Truyện Hùng Vương

congarung1988

Gió lạnh đầu buồi
Hôm nay tao rảnh lone, lại lên đây xàm tiếp với anh em. Quan điểm cá nhân, anh em trao đổi văn minh lịch sự
Truyện Hùng Vương

Lịch sử là những gì đã xảy ra được người đời sau truyền tụng lại hoặc ghi chép vào sử sách. Tuy nhiên đôi khi đó cũng là những gì sử quan thêu dệt nên nhằm mục đích chính trị. Bởi ý chí chủ quan của giai cấp thống trị cầm quyền nên nhiều câu chuyện được tạo ra đưa vào sử sách với dụng ý khác nhau. Một trong số đó là truyện vua Hùng

Vì sao nhà cầm quyền thời Hậu Lê cần có 1 ông vua Hùng
Năm 938, Ngô Quyền – ông tướng trấn giữ địa phương (Ái Châu) của Dương Đình Nghệ đem quân ra bắc đánh bại quân Nam Hán của Lưu Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng. Mở ra giai đoạn người Việt ở phương Nam thoát khỏi sự lệ thuộc của người phương bắc. Tuy nhiên cái tính cách xứ tự trị chưa thể bỏ được hết thay vì tính chất một quốc gia tự chủ hoàn toàn. Dù các vua Ngô, Đinh, Lê thậm chí là Lý, Trần - người xưng vương người xưng đế, nhưng vẫn làm chủ quốc gia theo cách của 1 ông “vua con trong làng” ngăn cách với mẫu quốc hơn là “đấng cầm quyền toàn trị” của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Điều này dựa trên sự áp đảo tuyệt đối của mẫu quốc về hệ thống tư tưởng cai trị hay mô hình nhà nước “nho giáo”, hệ thống tôn giáo “phật giáo đại thừa” hay “đạo giáo”, hệ thống chữ viết “hán tự” hay còn gọi là chữ nho, hệ thống ngoại thương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung Hoa. Ngoài ra các dấu vết về gốc gác Trung Hoa của các dòng họ hoàng gia (Tiền) Lê, Lý, Trần,…ít nhiều còn sâu đậm, ảnh hưởng của những người Hán mới đến VN thời Tùy, Đường còn rất sâu sắc (biểu hiện của các ông sứ quân thời Đinh – mà bản chất là các thủ lĩnh địa phương…) nên các ông vua giai đoạn tiền kỳ của nhà Hậu Lê đều chưa mang một sắc thái đúng nghĩa là vua của một quốc gia độc lập, tự chủ. Bằng cớ nữa là việc các vua nhà Lý, Trần đều xin vua Tàu vương hiệu, thậm chí còn cảm thấy vui mừng khi được phong là quốc vương thay vì quận vương (Lý Anh Tông).

Việc các vua nhà Lý, Trần có xây đàn xã tắc, đàn viên khâu để tế trời nhưng thực tế chưa từng tế. Thậm chí vua Lý còn mang các hòn đá mang dáng dấp sinh thực khí để xin mưa, chứ k phải nhờ đến ông cha – Thiên, Thượng đế để xin mưa. Vua Lý – Nhân Tông, Thần Tông, Anh tông đều sợ Sét. Điều đó cho thấy sự cô lập và nhỏ bé về tư tưởng của các vua Lý, Trần về trước các đấng siêu nhiên. Họ chưa sẵn sang để làm đúng vai trò của một vị vua như các vua TQ đối với thần dân, đất nước và láng giềng.

Năm 1427, Lê Lợi đánh bại Liễu Thắng, bức Vương Thông ra hàng. Nhà Lê thành lập. Việc đất nước mới hình thành sau 20 năm đô hộ ở mức hủy diệt của người Minh về chính trị, văn hóa…cùng với việc tầng lớp lãnh đạo mới từ vùng xứ mường Thanh Hóa ra Đông Kinh dẫn tới việc ngắt đi sự kết nối của tầng lớp tinh hoa cũ với mẫu quốc, cũng như việc nhà nước phong kiến mới tập trung hoàn toàn trên nền tảng văn hóa nho giáo thay vì Phật giáo và trọng dụng nho sinh khiến cho một nhu cầu bức thiết đc lập nên – Tạo ra một dân tộc độc lập hoàn toàn trên mảnh đất phương Nam. Và các sử quan đã tạo ra một vị như vậy cho nhu cầu chính trị của các vua chúa – HÙNG VƯƠNG

