Có Hình Blood Meridian (or Evening Redness in the West) - Thiên Đỉnh Máu (hay Sắc đỏ chiều tà vùng biên viễn) (1985) - Cormac McCarthy

44.webp



"Những ý tưởng của các ngươi thật đáng sợ và trái tim các ngươi thật yếu hèn. Những hành động thương xót và tàn ác của các ngươi thật phi lý, được thực hiện mà không có sự bình thản, như thể chúng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng, các ngươi ngày càng sợ máu. Máu và thời gian."
PAUL VALÉRY

"Không nên nghĩ rằng cuộc sống của bóng tối bị chìm trong khổ đau và lạc mất như thể trong sầu muộn. Không có sầu muộn. Vì sầu muộn là thứ bị nuốt chửng trong cái chết, và cái chết cùng sự chết chóc chính là sự sống của bóng tối."
JACOB BOEHME

"Clark, người dẫn đầu đoàn thám hiểm năm ngoái đến vùng Afar ở phía bắc Ethiopia, cùng đồng nghiệp Tim D. White của UC Berkeley, cũng cho biết rằng việc kiểm tra lại một hộp sọ hóa thạch 300.000 năm tuổi được tìm thấy ở cùng vùng trước đó cho thấy bằng chứng về việc lột da đầu được thực hiện."
The Yuma Daily Sun, ngày 13 tháng 6 năm 1982
 
Sửa lần cuối:
44.webp



"Những ý tưởng của các ngươi thật đáng sợ và trái tim các ngươi thật yếu hèn. Những hành động thương xót và tàn ác của các ngươi thật phi lý, được thực hiện mà không có sự bình thản, như thể chúng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng, các ngươi ngày càng sợ máu. Máu và thời gian."
PAUL VALÉRY

"Không nên nghĩ rằng cuộc sống của bóng tối bị chìm trong khổ đau và lạc mất như thể trong sầu muộn. Không có sầu muộn. Vì sầu muộn là thứ bị nuốt chửng trong cái chết, và cái chết cùng sự chết chóc chính là sự sống của bóng tối."
JACOB BOEHME

"Clark, người dẫn đầu đoàn thám hiểm năm ngoái đến vùng Afar ở phía bắc Ethiopia, cùng đồng nghiệp Tim D. White của UC Berkeley, cũng cho biết rằng việc kiểm tra lại một hộp sọ hóa thạch 300.000 năm tuổi được tìm thấy ở cùng vùng trước đó cho thấy bằng chứng về việc lột da đầu được thực hiện."
The Yuma Daily Sun, ngày 13 tháng 6 năm 1982
Tao đọc bản tiếng Anh thấy hay mà cách viết đọc khó hiểu vcl ,phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới thấy có logic,chắc phải mệt hơn đọc Ielts reading 5 lần
 
Trước khi post bản dịch, tôi có cân nhắc vài điều:

1. Về ngữ vựng và văn phong sử thi: Văn chương của Cormac McCarthy mang đậm tính sử thi, cổ kính với lớp từ vựng cổ tích tích tụ qua thời gian. Trong quá trình chuyển ngữ, tôi đã nỗ lực tìm kiếm các từ ngữ tiếng Việt tương đương về cả tầng nghĩa lẫn sắc thái biểu cảm, nhằm tái hiện lại không khí trầm hùng, thô ráp đặc trưng trong văn phong của ông.

2. Về cấu trúc câu và nhịp điệu: Nguyên tác của McCarthy nổi tiếng với việc sử dụng rất ít dấu phẩy, đi kèm mật độ câu đơn dồn dập khiến trải nghiệm đọc đôi khi khá "đau não" và căng thẳng. Để giúp anh em Xammer tiếp cận tác phẩm một cách mượt mà, dễ trôi hơn mà không làm mất đi cấu trúc hành văn cũng như nhịp điệu nguyên bản, tôi đã chủ động tách nhỏ một số đoạn văn quá dài hoặc quá phức tạp.

3. Về quy chuẩn trình bày hội thoại: Một đặc trưng kinh điển khác của McCarthy là hoàn toàn không sử dụng dấu ngoặc kép cho các đoạn thoại. Nhằm tránh gây nhầm lẫn giữa lời thoại nhân vật và phần diễn giải của người kể chuyện, tôi đã bổ sung dấu ngoặc kép cho các câu hội thoại để việc theo dõi nhân vật trở nên rõ ràng hơn.

