ở mức hủy diệt của người Minh về chính trị, văn hóa…cùng với việc tầng lớp lãnh đạo mới từ vùng xứ mường Thanh Hóa ra Đông Kinh dẫn tới việc ngắt đi sự kết nối của tầng lớp tinh hoa cũ với mẫu quốc, cũng như việc nhà nước phong kiến mới tập trung hoàn toàn trên nền tảng văn hóa nho giáo thay vì Phật giáo và trọng dụng nho sinh khiến cho một nhu cầu bức thiết đc lập nên – Tạo ra một dân tộc độc lập hoàn toàn trên mảnh đất phương Nam. Và các sử quan đã tạo ra một vị như vậy cho nhu cầu chính trị của các vua chúa – HÙNG VƯƠNG
Lịch sử cổ đại của VN bắt đầu từ đâu dựa trên Sử tịch trước thời Lê sơ?
Dưới thời kỳ độc lập, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, nhà nước độc lập đều không có chính sử. Thời Lý có nhắc đến 1 cuốn sách có tên “Sử ký” của Đỗ Thiện mà một số phần được chép lại trong 1 vài cuốn sách về sau như “Việt điện U linh tập”. Tuy nhiên Việt điện u linh tập hay lĩnh nam chính quái k thể coi là sách lịch sử vì nó viết về thần linh hay quái dĩ.
Cuốn sử đầu tiên mà Việt Nam có và đến nay còn lưu giữ được – đáng tiếc thay lại là của Lê Tắc – phản thần tặc tử của Trần Triều. Cuốn An Nam chí lược. tuy nhiên gạt bỏ yếu tố phỉ báng tổ quốc, An Nam chí lược lại là cuốn sách xưa nhất còn tồn tại đến ngày nay về nước ta.
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép xưa nhất là chuyện Việt thường hiến trĩ trắng và nhà Tần lập giao chỉ về sau làm tượng quận. Tuy nhiên việc kéo Việt thường về đất Giao Chỉ (Bắc bộ) là việc làm rất khiên cưỡng của sử quan đời sau. Còn Tượng quận cũng đã được chứng minh k phải là đất Giao chỉ.
Tiếp đến là giai đoạn Triệu Đà. Giống như nhiều sử gia về sau đến trước Ngô Thì Sỹ (việt sử tiêu án), Lê Tắc coi triệu đà là vua của Việt Nam – xưng tụng triệu vũ đế. Nếu bỏ qua định kiến hẹp hòi rằng đất đai nước Việt chỉ gói gọn ở Bắc Bộ đổ về nam mà coi Việt nam là di duệ cuối cùng của bách việt mà đất đai kéo dài tới sông Dương tử thì có thể hoàn toàn chấp nhận được điều này.
Sau An Nam chí lược, Lê văn hưu có viết Đại việt sử ký toàn thư. Cuốn sách này nay không còn nhưng ít nhất đến đời Lê, nhiều phần vẫn được Ngô Sĩ Liên trích lại trong “Đại việt sử ký toàn thư”, chứng tỏ rằng đến thời Lê sơ, sử gia trong sử quán vẫn còn cuốn sách đó, và nó đã sống sót qua lần diệt chủng văn hóa của nhà Minh. Đại việt sử ký cũng được Lê văn hưu chép từ thời Triệu Đà. Như vậy có thể nói trước thời Lê sơ lịch sử Vn được bắt đầu từ kỷ triệu đà. Việc chép Hùng vương vào sử được bắt đầu từ thời nhà Hậu Lê
Đến đây có thể đặt ra câu hỏi vì sao chính sử lại k chép về Hùng vương? Vì sau hơn nghìn năm người ta đã quên mất nó hay chỉ đơn giản là nó chưa từng tồn tại
