CHƯƠNG V (tiếp)
Họ đã đi được khoảng hai dặm thì dừng lại nghỉ, Sproule ngồi với hai chân duỗi ra và hai tay đặt trong lòng, còn thằng nhóc ngồi xổm cách hắn một quãng. Chớp mắt, râu ria xồm xoàm và lem luốc trong bộ quần áo rách rưới.
"Nghe có giống tiếng sấm không?" Sproule nói.
Thằng nhóc ngẩng đầu lên.
"Nghe đi."
Thằng nhóc nhìn lên bầu trời, xanh nhạt, không một vết gợn ngoại trừ mặt trời cháy như một lỗ trắng trên đó.
"Tôi có thể cảm thấy nó phát ra từ lòng đất", Sproule nói.
"Không có gì đâu."
"Nghe đi."
Thằng nhóc đứng dậy và nhìn quanh. Về phía bắc, có một đám bụi nhỏ đang di chuyển. Nó quan sát. Đám bụi không bay lên cũng không thổi đi.
Đó là một chiếc xe la kéo, lọc xọc một cách nặng nề trên đồng bằng, được kéo bởi một con la nhỏ. Người đánh xe có lẽ đang ngủ. Khi ông ta nhìn thấy hai kẻ chạy trốn ở phía trước trên con đường mòn, ông ta dừng con la và bắt đầu kéo nó sang một bên để quay lại, và ông ta đã xoay được nó, nhưng lúc đó thằng nhóc đã nắm lấy dây cương da thô và giữ con vật đứng yên.
Sproule lặc cà lặc cạch chạy tới. Từ phía sau xe, hai đứa trẻ thò đầu ra nhìn. Chúng xám xịt vì bụi, tóc trắng bệch và khuôn mặt hốc hác, trông như những con quỷ lùn nhỏ ngồi thu mình đó. Khi thấy thằng nhóc trước mặt, người đánh xe lùi lại, và người phụ nữ ngồi cạnh ông ta bắt đầu kêu lên những tiếng the thé, rồi chỉ từ chân trời này sang chân trời khác, nhưng nó đã kéo mình lên thùng xe và Sproule lê bước theo sau, và họ nằm đó nhìn lên tấm bạt nóng hôi hổi trong khi hai đứa trẻ co vào góc và nhìn chằm chặp bằng đôi mắt đen như chuột đồng, và chiếc xe lại rẽ về phía nam, bắt đầu lăn bánh với tiếng ầm ầm và lạch cạch.
Có một bình đất đựng nước treo bằng dây da từ thanh chắn trước, thằng nhóc lấy nó xuống và uống, rồi đưa cho Sproule. Sau đó nó lấy lại và uống phần còn lại. Chúng nằm dưới sàn xe giữa những tấm da cũ và những vệt muối đổ vãi, và một lúc sau chúng ngủ thiếp đi.
Trời tối khi chúng vào thị trấn. Sự rung lắc của xe ngừng lại chính là điều đánh thức chúng. Thằng nhóc ngồi dậy và nhìn ra ngoài. Ánh sao trên một con phố bùn. Chiếc xe trống không. Con la thở khò khè và giậm chân trong dây cương. Một lúc sau, người chủ xe bước ra từ bóng tối và dẫn chúng qua một con hẻm vào một cái sân, ông ta lùi con la cho đến khi xe áp sát vào một bức tường, rồi cởi dây cho con la và dẫn nó đi.
Thằng nhóc nằm ngửa ra trên thùng xe nghiêng. Đêm lạnh, nó nằm co gối dưới một tấm da thú có mùi mốc và nước tiểu, ngủ rồi tỉnh suốt đêm, và suốt đêm lũ chó sủa, đến rạng đông tiếng gà gáy vang lên, và nó nghe tiếng ngựa trên đường.
Trong ánh sáng xám đầu tiên, ruồi bắt đầu đậu lên người nó. Chúng chạm vào mặt nó và đánh thức nó, nó phẩy tay đuổi chúng đi. Một lúc sau nó ngồi dậy.