4. Về các đoạn thoại tiếng Tây Ban Nha / tiếng bản địa: Trong tác phẩm gốc, tác giả thường đan cài trực tiếp các câu thoại tiếng Tây Ban Nha hoặc từ ngữ bản địa mà không giải thích. Ở bản dịch này, tôi đã tiến hành dịch toàn bộ các đoạn thoại đó ra tiếng Việt. Điều này giúp anh em vừa nắm bắt trọn vẹn nội dung câu chuyện, vừa hiểu thêm về ngữ cảnh văn hóa mà không bị gián đoạn mạch đọc.​
 
44.webp



"Những ý tưởng của các ngươi thật đáng sợ và trái tim các ngươi thật yếu hèn. Những hành động thương xót và tàn ác của các ngươi thật phi lý, được thực hiện mà không có sự bình thản, như thể chúng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng, các ngươi ngày càng sợ máu. Máu và thời gian."
PAUL VALÉRY

"Không nên nghĩ rằng cuộc sống của bóng tối bị chìm trong khổ đau và lạc mất như thể trong sầu muộn. Không có sầu muộn. Vì sầu muộn là thứ bị nuốt chửng trong cái chết, và cái chết cùng sự chết chóc chính là sự sống của bóng tối."
JACOB BOEHME

"Clark, người dẫn đầu đoàn thám hiểm năm ngoái đến vùng Afar ở phía bắc Ethiopia, cùng đồng nghiệp Tim D. White của UC Berkeley, cũng cho biết rằng việc kiểm tra lại một hộp sọ hóa thạch 300.000 năm tuổi được tìm thấy ở cùng vùng trước đó cho thấy bằng chứng về việc lột da đầu được thực hiện."
The Yuma Daily Sun, ngày 13 tháng 6 năm 1982
Nhìn hình chiến vậy, có phim hay anime ko? Chứ giờ già rồi nhiều chữ đéo đọc được
 
Trước khi post bản dịch, tôi có cân nhắc vài điều:

1. Về ngữ vựng và văn phong sử thi: Văn chương của Cormac McCarthy mang đậm tính sử thi, cổ kính với lớp từ vựng cổ tích tích tụ qua thời gian. Trong quá trình chuyển ngữ, tôi đã nỗ lực tìm kiếm các từ ngữ tiếng Việt tương đương về cả tầng nghĩa lẫn sắc thái biểu cảm, nhằm tái hiện lại không khí trầm hùng, thô ráp đặc trưng trong văn phong của ông.

2. Về cấu trúc câu và nhịp điệu: Nguyên tác của McCarthy nổi tiếng với việc sử dụng rất ít dấu phẩy, đi kèm mật độ câu đơn dồn dập khiến trải nghiệm đọc đôi khi khá "đau não" và căng thẳng. Để giúp anh em Xammer tiếp cận tác phẩm một cách mượt mà, dễ trôi hơn mà không làm mất đi cấu trúc hành văn cũng như nhịp điệu nguyên bản, tôi đã chủ động tách nhỏ một số đoạn văn quá dài hoặc quá phức tạp.

3. Về quy chuẩn trình bày hội thoại: Một đặc trưng kinh điển khác của McCarthy là hoàn toàn không sử dụng dấu ngoặc kép cho các đoạn thoại. Nhằm tránh gây nhầm lẫn giữa lời thoại nhân vật và phần diễn giải của người kể chuyện, tôi đã bổ sung dấu ngoặc kép cho các câu hội thoại để việc theo dõi nhân vật trở nên rõ ràng hơn.

4. Về các đoạn thoại tiếng Tây Ban Nha / tiếng bản địa: Trong tác phẩm gốc, tác giả thường đan cài trực tiếp các câu thoại tiếng Tây Ban Nha hoặc từ ngữ bản địa mà không giải thích. Ở bản dịch này, tôi đã tiến hành dịch toàn bộ các đoạn thoại đó ra tiếng Việt. Điều này giúp anh em vừa nắm bắt trọn vẹn nội dung câu chuyện, vừa hiểu thêm về ngữ cảnh văn hóa mà không bị gián đoạn mạch đọc.​
Nhưng t thấy lúc nào cũng phải đọc bản gốc mới chất,có những câu dịch sang tiếng Việt mất hay
 
CHƯƠNG I

Tuổi thơ ở Tennessee – Trốn nhà – Đến New Orleans – Đánh nhau – Bị bắn – Đến Galveston – Nacogdoches – Mục sư Green – Phán quan Holden – Một vụ ẩu đả – Toadvine – Vụ thiêu rụi khách sạn – Trốn thoát.

Hãy nhìn thằng nhóc đó. Nó xanh xao và ốm yếu, trên người mặc một chiếc áo sơ mi vải lanh mỏng manh, rách tả tơi. Nó đang củi lò than trong bếp. Bên ngoài, những cánh đồng u ám trải dài với những mảng tuyết vương vãi, và xa hơn là những cánh rừng tối thẫm, nơi còn ẩn chứa vài con sói cuối cùng. Gia đình nó vốn được biết đến là những kẻ đốn củi và gánh nước, nhưng sự thật thì cha nó từng là một thầy giáo. Giờ ông nằm vật ra trong cơn say, ngâm nga những câu thơ của các thi nhân mà giờ đây tên tuổi đã bị lãng quên. Đứa bé nép mình bên ngọn lửa, nhìn ông.

