ham Học Hỏi..
Gió lạnh đầu buồi
Phải đợi đến chiến thắng vĩ đại vang dội khắp hoàn cầu của nước Nhật trong chiến tranh với Nga (1904-1905), người châu Âu mới chịu tin rằng chữ Tàu nếu học đúng phương pháp thì cũng dễ như các thứ chữ khác và không phải là một chướng ngại vật trong sự tiếp thu những tinh hoa của khoa học phương Tây. (NVT)
ĐẠI HỌC DUY TÂN (Đà Nẵng) đã quyết định thành lập “Viện vinh danh chữ “quốc ngữ”, bảo vệ và phát triển tiếng Việt”, viết tắt là “Viện bảo tồn tiếng Việt”, hoạt động dưới sự giám sát của trường ĐHDT, đặt trụ sở trong khuôn viên trường, tại số 3 đường Quang Trung, Thành phố Đà Nẵng và bổ nhiệm GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng giữ chức vụ Viện trưởng.
C hữ viết đóng góp phần quyết định vào nền văn minh của một dân tộc, bởi nó là điều kiện tiên quyết để bảo tồn văn hiến và xây dựng nền giáo dục quốc gia. Vì thế các chính quyền ngoại bang thống trị luôn tìm mọi cách huỷ diệt nền văn minh bản địa và quyết liệt đồng hoá người bản xứ. Chữ viết là đối tượng bị huỷ diệt trước tiên bởi nó phản ánh tư tưởng, tâm hồn của một dân tộc. Vua nhà Minh Vĩnh Lạc thứ V lệnh cho Trương Phụ: “Ta nhiều lần dụ cho các ngươi lệnh cho quân lính phàm tất cả sách vở, ván khắc chữ An Nam, một mảnh văn tự của xứ ấy kể cả mẩu giấy có chữ trẻ con làng quê mới đi học, kể cả những tấm bia xứ ấy dựng lên, hễ thấy là đốt hủy ngay, không được giữ lại, chớ bỏ xót” ( Đinh Văn Minh dịch "An Nam Chí Lược").
Thực ra người Việt đã có chữ viết riêng theo mẫu tự tượng thanh từ rất sớm gọi là chữ Việt cổ. Các nhà ngôn ngữ học đang bổ sung, củng cố những chứng cứ thuyết phục.
Vậy mà người ta cứ tin theo sách sử Tàu truyền rằng: “Sỹ Nhiếp đã mang chữ Hán về khai hoá cho dân tộc Nam man”.
Yêu cầu bảo tồn văn hóa, mở mang trí tuệ, khát vọng phục sinh dân tộc, phục hồi tổ quốc, tiêu biểu là giới trí thức mọi thời đã tạo ra một lớp người học thức tài hoa uyên bác ngoài ý muốn của kẻ ngoại bang cầm quyền. Lớp sỹ phu Đại Việt thời Bắc thuộc chế tác ra chữ Nôm hợp với thổ âm của người Việt và chỉ qua mấy thế kỷ, chữ Nôm đã có những thành tựu rực rỡ, làm nên nền văn hoá Việt Nam trung cận đại với bản sắc riêng. Đã có ai dùng chữ “quốc ngữ” vượt qua các bậc tiền nhân với chữ Nôm mà đạt tới đỉnh cao tư duy và mỹ cảm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh quan, Hồ Xuân Hương…?
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh là người rất hăng hái trong công cuộc phát triển Quốc ngữ từng nói: “Kể những sách của những bậc tài Nôm nước Nam để lại mà làm nền cho quốc văn thì thực hiếm, nhưng tuy hiếm mà thực là qúy, thực là hay. Như văn Kim-Vân-Kiều mà đem vào kho tàng văn chương thế giới kể cũng xứng, chớ không đến nỗi để người An Nam mình phải hổ thẹn rằng nước không có văn”.