Lịch sử cổ đại của VN bắt đầu từ đâu dựa trên Sử tịch trước thời Lê sơ?
Dưới thời kỳ độc lập, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, nhà nước độc lập đều không có chính sử. Thời Lý có nhắc đến 1 cuốn sách có tên “Sử ký” của Đỗ Thiện mà một số phần được chép lại trong 1 vài cuốn sách về sau như “Việt điện U linh tập”. Tuy nhiên Việt điện u linh tập hay lĩnh nam chính quái k thể coi là sách lịch sử vì nó viết về thần linh hay quái dĩ.

Cuốn sử đầu tiên mà Việt Nam có và đến nay còn lưu giữ được – đáng tiếc thay lại là của Lê Tắc – phản thần tặc tử của Trần Triều. Cuốn An Nam chí lược. tuy nhiên gạt bỏ yếu tố phỉ báng tổ quốc, An Nam chí lược lại là cuốn sách xưa nhất còn tồn tại đến ngày nay về nước ta.

Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép xưa nhất là chuyện Việt thường hiến trĩ trắng và nhà Tần lập giao chỉ về sau làm tượng quận. Tuy nhiên việc kéo Việt thường về đất Giao Chỉ (Bắc bộ) là việc làm rất khiên cưỡng của sử quan đời sau. Còn Tượng quận cũng đã được chứng minh k phải là đất Giao chỉ.

Tiếp đến là giai đoạn Triệu Đà. Giống như nhiều sử gia về sau đến trước Ngô Thì Sỹ (việt sử tiêu án), Lê Tắc coi triệu đà là vua của Việt Nam – xưng tụng triệu vũ đế. Nếu bỏ qua định kiến hẹp hòi rằng đất đai nước Việt chỉ gói gọn ở Bắc Bộ đổ về nam mà coi Việt nam là di duệ cuối cùng của bách việt mà đất đai kéo dài tới sông Dương tử thì có thể hoàn toàn chấp nhận được điều này.

Sau An Nam chí lược, Lê văn hưu có viết Đại việt sử ký toàn thư. Cuốn sách này nay không còn nhưng ít nhất đến đời Lê, nhiều phần vẫn được Ngô Sĩ Liên trích lại trong “Đại việt sử ký toàn thư”, chứng tỏ rằng đến thời Lê sơ, sử gia trong sử quán vẫn còn cuốn sách đó, và nó đã sống sót qua lần diệt chủng văn hóa của nhà Minh. Đại việt sử ký cũng được Lê văn hưu chép từ thời Triệu Đà. Như vậy có thể nói trước thời Lê sơ lịch sử Vn được bắt đầu từ kỷ triệu đà. Việc chép Hùng vương vào sử được bắt đầu từ thời nhà Hậu Lê

Đến đây có thể đặt ra câu hỏi vì sao chính sử lại k chép về Hùng vương? Vì sau hơn nghìn năm người ta đã quên mất nó hay chỉ đơn giản là nó chưa từng tồn tại

Giống như một số nhà sử học không chính thống, người viết cho rằng vế thứ hai chuẩn xác hơn. Người ta không thể tự nhiên quên một giai đoạn dài như vậy mà đột nhiên nhớ đến. Vậy thì như phần trước đã nói, người ta sinh ra một giai đoạn như vậy để tách biệt gốc gác dân tộc phương Nam với mẫu quốc cũ và để chứng minh sự tự chủ của mình với đế quốc phương bắc
227723
 
Từ sự hình thành hệ thống Hùng vương…
Không phải ngẫu nhiên có một ông vua Hùng trên trời rơi xuống. Các tài liệu sử học được thêm thắt một cách từ từ và dù không có hệ thống, tuy nhiên vẫn có thể thấy là nó không đột ngột xuất hiện. Những ghi chép trong sử đã có từ rất sớm một cách khá mơ hồ dưới danh xưng có lẽ là chuẩn xác hơn – Lạc Vương.