“Vào cái đêm mà mày sinh ra. Năm ba mươi ba (1833) thì phải. Người ta gọi chúng là cơn mưa sao Leonids. Trời ơi, những vì sao rụng xuống vô vàn làm sao. Tao cứ mỏi mắt tìm những bóng tối, những lỗ hổng trên vòm trời. Chòm Đại Hùng bị ánh sao làm vỡ hẳn.”

Người mẹ đã chết mười bốn năm nay, từng ấp ủ trong lòng mình rằng cái sinh linh trong bụng sẽ cướp mạng bà đi. Người cha chẳng bao giờ gọi tên bà, thằng nhóc cũng không hề biết đến. Nó có một người chị em trên đời này mà nó sẽ chẳng bao giờ gặp lại. Nó ngồi đó nhìn, xanh xao và lấm lem. Nó không biết đọc, không biết viết, và trong sâu thẳm tâm hồn, một mầm mống bạo lực vô ý thức đã sớm ủ sẵn. Toàn bộ lịch sử hiện hữu trên khuôn mặt ấy, thằng nhóc là kẻ đại diện cho dòng tộc người cha.

Năm mười bốn tuổi, nó bỏ trốn. Nó sẽ không bao giờ còn thấy lại căn bếp lạnh lẽo trong bóng tối trước bình minh. Những đống củi, những chiếc chậu giặt. Nó lang thang về phía tây, xa tận Memphis, một kẻ lữ hành cô đơn trên vùng đồng bằng phẳng lặng với những cánh đồng mục đồng. Những người da đen ngoài đồng, người thì ốm o, người thì còng lưng, những ngón tay họ như nhện giăng giữa những quả bông. Một nỗi đau thầm lặng trong khu đồn điền. Trước ánh mặt trời lặn, những bóng người đang đi dần vào hoàng hôn chậm chạp, in trên đường chân trời như một tờ giấy mỏng. Một người nông phu đơn độc, da ngăm đen, thúc la và bừa xuống vùng trũng mưa gió, tiến về đêm tối.

Một năm sau, nó ở Saint Louis. Nó được nhận lên một chiếc sà lan để đi New Orleans. Bốn mươi hai ngày trên sông. Ban đêm, những chiếc tàu hơi nước rúc còi và lầm lũi ngang qua trên làn nước đen kịt, rực sáng như những thành phố trôi nổi. Dân địa phương tháo dỡ thuyền ra, bán số gỗ, và rồi nó bước đi trên những con phố, lắng nghe những thứ tiếng nó chưa từng nghe thấy bao giờ. Nó sống trong một căn phòng trên sân sau, phía sau một quán rượu, và ban đêm nó xuống đường như một con quái vật trong truyện cổ tích để đánh nhau với bọn thủy thủ. Nó không to lớn, nhưng nó có cổ tay to, bàn tay to. Vai nó rộng và vững chắc. Khuôn mặt của thằng nhóc vẫn kỳ lạ trong trắng. Đằng sau những vết sẹo, đôi mắt ngây thơ một cách kỳ quặc. Chúng đánh nhau bằng tay, bằng chân, bằng chai lọ hay dao găm. Đủ mọi chủng tộc, mọi giống loài. Những kẻ mà tiếng nói nghe như tiếng gầm của thú. Những kẻ từ những vùng đất xa xôi và kỳ lạ đến nỗi, khi đứng trên mình chúng khi đương nằm gục trong lớp bùn trộn máu, nó cảm thấy tính tàn bạo của cả nhân loại như được xác thực.

Vào một đêm nọ, một người lái tàu người Malta bắn lén nó sau lưng bằng một khẩu súng lục nhỏ. Đang xoay người để đối phó với gã, nó bị bắn thêm một phát nữa, ngay dưới tim. Gã bỏ chạy, và nó tựa vào quầy bar, máu chảy ra thấm đẫm áo sơ mi. Những người khác quay mặt đi. Một lúc sau, nó ngồi phịch xuống sàn.

Nó nằm trên một chiếc giường xếp trong căn phòng trên lầu suốt hai tuần, trong khi vợ của chủ quán rượu chăm sóc nó. Bà mang cơm cho nó, bà dọn đồ thải ra. Một người đàn bà có nét mặt cứng cỏi, thân hình rắn chắc như đàn ông. Đến khi nó bình phục, nó chẳng còn đồng nào để trả cho bà, thế là nó bỏ trốn trong đêm và ngủ trên bờ sông cho đến khi tìm được một con thuyền nhận nó lên. Con thuyền đó đang đi Texas.

Chỉ đến lúc này, thằng nhóc cuối cùng mới rũ bỏ được tất cả những gì nó đã từng là. Nguồn cội của nó trở nên xa xôi, cũng như vận mệnh của nó, và sẽ không bao giờ, trong suốt vòng quay của thế giới này, còn có những vùng đất nào hoang dã và man rợ đến thế, để thử thách liệu bản chất của tạo hóa có thể được uốn nắn theo ý muốn con người, hay liệu trái tim của chính nó chẳng qua chỉ là một thứ đất sét khác mà thôi. Những hành khách trên thuyền là một lũ người dè dặt, khép kín. Họ thu mình trong đôi mắt, và chẳng ai hỏi người khác điều gì đã đưa họ đến đây. Nó ngủ trên boong tàu, một kẻ hành hương giữa những kẻ hành hương khác. Nó nhìn bờ biển mờ ảo nhô lên rồi hạ xuống. Những con chim biển xám ngơ ngác. Những đàn bồ nông lượn ven bờ trên những ngọn sóng xám.