Giống như một số nhà sử học không chính thống, người viết cho rằng vế thứ hai chuẩn xác hơn. Người ta không thể tự nhiên quên một giai đoạn dài như vậy mà đột nhiên nhớ đến. Vậy thì như phần trước đã nói, người ta sinh ra một giai đoạn như vậy để tách biệt gốc gác dân tộc phương Nam với mẫu quốc cũ và để chứng minh sự tự chủ của mình với đế quốc phương bắc

Truyện Hùng Vương
Lịch sử là những gì đã xảy ra được người đời sau truyền tụng lại hoặc ghi chép vào sử sách. Tuy nhiên đôi khi đó cũng là những gì sử quan thêu dệt nên nhằm mục đích chính trị. Bởi ý chí chủ quan của giai cấp thống trị cầm quyền nên nhiều câu chuyện được tạo ra đưa vào sử sách với dụng ý khác nhau. Một trong số đó là truyện vua Hùng
Vì sao nhà cầm quyền thời Hậu Lê cần có 1 ông vua Hùng
Năm 938, Ngô Quyền – ông tướng trấn giữ địa phương (Ái Châu) của Dương Đình Nghệ đem quân ra bắc đánh bại quân Nam Hán của Lưu Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng. Mở ra giai đoạn người Việt ở phương Nam thoát khỏi sự lệ thuộc của người phương bắc. Tuy nhiên cái tính cách xứ tự trị chưa thể bỏ được hết thay vì tính chất một quốc gia tự chủ hoàn toàn. Dù các vua Ngô, Đinh, Lê thậm chí là Lý, Trần - người xưng vương người xưng đế, nhưng vẫn làm chủ quốc gia theo cách của 1 ông “vua con trong làng” ngăn cách với mẫu quốc hơn là “đấng cầm quyền toàn trị” của một đất nước độc lập hoàn toàn.
Điều này dựa trên sự áp đảo tuyệt đối của mẫu quốc về hệ thống tư tưởng cai trị hay mô hình nhà nước “nho giáo”, hệ thống tôn giáo “phật giáo đại thừa” hay “đạo giáo”, hệ thống chữ viết “hán tự” hay còn gọi là chữ nho, hệ thống ngoại thương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung Hoa. Ngoài ra các dấu vết về gốc gác Trung Hoa của các dòng họ hoàng gia (Tiền) Lê, Lý, Trần,…ít nhiều còn sâu đậm, ảnh hưởng của những người Hán mới đến VN thời Tùy, Đường còn rất sâu sắc (biểu hiện của các ông sứ quân thời Đinh – mà bản chất là các thủ lĩnh địa phương…) nên các ông vua giai đoạn tiền kỳ của nhà Hậu Lê đều chưa mang một sắc thái đúng nghĩa là vua của một quốc gia độc lập, tự chủ. Bằng cớ nữa là việc các vua nhà Lý, Trần đều xin vua Tàu vương hiệu, thậm chí còn cảm thấy vui mừng khi được phong là quốc vương thay vì quận vương (Lý Anh Tông).
Việc các vua nhà Lý, Trần có xây đàn xã tắc, đàn viên khâu để tế trời nhưng thực tế chưa từng tế. Thậm chí vua Lý còn mang các hòn đá mang dáng dấp sinh thực khí để xin mưa, chứ k phải nhờ đến ông cha – Thiên, Thượng đế để xin mưa. Vua Lý – Nhân Tông, Thần Tông, Anh tông đều sợ Sét. Điều đó cho thấy sự cô lập và nhỏ bé về tư tưởng của các vua Lý, Trần về trước các đấng siêu nhiên. Họ chưa sẵn sang để làm đúng vai trò của một vị vua như các vua TQ đối với thần dân, đất nước và láng giềng.