Chính Toàn quyền Pasquier, đứng ở góc độ văn hóa đã thừa nhận: “Các tác phẩm văn học Việt Nam, dù đậm nét dân gian hay có giá trị đỉnh cao của Nho học là một kho tàng văn hóa độc đáo, phi thường”
Chữ “quốc ngữ” mà ta đang dùng hiện nay khởi nguồn từ các linh mục người phương tây, được sự hưởng ứng tận tình của những sỹ phu cải đạo bản xứ, đã sáng chế ra một dạng ký tự tượng hình sang ký tự tượng thanh đơn giản, dễ phổ cập, trước hết để các nhà truyền giáo dễ học một ngôn ngữ mới, làm phương tiện tác nghiệp để thâm nhập với cộng đồng thổ dân, nhằm mục tiêu trước mắt là rao truyền tân đạo.
Sự bành trướng của đạo Ki-tô về phía Đông gắn liền với quá trình mở mang thuộc địa, khai thác tài nguyên và thị trường giao lưu hàng hóa của chủ nghĩa tư bản phương tây. Bao giờ cũng vậy, các linh mục đi trước và theo sau là đoàn quân viễn chinh xâm lược. Ngay từ buổi đầu, hai chủ thể ấy cố kết chặt chẽ với nhau cùng bành trướng và song song tồn tại. Đúng như hoàng đế Napoléon I từng nói: “Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy mục đích chính trị và thương mại”. Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống nhau: “Những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ, bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện” (Avro Mahattan – Chủ nghĩa đế quốc của Ki-tô giáo và sự tự do của thế giới). Giáo hội được tín đồ đồng nghĩa với Vatican mở rộng thêm vòng tay ôm trái đất. Thực dân được thuộc địa và tài nguyên.
Khi đặt được nền móng cho sự cai trị, nhà cầm quyền thực dân mới dùng “tân ngữ” vào âm mưu đồng hóa một dân tộc bất đồng ngôn ngữ. Về mối quan hệ giữa nhà nước thực dân và giáo hội Công giáo Việt Nam, như giám mục Puginier đã nói thẳng ra:
GM Paul-Francois Puginier
(1835-1892)
“Không có giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết chân càng” và “Không đồng hóa chủng tộc được thì phải đồng hóa trước là ngôn ngữ và sau là văn hoá để lập nên một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Nguồn: Alain Forrest and Yoshiharu Tsuboi, "Catholicisme et Sociétes Asiatiques", Paris: L'Harmattan, 1988). Quốc danh Việt Nam bị xóa sổ thì chữ Nôm bị bức tử!
Ý đồ hủy diệt một nền văn hóa truyền thống của một dân tộc tồn tại lâu đời ở Đông phương không dễ được thực hiện. Trước hết nó gặp sự bất hợp tác của người bản địa là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao quá trình hình thành chữ “quốc ngữ” kéo dài hơn ba trăm năm, tính từ giữa thế kỷ XVII cho đến nửa sau thế kỷ XIX, khi người Pháp hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, nó chỉ lưu hành hạn hẹp trong giáo hội Ki-tô. Đồng thời với những quan điểm bất đồng trong giới chức thực dân cầm quyền cũng làm cản trở tiến trình.