Họ xuống tàu bằng một chiếc sà lan nhẹ, những người định cư cùng với tài sản của họ, tất cả đều ngắm nhìn đường bờ biển thấp thoáng, dải cát mỏng và những cây thông chổi bơi trong màn sương mù. Thằng nhóc bước qua những con phố hẹp của cảng. Không khí sực mùi muối và gỗ mới cưa. Ban đêm, lũ gái điếm gọi nó từ bóng tối như những linh hồn đang khao khát. Một tuần trôi qua, nó lại lên đường, với vài đồng bạc lẻ trong túi kiếm được, một mình bước trên những con đường cát của đêm miền Nam, hai tay nắm chặt trong túi vải bông của chiếc áo khoác rẻ tiền. Những con đường đắp cao bằng đất băng qua vùng đầm lầy. Những con cò trắng trong các đàn chim của chúng, trắng như nến giữa rêu phong. Gió mang theo một sắc thái sắc lạnh, và những chiếc lá lướt bên vệ đường rồi rượt đuổi nhau trên những cánh đồng đêm. Nó di chuyển về phía bắc qua những khu định cư nhỏ và trang trại, làm công ngày để lấy tiền ăn ở. Nó chứng kiến cảnh một kẻ sát phụ bị treo cổ tại một ngã tư đường trong một ngôi làng nhỏ, và những người bạn của gã chạy tới kéo chân gã, và gã treo đó, đã chết, trong khi nước tiểu làm sẫm màu chiếc quần của gã.

Thằng nhóc làm việc ở xưởng cưa, rồi đến trong nhà cách ly bệnh bạch hầu. Nó nhận thù lao từ một người nông dân là một con la già, rồi cưỡi con vật yếu ớt ra đi vào mùa xuân năm 1849, đi ngược lên qua cái di tích cộng hòa Fredonia muộn màng ấy để vào thị trấn Nacogdoches.

Mục sư Green đã diễn trước một khán phòng chật kín mỗi ngày, suốt từ khi cơn mưa bắt đầu đổ xuống, và cơn mưa đã rơi suốt hai tuần nay. Khi thằng nhóc khom người chui vào chiếc lều vải thô sơ, chỉ còn chỗ đứng dọc theo các vách lều, một vài chỗ lẻ tẻ, và mùi ẩm ướt cùng mùi người chưa tắm bốc lên nồng nặc, đến nỗi chính họ thỉnh thoảng phải xông ra ngoài mưa để hít thở không khí trước khi cơn mưa lại đuổi họ vào trong. Nó đứng cùng với những kẻ đồng loại dọc theo bức tường phía sau. Điều duy nhất có thể khiến nó nổi bật giữa đám đông ấy là nó không mang vũ khí.

“Hỡi các anh chị em”, mục sư nói, “hắn không thể nào tránh khỏi những cái địa ngục, địa ngục, địa ngục này ngay tại Nacogdoches.
Tôi nói với hắn, tôi nói: ‘Anh định đem con trai của Chúa vào trong đó cùng với anh à?’
Và hắn đáp: ‘Ồ không. Không, tôi không đem.’
Và tôi nói: ‘Anh không biết rằng Người đã phán: ‘Ta sẽ theo con luôn mãi cho đến tận cùng con đường’ hay sao?’”
“Ờ”, hắn nói, “tôi có đòi hỏi ai đi đâu đâu.”
Và tôi nói: “Hỡi anh chị em, chẳng cớ chi phải đòi hỏi. Người sẽ ở đó cùng với anh chị em từng bước đường, dù anh chị em có cầu xin hay không.”
Tôi hỏi anh em rằng: “Dẫu đã biết không thể nào thoát khỏi Người. Thì bây giờ, anh chị em có định kéo Người, kéo Người vào cái ổ địa ngục kia không?...”

“Này chú em, đã từng thấy nơi nào mưa như thế này chưa?””

Thằng nhóc đã quan sát vị mục sư. Nó quay sang người đàn ông vừa lên tiếng. Hắn ta để bộ ria mép dài theo kiểu của bọn đánh xe ngựa, và đội một chiếc mũ vành rộng với chóp thấp tròn. Mắt hắn hơi lác, và hắn đang nhìn thằng nhóc một cách chăm chú như thể muốn biết ý kiến của nó về cơn mưa.

“Tôi mới đến đây thôi”, thằng nhóc nói.

“Ừ thì nó khó hiểu hơn tất cả những gì anh đây từng nghe.”

Thằng nhóc gật đầu.