Giao Châu Ngoại vực ký được dẫn lại trong Thủy Kinh chú có nhắc đến một cuốn sách viết từ thế kỷ thứ 4 là Nam việt ký có chép truyện Nam Việt chí– “Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh.”

Tuy nhiên mấy dòng ngắn ngủi ấy không thể và không nên là bằng cớ cho việc nước Việt từng tồn tại một triều đại (dù là chiếm hữu nô lệ hay liên minh bộ lạc) hoàn chỉnh. Những chứng tích khảo cổ hiện nay cũng không đủ để chứng minh rằng từng có một nhà nước như vậy từng tồn tại ở Việt Nam.

Các cuốn sách đầu tiên có nhắc tới một ông vua Hùng là trong Việt Điện U linh tập (truyện Sơn Tinh). VĐULT k phải là 1 cuốn sử và ở đây dấu ấn về thời gian rất mờ nhạt. Truyện được cho là dựa theo cuốn Giao Châu Ký của Tăng Cổn đời Đường.

Có một sự kiện rất hay là việc nhà Lý và nhà Trần phong thần cho các vị nhiên thần và nhân thần. Các năm 117x - 1285 – 1288… Tuy nhiên họ lại quên phong thần cho các vị “tổ phụ”. Lê Tắc khi sang TQ 1285 cùng năm nhà Trần phong thần, chắc chắn phải biết về “Hùng vương” nếu có nhưng tuyệt nhiên k có một chữ nào đc chép trong An Nam chí lược. Điều này sẽ trở nên dễ hiểu khi thời điểm ấy vị “tổ phụ” kia chưa tồn tại.

Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô đại cáo năm 1427 đã k đả động gì đến Hùng Vương

Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc,

Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương

Nghĩa là thời điểm đó ý thức về Hùng Vương rất mờ nhạt thậm chí là trong ý thức của tập đoàn thống trị

Cuốn Việt Nam thế chí của Hồ tông thốc được xem là cuốn sách đầu tiên có nhắc đến Hùng Vương. Cuốn này hiện tại đã mất tuy nhiên bài đề từ còn được trích lại trong 1 số sách có nhắc đến nó. Cần lưu ý rằng hậu kỳ nhà Trần dù Phật giáo vẫn là quốc giáo nhưng tầng lớp nho sinh đã trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Nhiều người đã tham gia sâu vào trong chính quyền kiểu tông tộc của nhà Trần. Họ k còn là gia nô hay quan lại gia nô nữa mà đã trở thành những vị trọng thần trong triều đình (Chu văn An, Phạm Sư Mạnh, …) Chính tầng lớp mới này dần dần đã thay đổi ít nhiều những nhận thức của hoàng tộc về nhiều vấn đề - mà một trong số những cách đó là sử dụng sách vở. Cuốn Việt Nam thế chí tuy k đc thừa nhận rộng rãi tại thời điểm đó, tuy nhiên lại là nền tảng để nhà Hậu Lê đưa nó vào trong Đại việt sử ký toàn thư.

Dưới thời Lê Thánh Tông khi Ngô Sỹ Liên soạn ĐVSKTT chính thức đưa Hùng Vương vào chính sử nhưng lại chép vào phần ngoại kỷ (Kỷ Hồng Bàng thị). Có lẽ chính những sử quan cũng lờ mờ k tin, k dám tin nhưng vẫn phải viết. Còn chua thêm rằng “như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”. Những tính toán chính trị đã làm cho các sử quan phải bẻ cong ngòi bút.

…Đến việc Hùng Vương trở thành 1 hệ thống Hoàn chỉnh không thể chối cãi
Hùng Vương đã được đưa vào chính sử, nhưng để nó thêm phần thực tế, người ta phải tạo ra những lớp lang đầy màu sắc cho nó.