Toàn quyền Pasquier (đọc trước Hội nghị Địa dư học – tỉnh Marseilles năm 1906) khuyến cáo các đồng sự cực đoan: “Ta không nên phá hoại bất cứ thứ gì trong tòa lâu đài văn hóa cổ xưa này. Nếu ta làm mất đi trong quên lãng, thử hỏi đó có là trọng tội?” và ông nhắc nhở: “Hãy tìm cách thích nghi, hòa nhập, chứ không phải hủy hoại, sao cho trong một thế kỷ tới người Pháp sẽ không phải chuốc lấy những lời trách cứ nặng nề rằng: Dưới chế độ tập quyền nghiệt ngã, những bản sắc đặc thù của một đất nước xa xôi đã bị tàn phá”! (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Toàn quyền Lanessanse cũng có lời cảnh báo như là tiên tri: “Sự hủy bỏ nền giáo dục Hán-Nôm đồng nghĩa với sự hủy bỏ về giáo huấn đạo lý mà chúng ta sẽ không có gì để thay thế vào bộ môn đạo đức đã bị tiêu diệt này… Đối với học sinh An Nam, mỗi chữ viết (Hán-Nôm) đều chứa đựng ý nghĩa sâu rộng, khi đọc hoặc viết, chúng tiếp nhận được một cảm xúc mạnh. Còn sách vở của ta, họ tiếp nhận với một tâm trạng khác hẳn. Đó là những tập tục của một xã hội khác biệt với họ, các thầy giáo cũng khác ông thầy đồ – người mà họ coi có thể thay thế cha mẹ của họ”. (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Gustave Dumoutier (1850-1904)
Ông G. Dumoutier, một nhà giáo dục học người Pháp có lương tâm ở Việt Nam từng trăn trở: “Nếu những đứa trẻ An Nam xuất thân từ các trường học của ta (Pháp), mà không biết đọc và viết chữ Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng”! (Nguyễn Văn Trường, Gustave Dumoutier: Giám đốc Học Chính Trung – Bắc Kỳ với lịch sử và văn hóa Việt Nam)
Đó là lời cảnh báo nghiêm khắc mà đến bây giờ dường như nó đang lộ diện!
Sự chống trả của giới sỹ phu bản xứ không lại được trước áp lực của chính quyền thực dân nắm trong tay cả một guồng máy khổng lồ quân sự, chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa hoc kỹ thuật, tổ chức xã hội. Và bản chất của chủ nghĩa thực dân chỉ cần sự chiếm đóng, khuất phục và lợi nhuận; văn hoá nếu có, chỉ duy nhất một nền văn hóa chính thống mẫu quốc mà tinh hoa của nó là tinh thần “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” thì Cụ Hồ đã sớm phát hiện ra: “Nước Pháp là một xứ sở kỳ lạ. Nó đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu nhưng khi xuất cảng chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó”! (Báo Điện Tử, Đại Biểu Nhân Dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo)
Giám mục Puginier, người cầm đầu giáo phận Hà Nội như là người phát ngôn thay cho nhà nước bảo hộ, đã không cần che đậy:
giám mục Puginier
ĐẠI HỌC DUY TÂN (Đà Nẵng) đã quyết định thành lập “Viện vinh danh chữ “quốc ngữ”, bảo vệ và phát triển tiếng Việt”, viết tắt là “Viện bảo tồn tiếng Việt”, hoạt động dưới sự giám sát của trường ĐHDT, đặt trụ sở trong khuôn viên trường, tại số 3 đường Quang Trung, Thành phố Đà Nẵng và bổ nhiệm GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng giữ chức vụ Viện trưởng.
C hữ viết đóng góp phần quyết định vào nền văn minh của một dân tộc, bởi nó là điều kiện tiên quyết để bảo tồn văn hiến và xây dựng nền giáo dục quốc gia. Vì thế các chính quyền ngoại bang thống trị luôn tìm mọi cách huỷ diệt nền văn minh bản địa và quyết liệt đồng hoá người bản xứ. Chữ viết là đối tượng bị huỷ diệt trước tiên bởi nó phản ánh tư tưởng, tâm hồn của một dân tộc. Vua nhà Minh Vĩnh Lạc thứ V lệnh cho Trương Phụ: “Ta nhiều lần dụ cho các ngươi lệnh cho quân lính phàm tất cả sách vở, ván khắc chữ An Nam, một mảnh văn tự của xứ ấy kể cả mẩu giấy có chữ trẻ con làng quê mới đi học, kể cả những tấm bia xứ ấy dựng lên, hễ thấy là đốt hủy ngay, không được giữ lại, chớ bỏ xót” ( Đinh Văn Minh dịch "An Nam Chí Lược").
Thực ra người Việt đã có chữ viết riêng theo mẫu tự tượng thanh từ rất sớm gọi là chữ Việt cổ. Các nhà ngôn ngữ học đang bổ sung, củng cố những chứng cứ thuyết phục.