Một người đàn ông to lớn mặc chiếc áo mưa bằng vải dầu bước vào lều và bỏ mũ ra. Ông ta trọc đầu như một hòn đá, không một vết râu trên mặt, không có lông mày cũng như lông mi. Ông ta cao gần bảy foot (~210cm), và đứng đó hút một điếu xì gà ngay trong ngôi nhà thờ lưu động này, dường như ông ta chỉ bỏ mũ ra để hất mưa khỏi nó, bởi giờ ông ta lại đội nó lên.

Vị mục sư đã ngừng hẳn bài thuyết giáo của mình. Không một âm thanh nào trong lều. Tất cả đều nhìn người đàn ông đó. Ông ta chỉnh lại chiếc mũ, rồi chen lấn về phía trước, tiến đến chiếc bục giảng bằng ván thùng nơi vị mục sư đang đứng, và ở đó ông ta quay lại để nói với hội chúng của vị mục sư. Khuôn mặt ông ta thanh thản và kỳ lạ như một đứa trẻ. Đôi bàn tay ông ta nhỏ nhắn. Ông ta giơ chúng ra.

“Thưa quý ông quý bà, tôi cảm thấy có bổn phận phải thông báo với các vị rằng kẻ đang tổ chức buổi phục hưng đức tin này là một kẻ mạo danh. Hắn không có bất kỳ chứng chỉ thần học nào từ bất kỳ học viện nào, dù được công nhận hay không. Hắn hoàn toàn thiếu mọi tư cách tối thiểu cho cương vị mà hắn đã chiếm đoạt, và chỉ học thuộc lòng vài đoạn trong Kinh Thánh nhằm mục đích tô điểm cho những bài thuyết giáo giả dối của hắn, một chút hương vị mỏng manh của lòng mộ đạo mà hắn khinh miệt. Sự thật là, người đàn ông đang đứng trước mặt các vị đây, giả dạng làm một mục sư của Chúa, không chỉ hoàn toàn mù chữ mà còn đang bị pháp luật truy nã tại các bang Tennessee, Kentucky, Mississippi và Arkansas.”

“Ôi Chúa ơi”, vị mục sư kêu lên. “Dối trá, toàn dối trá!” Ông ta bắt đầu đọc một cách cuồng loạn từ cuốn Kinh Thánh đang mở của mình.

“Về đủ loại tội danh, mới nhất trong số đó liên quan đến một bé gái mười ba tuổi – tôi nhấn mạnh là mười ba tuổi, khi cô bé đã đến với hắn trong lòng tin cậy và bị hắn bắt quả tang đang cưỡng bức trong khi vẫn mặc bộ áo của Chúa.”

Một tiếng rên rỉ lan qua đám đông. Một quý bà khuỵu xuống quỳ gối.

“Chính hắn đây”, mục sư khóc lóc gào lên. “Chính hắn đây. Quỷ dữ. Hắn đang đứng ngay đây.”

“Treo cổ thằng cứt ấy đi”, một tên thô lỗ xấu xí từ tầng trên phía sau hét lên.

“Chưa đầy ba tuần trước vụ này hắn đã bị đuổi khỏi Fort Smith, Arkansas vì đã giao hợp với một con dê. Vâng thưa bà, tôi không nói khoác đâu. Một con dê.”

“Trời đánh thằng cha nội, tao mà không bắn thằng chết tiệt kia thì tao không phải người”, một người đàn ông ở phía xa bên kia lều vừa nói vừa đứng dậy, và rút khẩu súng lục từ trong ủng ra, ngắm và bắn.

Người đánh xe trẻ tuổi lập tức rút một con dao từ trong quần áo, rạch toang tấm bạt và bước ra ngoài cơn mưa. Thằng nhóc đi theo. Chúng cúi thấp người và chạy qua bùn lầy về phía khách sạn. Tiếng súng đã vang lên khắp nơi trong lều, hàng tá lối thoát đã bị rạch qua các bức tường bạt, người ta đổ ra ngoài, phụ nữ la hét, người ta ngã nhào, người ta bị giày xéo dưới bùn. Thằng nhóc và người bạn của nó đến được hiên khách sạn, lau nước khỏi mắt và quay lại nhìn. Khi chúng làm vậy, chiếc lều bắt đầu nghiêng ngả và oằn xuống, và như một con sứa khổng lồ bị thương, nó từ từ sụp xuống đất, kéo theo những bức tường bạt rách tả tơi và những sợi dây cột cũ kỹ phủ xuống mặt đất.​
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG I (tiếp)
Người đàn ông đầu trọc vừa nãy đã có mặt ở quầy bar khi họ bước vào. Trên mặt gỗ bóng loáng trước mặt ông ta là hai chiếc mũ và một nắm đôi đồng xu. Ông nâng ly lên nhưng không phải để chào họ. Họ đứng dậy bên quầy và gọi rượu whisky, thằng nhóc đặt tiền của mình xuống nhưng tay bồi đẩy nó trở lại bằng ngón tay cái và gật đầu.