Ông vua Hùng vương bắt đầu từ lúc nào. Tất nhiên là theo ĐVSKTT là từ thời điểm ông Kinh Dương vương con ông Đế Minh (2879 TCN). Con số này tất không thể tin được. Người ta muốn thêm màu sắc thực tế cho nó chỉ có cách kết nối nó với chính sử Trung Hoa. Bằng cách ghép vào việc Việt thường hiến Trĩ trắng cho Chu Thành Vương (thế kỷ 11 TCN), thì rõ ràng ông Hùng Vương đã trở thành việc không thể nào chối cãi

Tuy nhiên ở đây cần nói rằng việc nước Việt thường qua 9 lần thông ngôn để hiến trĩ trắng cho nhà Chu, được ban xe chỉ nam về và đất Giao Chỉ thời Hán có quan hệ gì hay không thì người viết cho là không. Theo như giải thích của cụ Đào Duy anh trong cổ sử Việt Nam thì Việt thường là đồng âm với Việt Chương. Việt chương sau này trở thành Cú Chương (nơi vua Sở họ Hùng!) ban cho con trai. Đất Cú Chương thời Hán là đất Dự chương. Dự Chương (nay là Nam Xương – Giang Tây) và Giao Chỉ cách nhau cả mấy ngàn cây số, sao lãnh thổ VN vươn tới đó được!

Tiếp nữa, người ta dựa vào các câu chuyện truyền thuyết để gán ghép những người này người kia vào giai đoạn Hùng Vương. Truyện Sơn Tinh thủy tinh tranh nhau cô công chúa Mị nương được ghép vào đời vua Hùng thứ 18. Truyện ông con nuôi Mai An Tiêm được ghép vào đời vua Hùng thứ sáu, thứ bảy. Truyện Sóc thiên vương đánh giặc Ân (?) được ghép vào đời vua Hùng thứ sáu. Truyện ông con trai Lang Liêu được người thần báo mộng giúp làm bánh trưng, bánh giầy đời vua Hùng thứ bảy. Truyện đầm nhất dạ nơi cô con gái vua Hùng theo trái (Chử Đồng tử)… Dù tất cả là truyền thuyết nhưng nó làm cho Hùng Vương trở nên có thực và đáng tin cậy

Nhưng ngay kể cả như thế vẫn có những truyện chép đời sau mà rất đáng suy ngẫm. Lê Quý Đôn cuối thế kỷ 18 chép truyện dân làng Cổ Tích (năm 1705) mua gỗ sửa đền Hùng. Vậy mà bè gỗ bị chìm ở trước cửa đền vì “ ông đại vương nào đó có vợ miền xuôi muốn đoạt”. Sau vị đại vương này thấy có sắc phong của hoàng đế mới buông ra. Rõ ràng dù là “tổ phụ”của dân tộc mà còn bị tranh chấp quyền lực với một ông đại vương chứng tỏ quyền lực của vị tổ phụ này không khác gì một vị thần địa phương (thổ thần, nhiên thần hay thủ lãnh địa phương) được triều đình mang từ quê hương ra Trung ương.

Phụ chú: Xét về nguồn gốc chữ Văn Lang và chữ Hùng Vương.

Xưa ở miền ở đất Quý Châu TQ có đất Dạ Lang (夜郎) cách VN k xa. Chữ Văn Lang (文郎) có mặt chữ rất gần với Dạ Lang, có lẽ do chép nhầm mà thành. Cũng có thuyết nói Văn Lang là viết chệch của hỗn mang. Thuyết này có vẻ k vững lắm

Về danh xưng Hùng Vương. Cụ Đào Duy Anh có nói thuyết về chữ Hùng Vương ntn. Ban đầu Người ta chép Chữ Lạc Vương 駱王 nhầm thành Lạc Vương 雒王 rồi từ Lạc Vương雒王 thành Hùng vương 雄王 (Chính Ngô Sỹ Liên cũng nói chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng, nhưng k rõ vì sao k dám thừa nhận Lạc Vương bị chép nhầm thành Hùng Vương). Người VN đến thời Lý Trần vẫn còn thờ To-tem (Vật tổ) là con giao long thì chắc chắn sơ kỳ đồ đồng, đồ sắt vẫn sẽ thờ vật tổ. Mà vật tổ thời điểm đó là con chim Lạc (Lạc bộ điểu k phải lạc bộ truy) – một giống ngỗng trời. Trong Giao Châu Ngoại vực ký có dẫn lại ở Thủy Kinh chú thì có nhắc đến Lạc Vương 駱王 Lạc Hầu 駱侯 Lạc tướng駱将 Lạc dân駱民. Điều này phù hợp với cách người Hán gọi các dân tộc Man di theo vật tổ hoặc đặc trưng của họ.
 