Họ đang ở trong một cái sân có tường bùn trống trải, và có một ngôi nhà làm bằng lau sậy và đất sét. Những con gà bước đi loanh quanh, cục cục và bới đất. Một cậu bé từ trong nhà đi ra, tụt quần và đại tiện giữa sân, rồi đứng dậy và đi vào trong.
Thằng nhóc nhìn Sproule. Hắn đang nằm úp mặt xuống ván xe. Hắn được đắp một phần chăn và ruồi đang bò trên người hắn. Thằng nhóc đưa tay lay hắn. Hắn lạnh và cứng đờ như gỗ. Lũ ruồi bay lên, rồi lại đậu xuống.
Thằng nhóc đang đứng bên xe tiểu tiện thì bọn lính cưỡi ngựa vào sân. Chúng tóm lấy nó, trói tay ra sau lưng, nhìn vào thùng xe và nói chuyện với nhau, rồi dẫn nó ra phố.
Nó bị đưa đến một tòa nhà bằng đất nện và nhốt trong một căn phòng trống. Nó ngồi dưới sàn trong khi một thằng nhóc với mắt hoang dã với khẩu súng hỏa mai cũ canh chừng nó. Một lúc sau, họ đến và dẫn nó ra ngoài.
Họ dẫn nó qua những con phố bùn hẹp, và nó có thể nghe thấy tiếng nhạc như một khúc kèn chào mừng càng lúc càng lớn. Đầu tiên là lũ trẻ con đi cùng nó, rồi đến người già, và cuối cùng là một đám đông dân làng da nâu, tất cả đều mặc đồ trắng bằng vải cotton như những người phục vụ trong một viện dưỡng, những người phụ nữ quàng khăn rebozo sẫm màu, một số để ngực trần, khuôn mặt nhuộm đỏ bằng đất sét đỏ, hút những điếu xì gà nhỏ. Số lượng của họ ngày càng đông, và những người lính gác với súng hỏa mai vác trên vai cau mày và quát tháo đám người chen lấn, và họ tiếp tục đi dọc theo bức tường đất nện cao của một nhà thờ và tiến vào quảng trường.
Một khu chợ đang mở. Một gánh thuốc lang rong, một rạp xiếc sơ khai. Họ đi qua những chiếc lồng bằng gỗ liễu vững chắc nhồi nhét đầy rắn độc, với những con rắn xanh vôi khổng lồ bắt được từ những nơi xa hơn về phía nam, hay những con thằn lằn hạt cườm với cái miệng đen ướt nhẹp đầy nọc độc. Một lão hủi gầy guộc giơ lên những nắm sán dây từ một cái lọ cho mọi người xem và rao bán thuốc của mình để trị chúng, và họ bị chen ép giữa những tên lang băm thô lỗ khác, những người bán hàng rong và những kẻ ăn xin, cho đến khi tất cả cuối cùng dừng lại trước một cái giàn gỗ, trên đó đặt một bình thủy tinh đựng rượu mescal trong suốt. Trong thùng chứa này, với mái tóc bay lơ lửng và đôi mắt ngước lên trên khuôn mặt xanh xao, là một cái đầu người.
Họ kéo nó lên phía trước với những tiếng hét và điệu bộ. "Nhìn, nhìn đi!”, họ kêu lên. Thằng nhóc đứng trước bình thủy tinh và họ giục nó phải nhìn ngắm cái bình, và chúng xoay nó xung quanh để cái đầu vô hồn trong bình phải đối diện với nó. Đó là đại úy White. Mới đây còn ở trong cuộc chiến chống lại bọn vô đạo. Thằng nhóc nhìn vào đôi mắt chết chìm và vô hồn của người chỉ huy cũ của mình.
Thằng nhóc nhìn quanh những người dân làng và bọn lính, tất cả đều đang nhìn mình, rồi nó nhổ nước bọt và lau miệng. “Chẳng có liên quan gì với tôi”, nó nói.