Vậy mà người ta cứ tin theo sách sử Tàu truyền rằng: “Sỹ Nhiếp đã mang chữ Hán về khai hoá cho dân tộc Nam man”.
Yêu cầu bảo tồn văn hóa, mở mang trí tuệ, khát vọng phục sinh dân tộc, phục hồi tổ quốc, tiêu biểu là giới trí thức mọi thời đã tạo ra một lớp người học thức tài hoa uyên bác ngoài ý muốn của kẻ ngoại bang cầm quyền. Lớp sỹ phu Đại Việt thời Bắc thuộc chế tác ra chữ Nôm hợp với thổ âm của người Việt và chỉ qua mấy thế kỷ, chữ Nôm đã có những thành tựu rực rỡ, làm nên nền văn hoá Việt Nam trung cận đại với bản sắc riêng. Đã có ai dùng chữ “quốc ngữ” vượt qua các bậc tiền nhân với chữ Nôm mà đạt tới đỉnh cao tư duy và mỹ cảm như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh quan, Hồ Xuân Hương…?
Chính Toàn quyền Pasquier, đứng ở góc độ văn hóa đã thừa nhận: “Các tác phẩm văn học Việt Nam, dù đậm nét dân gian hay có giá trị đỉnh cao của Nho học là một kho tàng văn hóa độc đáo, phi thường”
Chữ “quốc ngữ” mà ta đang dùng hiện nay khởi nguồn từ các linh mục người phương tây, được sự hưởng ứng tận tình của những sỹ phu cải đạo bản xứ, đã sáng chế ra một dạng ký tự tượng hình sang ký tự tượng thanh đơn giản, dễ phổ cập, trước hết để các nhà truyền giáo dễ học một ngôn ngữ mới, làm phương tiện tác nghiệp để thâm nhập với cộng đồng thổ dân, nhằm mục tiêu trước mắt là rao truyền tân đạo.
Sự bành trướng của đạo Ki-tô về phía Đông gắn liền với quá trình mở mang thuộc địa, khai thác tài nguyên và thị trường giao lưu hàng hóa của chủ nghĩa tư bản phương tây. Bao giờ cũng vậy, các linh mục đi trước và theo sau là đoàn quân viễn chinh xâm lược. Ngay từ buổi đầu, hai chủ thể ấy cố kết chặt chẽ với nhau cùng bành trướng và song song tồn tại. Đúng như hoàng đế Napoléon I từng nói: “Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy mục đích chính trị và thương mại”. Bất kể sự diễn tiến như thế nào, kết quả đều giống nhau: “Những dân tộc Á châu mất đi hoặc một phần, hoặc toàn phần sự tự do của họ, bất cứ khi nào và ở nơi nào mà cái Thánh giá cùng cái mũ Tây phương xuất hiện” (Avro Mahattan – Chủ nghĩa đế quốc của Ki-tô giáo và sự tự do của thế giới). Giáo hội được tín đồ đồng nghĩa với Vatican mở rộng thêm vòng tay ôm trái đất. Thực dân được thuộc địa và tài nguyên.
Khi đặt được nền móng cho sự cai trị, nhà cầm quyền thực dân mới dùng “tân ngữ” vào âm mưu đồng hóa một dân tộc bất đồng ngôn ngữ. Về mối quan hệ giữa nhà nước thực dân và giáo hội Công giáo Việt Nam, như giám mục Puginier đã nói thẳng ra:
GM Paul-Francois Puginier
(1835-1892)
“Không có giáo dân thì quân đội Pháp như con cua bị bẻ hết chân càng” và “Không đồng hóa chủng tộc được thì phải đồng hóa trước là ngôn ngữ và sau là văn hoá để lập nên một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Nguồn: Alain Forrest and Yoshiharu Tsuboi, "Catholicisme et Sociétes Asiatiques", Paris: L'Harmattan, 1988). Quốc danh Việt Nam bị xóa sổ thì chữ Nôm bị bức tử!