"Chỗ này đã được ngài phán quan bao rồi", tay bồi nói.

Họ uống. Người đánh xe đặt ly xuống và nhìn thằng nhóc, hoặc có vẻ là vậy, không thể nào chắc chắn về hướng nhìn của hắn. Thằng nhóc nhìn dọc quầy bar đến nơi quan tòa đứng. Quầy bar cao đến nỗi không phải ai cũng có thể chống khuỷu tay lên được, nhưng nó chỉ vừa ngang thắt lưng của phán quan, và ông ta đứng đó, hai tay đặt phẳng trên mặt gỗ, hơi nghiêng người, như thể sắp sửa có một bài diễn thuyết nữa. Lúc này, người ta đổ vào qua ô cửa, người thì chảy máu, người thì phủ đầy bùn, người thì chửi thề. Họ tụ tập quanh tay phán quan. Một toán người đang được tập hợp để truy đuổi vị mục sư.

“Thưa phán quan, làm sao ngài biết rõ về tên vô lại đó đến vậy?”

“Biết rõ?” tay phán quan thản nhiên hỏi lại.

“Ngài đã từng ở Fort Smith?”

“Fort Smith?”

“Ở đâu ngài biết hắn để biết tất cả những chuyện đó về hắn?”

“Ý ông là Mục sư Green?”

“Vâng thưa ngài. Tôi đoán ngài đã ở Fort Smith trước khi đến đây.”

“Tôi chưa bao giờ đặt chân đến Fort Smith trong đời. Khả năng là hắn cũng vậy.”

Họ nhìn nhau bối rối.

“Vậy ngài đã gặp hắn ở đâu?”

“Tôi chưa từng thấy mặt người đàn ông đó trước ngày hôm nay. Chưa từng nghe tên hắn.”

Ông ta nâng ly và uống.

Một sự im lặng kỳ lạ bao trùm căn phòng. Những người đàn ông lúc này trông như những pho tượng bùn. Cuối cùng, ai đó bật cười. Rồi một người khác. Chẳng bao lâu sau, tất cả cùng cười. Ai đó đã mời phán quan một ly.

Trời mưa ròng suốt mười sáu ngày khi nó gặp Toadvine, và trời vẫn còn đang mưa. Nó vẫn đang đứng trong cùng quán rượu đó, và nó đã uống hết tiền, chỉ còn lại hai đô la. Người đánh xe đã đi rồi, căn phòng gần như trống rỗng. Cửa mở toang, và có thể thấy mưa đang rơi trên bãi đất trống phía sau khách sạn. Nó uống cạn ly và bước ra ngoài. Có những tấm ván bắc ngang qua bùn, và nó đi theo dải ánh sáng mờ nhạt từ cánh cửa xuống phía những nhà vệ sinh gỗ ở cuối bãi đất. Một người đàn ông khác đang đi lên từ phía nhà vệ sinh, và họ gặp nhau ở giữa trên những tấm ván hẹp. Người đàn ông trước mặt nó lắc lư nhẹ. Vành mũ ướt của hắn rủ xuống hai bên vai, trừ phần trước đã được ghim ngược lên. Hắn cầm lỏng một chai rượu trong một tay. “Mày tốt nhất là tránh đường cho tao”, hắn nói.

Thằng nhóc không có ý định làm điều đó, và nó thấy chẳng ích gì khi bàn cãi. Nó đá vào hàm người đàn ông. Hắn ngã xuống và đứng dậy. Hắn nói: “Tao sẽ giết mày.”

Hắn vung chai rượu và thằng nhóc cúi né, hắn vung tiếp và thằng nhóc lùi lại. Khi thằng nhóc đấm hắn, hắn đập vỡ chai rượu vào bên đầu nó. Nó ngã khỏi tấm ván xuống bùn và hắn lao theo nó với mảnh chai sắc nhọn, cố thọc vào mắt nó. Thằng nhóc đỡ đẩy bằng tay và chúng trơn trượt vì máu. Nó liên tục cố thò tay vào ủng để rút dao.

“Tao sẽ đâm chết mày”, tên đàn ông nói. Họ vật lộn trong bóng tối của bãi đất trống, giày tuột khỏi chân. Thằng nhóc đã có dao trong tay và hai bên xoay vòng tròn như cua, và khi người đàn ông lao tới, nó cắt toang áo hắn. Hắn ném mảnh chai xuống và rút từ sau gáy ra một con dao găm khổng lồ. Mũ hắn đã rơi mất, và những lọn tóc đen như thừng quay quanh đầu hắn, và hắn đã rút gọn những lời đe dọa thành một từ duy nhất “giết” như một điệp khúc điên dại.

“Thằng đó bị chém rồi”, một trong số mấy người đàn ông đứng dọc theo lối đi xem nói.

“Giết! Giết mày!”, gã đàn ông lội về phía trước lẩm bẩm đầy nước bọt.