Sửa lần cuối:
T cảm thấy rất tiếc cho vn, lịch sử hào hùng có, địa linh nhân kiệt có, tiếc là nằm bên cạnh thằng hàng xóm to ễnh nên bị ảnh hưởng nặng nề nhiều cái.
Ngặt nữa tầng lớp lên làm vua toàn nông dân, phu tá điền khởi nghĩa nên tầm nhìn hạn hẹp.
Người có học thức lên làm vua, bề tôi thì lại đọc sách nho giáo, những gì văn hoá phương tây bị khép vô ngoại lai.
Đến tq nó còn biết mở con đường tơ lụa, cảng biển để giao thương học hỏi tụi nước ngoài.
Sự thấm nhuần văn hoá, giáo dục của mẫu quốc khiến vn cứ đinh ninh là phải trung thành chứ ko được cởi mở, tiếp nhận cái mới.
Trong khi tây ban nha, anh quốc, bồ, ba tư,.. nó đã đóng thuyền lớn dong khắp nơi, buồi của nó đóng dấu hết các dân thuộc địa.
 
T cảm thấy rất tiếc cho vn, lịch sử hào hùng có, địa linh nhân kiệt có, tiếc là nằm bên cạnh thằng hàng xóm to ễnh nên bị ảnh hưởng nặng nề nhiều cái.
Ngặt nữa tầng lớp lên làm vua toàn nông dân, phu tá điền khởi nghĩa nên tầm nhìn hạn hẹp.
Người có học thức lên làm vua, bề tôi thì lại đọc sách nho giáo, những gì văn hoá phương tây bị khép vô ngoại lai.
Đến tq nó còn biết mở con đường tơ lụa, cảng biển để giao thương học hỏi tụi nước ngoài.
Sự thấm nhuần văn hoá, giáo dục của mẫu quốc khiến vn cứ đinh ninh là phải trung thành chứ ko được cởi mở, tiếp nhận cái mới.
Trong khi tây ban nha, anh quốc, bồ, ba tư,.. nó đã đóng thuyền lớn dong khắp nơi, buồi của nó đóng dấu hết các dân thuộc địa.
VN mình học TQ cái khép cửa với thế giới. Từ trước đến giờ, mậu dịch từ Vân Đồn đến Hội An đều trong tay người nước ngoài. Đó là 1 phần lý do vì sao người VN tầm thường trong mắt người phương tây
Tuy nhiên Ba Tư, A rập hay Ấn Độ trước sau cũng thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của châu Âu mà mày. Tự tin lên, châu Âu tk 15-19 là một là duy nhất, Lịch sử k bao giờ lặp lại cái đó nữa :D
 
Trên tivi có nhà sử học Dương trung quốc, xàm có nhà sử học con gà rừng 50 kí. Tiếp tục đi bạn ơi
 
Hôm nay tao rảnh lone, lại lên đây xàm tiếp với anh em. Quan điểm cá nhân, anh em trao đổi văn minh lịch sự
Truyện Hùng Vương

Lịch sử là những gì đã xảy ra được người đời sau truyền tụng lại hoặc ghi chép vào sử sách. Tuy nhiên đôi khi đó cũng là những gì sử quan thêu dệt nên nhằm mục đích chính trị. Bởi ý chí chủ quan của giai cấp thống trị cầm quyền nên nhiều câu chuyện được tạo ra đưa vào sử sách với dụng ý khác nhau. Một trong số đó là truyện vua Hùng