Bọn chúng nhốt nó vào một cái chuồng đá cũ cùng với ba kẻ tàn tạ khác trốn khỏi cuộc viễn chinh. Cả bọn ngồi sững sờ, chớp mắt dựa vào tường, hoặc đi vòng quanh chuồng dọc theo những vệt móng ngựa và móng la khô cằn, rồi nôn ọe và ỉa chảy trong khi bọn trẻ con trên tường thành la hét chế giễu.
Nó kết thân với một thiếu niên gầy gò đến từ Georgia. “Tôi ốm như chó ấy”, cậu ta nói. “Tôi sợ mình sẽ chết, rồi tôi lại sợ là mình không chết.”
“Tôi đã thấy một người cưỡi trên con ngựa của đại úy ở vùng quê phía bắc nơi đây rồi”, thằng nhóc nói với cậu ta.
“Ờ”, thiếu niên quê Georgia đáp. “Bọn nó giết ông ấy, giết Clark, và một thằng khác tôi không biết tên. Bọn tôi vào thị trấn, và ngay ngày hôm sau chúng đã nhốt bọn tôi vào xà lim, và chính thằng cưỡi ngựa khốn nạn đó đang ở dưới đó với bọn lính canh, cười đùa nhậu nhẹt và đánh bài, nó và tên chỉ huy cược nhau để xem ai được con ngựa của đại úy và ai được khẩu súng lục của ông ta. Tôi đoán cậu đã thấy cái đầu của đại úy rồi.”
“Tôi đã thấy nó. Đó là điều tồi tệ nhất tôi từng thấy trong đời.”
“Đáng lẽ ai đó đã phải ngâm đầu lão vào bình từ lâu rồi. Theo đúng quy luật, họ cũng nên ngâm cái đầu của tôi. Vì đã từng dây dưa với một gã ngu như thế.”
Đám tù nhân khốn khổ di chuyển khi ngày càng lên, từ bức tường này sang bức tường khác để tránh nắng. Thiếu niên quê Georgia kể cho nó nghe về những người đồng đội xấu số được bày trên những phiến đá lạnh ngắt, chết cứng trong khu chợ. Vị đại úy không đầu nằm trong một vũng bùn, bị lũ lợn gặm dở. Cậu ta kéo gót giày trên bụi đất và khoét một chỗ nhỏ cho gót chân nghỉ ngơi. “Bọn chúng định gửi chúng ta xuống thành phố Chihuahua”, thiếu niên nói.
“Sao cậu biết?”
“Người ta nói thế. Tôi không biết.”
“Ai nói?”
“Thằng Shipman đằng kia. Nó nói được một ít tiếng bọn chúng.”
Đứa bé nhìn về phía người được nhắc đến. Nó lắc đầu và nhổ một cái khô khốc.
Suốt cả ngày, lũ trẻ con ngồi trên tường thành, thay phiên nhau nhìn chúng, chỉ trỏ và nói nhảm. Chúng đi quanh lan can và cố tình đái xuống những người đang ngủ dưới bóng râm, nhưng bọn tù nhân luôn cảnh giác. Lúc đầu vài đứa ném đá, nhưng thằng nhóc nhặt một hòn đá to bằng trứng gà giữa bụi, và với một cú liệng, nó hạ gọn một thằng nhóc từ trên tường xuống, không một tiếng động ngoài tiếng rơi thịch nhẹ phía bên kia bức tường.
“Giờ thì cậu đã ra tay rồi đấy”, tên thiếu niên Georgia nói.
Thằng nhóc nhìn trân.
“Bọn chúng sẽ xông vào đây với roi vọt và đủ thứ trên đời.”
Thằng nhóc nhổ nước bọt. “Đố chúng nó mà dám xông vào đây để vụt roi.”