Ý đồ hủy diệt một nền văn hóa truyền thống của một dân tộc tồn tại lâu đời ở Đông phương không dễ được thực hiện. Trước hết nó gặp sự bất hợp tác của người bản địa là lẽ đương nhiên. Đó là lý do vì sao quá trình hình thành chữ “quốc ngữ” kéo dài hơn ba trăm năm, tính từ giữa thế kỷ XVII cho đến nửa sau thế kỷ XIX, khi người Pháp hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, nó chỉ lưu hành hạn hẹp trong giáo hội Ki-tô. Đồng thời với những quan điểm bất đồng trong giới chức thực dân cầm quyền cũng làm cản trở tiến trình.

Toàn quyền Pasquier (đọc trước Hội nghị Địa dư học – tỉnh Marseilles năm 1906) khuyến cáo các đồng sự cực đoan: “Ta không nên phá hoại bất cứ thứ gì trong tòa lâu đài văn hóa cổ xưa này. Nếu ta làm mất đi trong quên lãng, thử hỏi đó có là trọng tội?” và ông nhắc nhở: “Hãy tìm cách thích nghi, hòa nhập, chứ không phải hủy hoại, sao cho trong một thế kỷ tới người Pháp sẽ không phải chuốc lấy những lời trách cứ nặng nề rằng: Dưới chế độ tập quyền nghiệt ngã, những bản sắc đặc thù của một đất nước xa xôi đã bị tàn phá”! (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Toàn quyền Lanessanse cũng có lời cảnh báo như là tiên tri: “Sự hủy bỏ nền giáo dục Hán-Nôm đồng nghĩa với sự hủy bỏ về giáo huấn đạo lý mà chúng ta sẽ không có gì để thay thế vào bộ môn đạo đức đã bị tiêu diệt này… Đối với học sinh An Nam, mỗi chữ viết (Hán-Nôm) đều chứa đựng ý nghĩa sâu rộng, khi đọc hoặc viết, chúng tiếp nhận được một cảm xúc mạnh. Còn sách vở của ta, họ tiếp nhận với một tâm trạng khác hẳn. Đó là những tập tục của một xã hội khác biệt với họ, các thầy giáo cũng khác ông thầy đồ – người mà họ coi có thể thay thế cha mẹ của họ”. (Mai Bá Triều - Phạm Thị Tuyết Anh, Sự bức tử chữ Hán – Nôm)
Gustave Dumoutier (1850-1904)
Ông G. Dumoutier, một nhà giáo dục học người Pháp có lương tâm ở Việt Nam từng trăn trở: “Nếu những đứa trẻ An Nam xuất thân từ các trường học của ta (Pháp), mà không biết đọc và viết chữ Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng”! (Nguyễn Văn Trường, Gustave Dumoutier: Giám đốc Học Chính Trung – Bắc Kỳ với lịch sử và văn hóa Việt Nam)
Đó là lời cảnh báo nghiêm khắc mà đến bây giờ dường như nó đang lộ diện!
Sự chống trả của giới sỹ phu bản xứ không lại được trước áp lực của chính quyền thực dân nắm trong tay cả một guồng máy khổng lồ quân sự, chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa hoc kỹ thuật, tổ chức xã hội. Và bản chất của chủ nghĩa thực dân chỉ cần sự chiếm đóng, khuất phục và lợi nhuận; văn hoá nếu có, chỉ duy nhất một nền văn hóa chính thống mẫu quốc mà tinh hoa của nó là tinh thần “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” thì Cụ Hồ đã sớm phát hiện ra: “Nước Pháp là một xứ sở kỳ lạ. Nó đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu nhưng khi xuất cảng chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó”! (Báo Điện Tử, Đại Biểu Nhân Dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo)
Giám mục Puginier, người cầm đầu giáo phận Hà Nội như là người phát ngôn thay cho nhà nước bảo hộ, đã không cần che đậy:
giám mục Puginier