Vì sao nhà cầm quyền thời Hậu Lê cần có 1 ông vua Hùng
Năm 938, Ngô Quyền – ông tướng trấn giữ địa phương (Ái Châu) của Dương Đình Nghệ đem quân ra bắc đánh bại quân Nam Hán của Lưu Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng. Mở ra giai đoạn người Việt ở phương Nam thoát khỏi sự lệ thuộc của người phương bắc. Tuy nhiên cái tính cách xứ tự trị chưa thể bỏ được hết thay vì tính chất một quốc gia tự chủ hoàn toàn. Dù các vua Ngô, Đinh, Lê thậm chí là Lý, Trần - người xưng vương người xưng đế, nhưng vẫn làm chủ quốc gia theo cách của 1 ông “vua con trong làng” ngăn cách với mẫu quốc hơn là “đấng cầm quyền toàn trị” của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Điều này dựa trên sự áp đảo tuyệt đối của mẫu quốc về hệ thống tư tưởng cai trị hay mô hình nhà nước “nho giáo”, hệ thống tôn giáo “phật giáo đại thừa” hay “đạo giáo”, hệ thống chữ viết “hán tự” hay còn gọi là chữ nho, hệ thống ngoại thương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung Hoa. Ngoài ra các dấu vết về gốc gác Trung Hoa của các dòng họ hoàng gia (Tiền) Lê, Lý, Trần,…ít nhiều còn sâu đậm, ảnh hưởng của những người Hán mới đến VN thời Tùy, Đường còn rất sâu sắc (biểu hiện của các ông sứ quân thời Đinh – mà bản chất là các thủ lĩnh địa phương…) nên các ông vua giai đoạn tiền kỳ của nhà Hậu Lê đều chưa mang một sắc thái đúng nghĩa là vua của một quốc gia độc lập, tự chủ. Bằng cớ nữa là việc các vua nhà Lý, Trần đều xin vua Tàu vương hiệu, thậm chí còn cảm thấy vui mừng khi được phong là quốc vương thay vì quận vương (Lý Anh Tông).

Việc các vua nhà Lý, Trần có xây đàn xã tắc, đàn viên khâu để tế trời nhưng thực tế chưa từng tế. Thậm chí vua Lý còn mang các hòn đá mang dáng dấp sinh thực khí để xin mưa, chứ k phải nhờ đến ông cha – Thiên, Thượng đế để xin mưa. Vua Lý – Nhân Tông, Thần Tông, Anh tông đều sợ Sét. Điều đó cho thấy sự cô lập và nhỏ bé về tư tưởng của các vua Lý, Trần về trước các đấng siêu nhiên. Họ chưa sẵn sang để làm đúng vai trò của một vị vua như các vua TQ đối với thần dân, đất nước và láng giềng.

Năm 1427, Lê Lợi đánh bại Liễu Thắng, bức Vương Thông ra hàng. Nhà Lê thành lập. Việc đất nước mới hình thành sau 20 năm đô hộ ở mức hủy diệt của người Minh về chính trị, văn hóa…cùng với việc tầng lớp lãnh đạo mới từ vùng xứ mường Thanh Hóa ra Đông Kinh dẫn tới việc ngắt đi sự kết nối của tầng lớp tinh hoa cũ với mẫu quốc, cũng như việc nhà nước phong kiến mới tập trung hoàn toàn trên nền tảng văn hóa nho giáo thay vì Phật giáo và trọng dụng nho sinh khiến cho một nhu cầu bức thiết đc lập nên – Tạo ra một dân tộc độc lập hoàn toàn trên mảnh đất phương Nam. Và các sử quan đã tạo ra một vị như vậy cho nhu cầu chính trị của các vua chúa – HÙNG VƯƠNG

Lịch sử cổ đại của VN bắt đầu từ đâu dựa trên Sử tịch trước thời Lê sơ?
Dưới thời kỳ độc lập, do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo, nhà nước độc lập đều không có chính sử. Thời Lý có nhắc đến 1 cuốn sách có tên “Sử ký” của Đỗ Thiện mà một số phần được chép lại trong 1 vài cuốn sách về sau như “Việt điện U linh tập”. Tuy nhiên Việt điện u linh tập hay lĩnh nam chính quái k thể coi là sách lịch sử vì nó viết về thần linh hay quái dĩ.

Cuốn sử đầu tiên mà Việt Nam có và đến nay còn lưu giữ được – đáng tiếc thay lại là của Lê Tắc – phản thần tặc tử của Trần Triều. Cuốn An Nam chí lược. tuy nhiên gạt bỏ yếu tố phỉ báng tổ quốc, An Nam chí lược lại là cuốn sách xưa nhất còn tồn tại đến ngày nay về nước ta.

Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép xưa nhất là chuyện Việt thường hiến trĩ trắng và nhà Tần lập giao chỉ về sau làm tượng quận. Tuy nhiên việc kéo Việt thường về đất Giao Chỉ (Bắc bộ) là việc làm rất khiên cưỡng của sử quan đời sau. Còn Tượng quận cũng đã được chứng minh k phải là đất Giao chỉ.

Tiếp đến là giai đoạn Triệu Đà. Giống như nhiều sử gia về sau đến trước Ngô Thì Sỹ (việt sử tiêu án), Lê Tắc coi triệu đà là vua của Việt Nam – xưng tụng triệu vũ đế. Nếu bỏ qua định kiến hẹp hòi rằng đất đai nước Việt chỉ gói gọn ở Bắc Bộ đổ về nam mà coi Việt nam là di duệ cuối cùng của bách việt mà đất đai kéo dài tới sông Dương tử thì có thể hoàn toàn chấp nhận được điều này.

Sau An Nam chí lược, Lê văn hưu có viết Đại việt sử ký toàn thư. Cuốn sách này nay không còn nhưng ít nhất đến đời Lê, nhiều phần vẫn được Ngô Sĩ Liên trích lại trong “Đại việt sử ký toàn thư”, chứng tỏ rằng đến thời Lê sơ, sử gia trong sử quán vẫn còn cuốn sách đó, và nó đã sống sót qua lần diệt chủng văn hóa của nhà Minh. Đại việt sử ký cũng được Lê văn hưu chép từ thời Triệu Đà. Như vậy có thể nói trước thời Lê sơ lịch sử Vn được bắt đầu từ kỷ triệu đà. Việc chép Hùng vương vào sử được bắt đầu từ thời nhà Hậu Lê

Đến đây có thể đặt ra câu hỏi vì sao chính sử lại k chép về Hùng vương? Vì sau hơn nghìn năm người ta đã quên mất nó hay chỉ đơn giản là nó chưa từng tồn tại

Giống như một số nhà sử học không chính thống, người viết cho rằng vế thứ hai chuẩn xác hơn. Người ta không thể tự nhiên quên một giai đoạn dài như vậy mà đột nhiên nhớ đến. Vậy thì như phần trước đã nói, người ta sinh ra một giai đoạn như vậy để tách biệt gốc gác dân tộc phương Nam với mẫu quốc cũ và để chứng minh sự tự chủ của mình với đế quốc phương bắc
View attachment 227723
Chấm hóng, rãnh đọc sau nha đệ
 
@congarung1988 Bạn có thể cho tôi biết: T nghe nói kinh dịch, bát quái là do Phục Hy tộc Bách Việt sáng tạo nên đúng không.
Người hán từ đời tần xâm chiếm và kế thừa. Lịch sử trước vua hùng m có rành không, kể về tộc bách Việt nam sông dương tử chút.:x

Trong câu " Công cha như núi Thái Sơn " chữ Thái Sơn là 1 ngọn núi cổ ở Sơn Đông lúc thời bộ Lạc Bách Việt Phục Hy sinh sống, khi bị quân Hán xâm lược đã di chuyển dạt dần về phía Nam, nên để lại câu này để nhớ về cội ???? #:-S
 
Sửa lần cuối:
@congarung1988 Bạn có thể cho tôi biết: T nghe nói kinh dịch, bát quái là do Chu Hy tộc Bách Việt sáng tạo nên đúng không.
Người hán từ đời tần xâm chiếm và kế thừa. Lịch sử trước vua hùng m có rành không, kể về tộc bách Việt nam sông dương tử chút.:x

Trong câu " Công cha như núi Thái Sơn " chữ Thái Sơn là 1 ngọn núi cổ ở Sơn Đông lúc thời bộ Lạc Bách Việt Chu Hy sinh sống, khi bị quân Hán xâm lược đã di chuyển dạt dần về phía Nam, nên để lại câu này để nhớ về cội ???? #:-S
Núi Thái Sơn là nơi tọa lạc của phái Võ Đang nha bạn :vozvn (23):
Tui mơ ước được sang đó du lịch và tiếp thu võ học của Trương Chân Nhân mà khó quá :too_sad:
 