Năm 1427, Lê Lợi đánh bại Liễu Thắng, bức Vương Thông ra hàng. Nhà Lê thành lập. Việc đất nước mới hình thành sau 20 năm đô hộ ở mức hủy diệt của người Minh về chính trị, văn hóa…cùng với việc tầng lớp lãnh đạo mới từ vùng xứ mường Thanh Hóa ra Đông Kinh dẫn tới việc ngắt đi sự kết nối của tầng lớp tinh hoa cũ với mẫu quốc, cũng như việc nhà nước phong kiến mới tập trung hoàn toàn trên nền tảng văn hóa nho giáo thay vì Phật giáo và trọng dụng nho sinh khiến cho một nhu cầu bức thiết đc lập nên – Tạo ra một dân tộc độc lập hoàn toàn trên mảnh đất phương Nam. Và các sử quan đã tạo ra một vị như vậy cho nhu cầu chính trị của các vua chúa – HÙNG VƯƠNG
Lịch sử cổ đại của VN bắt đầu từ đâu dựa trên Sử tịch trước thời Lê sơ?
Dưới thời kỳ độc lập, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, nhà nước độc lập đều không có chính sử. Thời Lý có nhắc đến 1 cuốn sách có tên “Sử ký” của Đỗ Thiện mà một số phần được chép lại trong 1 vài cuốn sách về sau như “Việt điện U linh tập”. Tuy nhiên Việt điện u linh tập hay lĩnh nam chính quái k thể coi là sách lịch sử vì nó viết về thần linh hay quái dĩ.
Cuốn sử đầu tiên mà Việt Nam có và đến nay còn lưu giữ được – đáng tiếc thay lại là của Lê Tắc – phản thần tặc tử của Trần Triều. Cuốn An Nam chí lược. tuy nhiên gạt bỏ yếu tố phỉ báng tổ quốc, An Nam chí lược lại là cuốn sách xưa nhất còn tồn tại đến ngày nay về nước ta.
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép xưa nhất là chuyện Việt thường hiến trĩ trắng và nhà Tần lập giao chỉ về sau làm tượng quận. Tuy nhiên việc kéo Việt thường về đất Giao Chỉ (Bắc bộ) là việc làm rất khiên cưỡng của sử quan đời sau. Còn Tượng quận cũng đã được chứng minh k phải là đất Giao chỉ.
Tiếp đến là giai đoạn Triệu Đà. Giống như nhiều sử gia về sau đến trước Ngô Thì Sỹ (việt sử tiêu án), Lê Tắc coi triệu đà là vua của Việt Nam – xưng tụng triệu vũ đế. Nếu bỏ qua định kiến hẹp hòi rằng đất đai nước Việt chỉ gói gọn ở Bắc Bộ đổ về nam mà coi Việt nam là di duệ cuối cùng của bách việt mà đất đai kéo dài tới sông Dương tử thì có thể hoàn toàn chấp nhận được điều này.
Sau An Nam chí lược, Lê văn hưu có viết Đại việt sử ký toàn thư. Cuốn sách này nay không còn nhưng ít nhất đến đời Lê, nhiều phần vẫn được Ngô Sĩ Liên trích lại trong “Đại việt sử ký toàn thư”, chứng tỏ rằng đến thời Lê sơ, sử gia trong sử quán vẫn còn cuốn sách đó, và nó đã sống sót qua lần diệt chủng văn hóa của nhà Minh. Đại việt sử ký cũng được Lê văn hưu chép từ thời Triệu Đà. Như vậy có thể nói trước thời Lê sơ lịch sử Vn được bắt đầu từ kỷ triệu đà. Việc chép Hùng vương vào sử được bắt đầu từ thời nhà Hậu Lê
Đến đây có thể đặt ra câu hỏi vì sao chính sử lại k chép về Hùng vương? Vì sau hơn nghìn năm người ta đã quên mất nó hay chỉ đơn giản là nó chưa từng tồn tại
Giống như một số nhà sử học không chính thống, người viết cho rằng vế thứ hai chuẩn xác hơn. Người ta không thể tự nhiên quên một giai đoạn dài như vậy mà đột nhiên nhớ đến. Vậy thì như phần trước đã nói, người ta sinh ra một giai đoạn như vậy để tách biệt gốc gác dân tộc phương Nam với mẫu quốc cũ và để chứng minh sự tự chủ của mình với đế quốc phương bắc