Quả nhiên chúng không vào. Một người đàn bà mang đến cho chúng những bát đậu và những miếng bánh tortilla cháy trên một cái đĩa bằng đất sét chưa nung. Trông bà có vẻ tất bật, bà mỉm cười với chúng, và bà đã giấu kẹo dưới khăn choàng, bên dưới đáy bát còn có những miếng thịt mang từ bàn ăn của chính bà.
Ba ngày sau, trên lưng những con la nhỏ bé ốm yếu, cả bọn lên đường đến thủ phủ như lời tiên đoán.
Bọn họ suốt năm ngày qua sa mạc và núi non, qua những ngôi làng đầy bụi bặm nơi dân chúng kéo ra để xem chúng. Những người hộ tống của chúng trong nhiều bộ đồng phục cũ kỹ nhưng vẫn còn vẻ sang trọng, còn các tù nhân thì trong giẻ rách. Bọn họ đã được phát chăn, và vào ban đêm, ngồi xổm bên những đống lửa giữa sa mạc, đám người bị mặt trời làm đen, gầy trơ xương và quấn mình trong những tấm áo choàng serape này, trông bọn họ giống như những người nông nô thấp kém nhất của Chúa. Những người lính không ai nói được tiếng Anh, và họ ra hiệu cho tù nhân bằng tiếng ậm ừ hoặc cử chỉ. Họ được trang bị xuềnh xoàng và rất sợ đám da đỏ tiếp cận. Họ cuốn thuốc lá trong vỏ ngô và ngồi bên đống lửa trong im lặng và lắng nghe màn đêm. Lời nói của họ, khi có nói chuyện, thường là về phù thủy hoặc những điều tồi tệ hơn, và luôn luôn cố gắng phân tích một tiếng nói hay tiếng kêu nào đó trong số những tiếng kêu không phải của loài thú đứng đắn vọng ra từ bóng tối.
“Người ta hay nói rằng con sói đồng cỏ là một phù thủy giả trang. Không ít lần phù thủy cải trang giả làm một con sói đồng cỏ.”
“Và bọn da đỏ cũng vậy. Chúng thường kêu như sói đồng cỏ.”
“Thế tiếng vừa kêu đó là gì?”
“Chẳng có gì. Một con cú. Chỉ vậy thôi.”
“Có lẽ vậy.”
Khi đoàn người cưỡi ngựa qua đèo trên núi và nhìn xuống thành phố, viên trung sĩ của đoàn hộ tống cho ngựa dừng lại và nói với người đàn ông phía sau mình, và người này xuống ngựa, lấy những sợi dây da thô từ túi yên và tiến đến chỗ các tù nhân, ra hiệu cho họ bắt chéo cổ tay và đưa ra, chỉ cho đám tù nhân cách làm bằng chính tay mình. Gã trói từng người theo cách đó, rồi cả đoàn tiếp tục cưỡi ngựa lên đường.
Đám tù nhân tiến vào thành phố trong một trận mưa rác từ người dân, bị lùa như gia súc qua những con đường lát đá cuội, với những tiếng hò hét vang lên từ phía sau dành cho đám lính, những kẻ mỉm cười một cách đàng hoàng và gật đầu giữa những bông hoa và những chén rượu được mời, lùa đám tù binh rách rưới qua quảng trường nơi nước bắn tung lên trong đài phun và những kẻ nhàn rỗi ngả mình trên những ghế ngồi chạm khắc bằng đá phiến trắng, rồi qua dinh thự của thống đốc và qua nhà thờ lớn nơi những con kền kền đậu dọc theo các mái hiên đầy bụi và giữa các hốc tường trên mặt tiền chạm khắc, ngay bên cạnh các tượng Chúa Jesus và các tông đồ, những con chim dang rộng bộ lông sẫm màu của chúng trong những tư thế khoan dung kỳ lạ, trong khi xung quanh chúng, trong gió phất phới những mảnh da đầu khô của những người da đỏ bị tàn sát xâu thành chuỗi, những mái tóc dài xỉn màu đu đưa như các sợi tơ của một số loài sinh vật biển, và những mảnh da khô vỗ vào đá.