T cảm thấy rất tiếc cho vn, lịch sử hào hùng có, địa linh nhân kiệt có, tiếc là nằm bên cạnh thằng hàng xóm to ễnh nên bị ảnh hưởng nặng nề nhiều cái.
Ngặt nữa tầng lớp lên làm vua toàn nông dân, phu tá điền khởi nghĩa nên tầm nhìn hạn hẹp.
Người có học thức lên làm vua, bề tôi thì lại đọc sách nho giáo, những gì văn hoá phương tây bị khép vô ngoại lai.
Đến tq nó còn biết mở con đường tơ lụa, cảng biển để giao thương học hỏi tụi nước ngoài.
Sự thấm nhuần văn hoá, giáo dục của mẫu quốc khiến vn cứ đinh ninh là phải trung thành chứ ko được cởi mở, tiếp nhận cái mới.
Trong khi tây ban nha, anh quốc, bồ, ba tư,.. nó đã đóng thuyền lớn dong khắp nơi, buồi của nó đóng dấu hết các dân thuộc địa.
Chung quy chỉ tại các anh Hùng
 
Hoa sơn có Tịch tà kiếm phổ, tự cung chim có lẽ hợp với bạn hơn. :vozvn (20):
Tôi đang hỏi bạn gà rừng để nắm rõ lịch sử ý mà.
Núi Thái Sơn là nơi tọa lạc của phái Võ Đang nha bạn :vozvn (23):
Tui mơ ước được sang đó du lịch và tiếp thu võ học của Trương Chân Nhân mà khó quá :too_sad:
 
@congarung1988 Bạn có thể cho tôi biết: T nghe nói kinh dịch, bát quái là do Phục Hy tộc Bách Việt sáng tạo nên đúng không.
Người hán từ đời tần xâm chiếm và kế thừa. Lịch sử trước vua hùng m có rành không, kể về tộc bách Việt nam sông dương tử chút.:x

Trong câu " Công cha như núi Thái Sơn " chữ Thái Sơn là 1 ngọn núi cổ ở Sơn Đông lúc thời bộ Lạc Bách Việt Phục Hy sinh sống, khi bị quân Hán xâm lược đã di chuyển dạt dần về phía Nam, nên để lại câu này để nhớ về cội ???? #:-S
Phục Hy là huyền thoại, người TQ cũng k còn tin là có thật rồi nên t k biết phải nói gì về huyền sử cả. Đối với Kinh dịch, T cho rằng truy gốc nó k vượt qua được thời nhà Thương. Đến đời Chu được hoàn thiện
Về vấn đề nhiều đứa đi cãi nhau rằng Xuy Vưu, Phục hy, thần nông là người Bách Việt... t cho rằng ntn. Dân tộc Hán được hình thành k sớm hơn giai đoạn Tần Hán. Người Sở (Nam Man - đất Kinh, Dương), người Tề (Đông Di), người Tần (Tây Nhung), người Trung Sơn (Bắc Địch) cũng là người Hán theo nghĩa dân tộc hiện nay. Việc ấy qua lâu rồi, mình tranh luận việc mấy ông kia là người Bách Việt, người Giao Chỉ hay Nam Man có ý nghĩa gì đâu.
Và một điểm nữa - theo cá nhân t - người Bách Việt k có nghĩa là người VN. T thích quan điểm của Ngô Thì Sĩ (chép trong Việt sử tiêu án) rằng VN chỉ là đất Giao Chỉ thời Hán về sau - kéo dài xuống phía Nam. Những việc liên quan tới Bách Việt k phải là việc của VN mình...
 
đố m bắt t né dc đấy, móa nhắc đến quang trung lại tự hào vl
tao bắt mày làm sao được. Nhưng chúng mày cứ cãi nhau mãi 2 ông đó, nó chẳng liên quan gì đến thớt cả, nó rất vô lý. Haizz, chỉ vậy thôi
 
tao bắt mày làm sao được. Nhưng chúng mày cứ cãi nhau mãi 2 ông đó, nó chẳng liên quan gì đến thớt cả, nó rất vô lý. Haizz, chỉ vậy thôi
m nhầm ng rồi, t cãi nhau j trong thớt của m đâu, t khoái quang trung vậy thôi, cãi nhau giải quyết dc j đâu
 

Có thể bạn quan tâm

Top