Nhưng có người khác đang đi xuống bãi đất trống, những tiếng chân dẫm lên bùn rõ đều đặn như một con bò. Hắn ta mang theo một cây gậy tày to tướng. Hắn đến chỗ thằng nhóc trước, và khi hắn vung cây gậy, thằng nhóc ngã sấp mặt xuống bùn. Nó đã chết nếu không có ai đó lật nó lại.

Khi nó tỉnh dậy, trời đã sáng và mưa đã tạnh, và nó đang nhìn lên khuôn mặt của một người đàn ông tóc dài, phủ đầy bùn.

Người đàn ông đang nói gì đó với nó.

“Gì cơ?” thằng nhóc nói.

“Tôi hỏi là chú em đây có chịu thua không?”

“Thua?”

“Thua. Vì nếu chú muốn thêm một trận với tôi thì chắc chắn chú sẽ ăn được đấy.”

Nó nhìn lên trời. Rất cao, rất nhỏ, một con chim ó đang lượn lờ. Nó nhìn người đàn ông. “Cổ tôi có gãy không?” nó nói.

Người đàn ông nhìn ra bãi đất trống, nhổ nước bọt và nhìn lại thằng nhóc. “Không tự đứng dậy được à?”

“Tôi không biết, chưa thử.”

“Tôi không cố ý làm gãy cổ chú đâu.”

“Chắc là không.”

“Tôi định giết chú lúc đó cơ.”

“Chưa ai làm được điều đó cả.” Nó bấu vào bùn và đẩy mình dậy.

Người đàn ông đang ngồi trên những tấm ván với đôi ủng đặt bên cạnh. “Mà thế chắc cũng chẳng có vấn đề gì với chú”, gã nói.

Thằng nhóc cứng đờ nhìn quanh ngày mới. “Ủng của tôi đâu?” nó nói.

Người đàn ông nheo mắt nhìn nó. Những mảnh bùn khô rơi khỏi mặt gã.

“Tôi sẽ phải giết thằng khốn nào đó nếu chúng lấy mất ủng của tôi.”

“Thế thì đằng kia trông giống một đôi đấy.”

Thằng nhóc lầm lũi bước qua bùn và mò được một chiếc ủng. Nó lội quanh trong sân, sờ nắn những cục bùn có hình dáng nghi ngờ.

“Con dao này của ông anh à?” nó nói.

Người đàn ông nheo mắt nhìn nó. “Trông giống thế”, gã nói.

Thằng nhóc ném nó cho gã, gã cúi xuống nhặt lên và lau lưỡi dao to đùng vào ống quần. “Tưởng thằng nào đã cướp mày rồi”, gã rủ rỉ với con dao.

Thằng nhóc tìm thấy chiếc ủng còn lại và đến ngồi xuống trên những tấm ván. Hai tay nó đầy bùn, nó phớt qua một tay lên đầu gối rồi để nó thõng xuống lần nữa.

Chúng ngồi đó bên cạnh nhau, nhìn ra bãi đất trống cằn cỗi. Ở rìa bãi đất có một hàng rào cọc, và sau hàng rào, một cậu bé đang kéo nước ở giếng, và có những con gà trong sân đó. Một người đàn ông từ cửa quán rượu đi xuống lối đi về phía nhà ngoài. Hắn dừng lại nơi chúng ngồi, nhìn chúng, rồi bước xuống bùn. Một lúc sau, hắn trở lại và lại bước xuống bùn, đi vòng qua và tiếp tục lên lối đi.

Họ ngồi đó bên cạnh nhau, nhìn ra bãi đất trống cằn cỗi. Ở rìa bãi đất có một hàng rào cọc, và sau hàng rào, một cậu bé đang kéo nước ở giếng, và có những con gà trong sân đó. Một người đàn ông từ cửa quán rượu đi xuống lối đi về phía nhà ngoài. Gã dừng lại nơi họ ngồi, nhìn chúng, rồi bước xuống bùn. Một lúc sau, gã trở lại và lại bước xuống bùn, đi vòng qua và tiếp tục lên lối đi.

Thằng nhóc nhìn người đàn ông. Đầu gã dài một cách kỳ lạ và tóc hắn được bùn bó chặt thành một kiểu tóc kỳ quái, nguyên thủy. Trên trán gã có những chữ cái bị hằn sâu vào: 'H-T', và ở dưới, gần như giữa hai mắt, chữ 'F', và những vết sẹo này xòe rộng và loang lổ, như thể bàn ủi đã để quá lâu. Khi gã quay sang nhìn thằng nhóc, nó có thể thấy gã không có tai. Gã đứng dậy, tra dao vào vỏ và bắt đầu đi lên lối đi với đôi ủng trên tay, và thằng nhóc đứng dậy đi theo. Giữa đường đến khách sạn, người đàn ông dừng lại, nhìn ra đống bùn, rồi ngồi xuống trên những tấm ván và kéo đôi ủng vào, bùn và tất cả. Rồi gã đứng dậy và lội qua bãi đất để nhặt một thứ gì đó.

“Ôi xem này!”, gã nói. “Cái mũ chết tiệt của tôi.”