Họ đi qua những người ăn xin già bên cửa nhà thờ với bàn tay nhăn nheo xòe ra, những kẻ ăn xin tàn tật mặc rách rưới với ánh mắt buồn bã, và những đứa trẻ ngủ trong bóng râm với ruồi bò trên khuôn mặt vô hồn. Những đồng xu đồng tối màu trong đĩa tiền, đôi mắt teo tóp của người mù. Những tay thư lại ngồi xổm bên bậc thềm với bút lông, bình mực và bát cát, những người hủi rên rỉ qua các con đường và những con chó trụi lông trông như được tạo nên hoàn toàn từ xương, và những người bán bánh tamales hấp và những bà già với khuôn mặt sạm đen và khắc khổ như vùng đất, ngồi xổm trong rãnh nước bên những bếp than, nơi những miếng thịt đen đặc không tên xèo xèo và bắn tung tóe dầu mỡ. Những đứa trẻ mồ côi lang thang như những người lùn cáu kỉnh, và những kẻ khờ khạo, những kẻ say sưa chảy dãi và quờ quạng xung quanh trong những khu chợ nhỏ của thành phố lớn. Các tù nhân cưỡi ngựa qua cảnh tượng tàn sát trong các quầy thịt và mùi sáp ong nơi những xâu ruột đen kịt ruồi treo lủng lẳng, và những mảng thịt lột da đỏ rực giờ đã tối lại theo bóng chiều, và những chiếc sọ trần trụi của bò và cừu với đôi mắt xanh xám ngây dại nhìn hoang dại, và những xác cứng của hươu, heo vòi, vịt, chim cút và vẹt, tất cả các loài hoang dã từ vùng quê xung quanh đều bị treo ngược đầu trên móc.
Họ bị bắt xuống ngựa và bị lùa đi bộ qua đám đông, xuống những bậc đá cũ và qua một bậu cửa mòn như xà phòng, qua một cánh cổng sắt nhỏ hẹp vào một hầm đá mát mẻ, vốn đã là nhà tù từ lâu, để chiếm chỗ của mình giữa những hồn ma của các vị tử đạo và người yêu nước xưa, trong khi cánh cổng kêu lách cách khép lại sau lưng họ.
Khi đôi mắt thôi còn mù lòa vì bóng tối, họ bắt đầu nhận ra những bóng người đang co ro nép dọc theo bức tường. Những ổ rơm khẽ động đậy như lũ chuột làm tổ bị quấy nhiễu. Tiếng ngáy khe khẽ vọng lên. Bên ngoài, tiếng xe ngựa lộc cộc lăn qua, tiếng móng ngựa gõ trầm đục trên mặt đường. Xuyên qua những phiến đá dày của ngục thất, vọng đến tiếng búa nện mơ hồ từ một lò rèn ở một góc khác của nhà lao. Thằng nhóc đảo mắt nhìn quanh. Trên nền đá lấm bẩn vương vãi những mẩu tim nến đã cháy đen, nằm giữa những vũng mỡ nến đông đặc ngả màu xám đục. Từ các bức tường buông xuống từng sợi nước dãi khô quắt. Lác đác vài cái tên bị cào khắc lên đá, chỉ vừa đủ để ánh sáng hiếm hoi tìm thấy. Nó ngồi xổm xuống, dụi mắt. Có người chỉ mặc quần lót bước ngang trước mặt nó đến chiếc thùng đặt giữa phòng, đứng đó rồi tè vào trong. Xong xuôi, gã quay lại, tiến về phía nó. Gã cao lớn, tóc để dài chấm vai. Gã lê chân qua đống rơm rồi đứng nhìn chằm chằm xuống nó.
"Chú mày không nhận ra ta à?" Toadvine hỏi.
Thằng nhóc khạc một bãi nước bọt, nheo mắt ngước nhìn.
"Có nhận ra chứ," nó đáp. "Có lột da ông đem thuộc ở xưởng da thì tôi cũng nhận ra được cái bộ da ấy."