Chẳng thể đoán ra nó là gì, có vẻ thứ gã nhặt vốn không có sự sống. Tên này vẩy nó và đội lên đầu rồi đi tiếp, và thằng nhóc đi theo.

Quán rượu là một hành lang dài hẹp được ốp gỗ đánh véc-ni. Có những cái bàn dọc theo tường và những cái ống nhổ trên sàn. Không có khách nào. Người phục vụ ngẩng lên khi họ bước vào, và một tên da đỏ đang quét sàn dựng cây chổi vào tường và đi ra ngoài.

“Sidney đâu?” người đàn ông trong bộ đồ bùn hỏi.

“Trên giường, tôi đoán thế.”

Họ tiếp tục đi.

"Toadvine", người phục vụ quán rượu gọi.

Thằng nhóc quay lại.

Người phục vụ đã ra khỏi quầy và đang nhìn theo họ. Họ băng qua từ cửa vào sảnh khách sạn về phía cầu thang, để lại những dấu vết bùn đủ hình dạng trên sàn nhà. Khi họ bắt đầu bước lên cầu thang, nhân viên lễ tân ở bàn ghi sổ nghiêng người gọi họ.

"Toadvine."

Gã dừng lại và quay nhìn.

"Hắn sẽ bắn chết anh đấy."

"Lão Sidney à?"

"Đúng, lão Sidney."

Họ tiếp tục lên cầu thang.

Ở cuối cầu thang là một hành lang dài với một ô cửa sổ hắt ánh sáng ở cuối lối. Dọc hai bên tường là những cánh cửa đánh véc-ni, mọc sát nhau đến nỗi cứ tưởng như đó là các tủ chứa đồ. Toadvine tiếp tục bước đến cuối hành lang. Gã ghé tai vào cánh cửa cuối cùng, mắt liếc về phía thằng nhóc.

“Chú em có que diêm nào không?”

Thằng nhóc lục túi và móc ra một hộp gỗ móp méo, nhem nhuốc. Gã đàn ông giật lấy nó từ tay hắn. “Chỗ này cần chút mồi lửa”, gã nói. Gã bóp vụn cái hộp và chồng những mảnh gỗ lên nhau áp vào cánh cửa. Gã đánh một que diêm và châm lửa cho đống găm. Gã đẩy đống củi lửa nhỏ đó qua khe dưới cánh cửa và lại ném thêm mấy que diêm nữa.

“Hắn ở trong đó à?”, thằng nhóc nói.

“Đấy là cái thứ mà ta sắp coi cho rõ đây.”

Một cuộn khói đen uốn lượn bốc lên, ngọn lửa xanh của lớp véc-ni cháy rực. Họ ngồi xổm trong hành lang mà nhìn. Những ngọn lửa mảnh bắt đầu chạy dọc theo các ô gỗ rồi lại cong vào bên trong. Hai người đứng nhìn trông tựa như những bộ hài cốt vừa được khai quật từ dưới đầm lầy lên.

“Gõ cửa luôn đi”, Toadvine bảo.

Thằng nhóc đứng dậy. Toadvine cũng đứng thẳng người và chờ. Họ có thể nghe tiếng lửa bén vào bên trong phòng. Thằng nhóc gõ cửa.

“Gõ to hơn một tí nữa đi. Thằng cha này nhậu ghê lắm.”

Nó nắm chặt bàn tay và đập mạnh vào cửa chừng năm cái.

“Cái mẹ gì thế!” – một giọng nói vọng ra.

“Xem kìa, thằng cha này lộ diện rồi.”

Họ chờ.

“Mẹ kiếp, nóng quá!” – giọng nói ấy vọng ra. Rồi núm cửa xoay và cánh cửa mở ra. Hắn đứng đó, trong bộ quần áo lót, một tay cầm cái khăn tắm vừa dùng để xoay núm cửa. Khi thấy hai người, hắn quay người bước vội trở vào phòng nhưng Toadvine đã túm lấy cổ hắn, quật hắn xuống sàn, giữ đầu hắn bằng tóc và bắt đầu móc mắt hắn ra bằng ngón tay cái. Tên kia nắm lấy cổ tay gã và cắn.

“Đá vỡ mồm nó đi” – Toadvine gào. “Đá đi.”

Thằng nhóc bước qua họ vào trong phòng, quay lại và đá thẳng vào mặt gã đàn ông. Toadvine giữ đầu hắn ngửa ra bằng tóc.

“Đá đi”, gã hét. “Ừ, đá vỡ mồm hắn đi, cưng ơi.”

Nó đá.

Toadvine kéo cái đầu đầy máu của Sidney lại, ngắm nghía nó, rồi để thõng xuống sàn, đứng dậy và tự mình đá thêm một phát nữa. Hai kẻ khán giả bất đắc dĩ đang đứng xem ở hành lang. Cánh cửa đã bốc cháy hoàn toàn, một phần tường và trần nhà cũng vậy. Họ đi ra và bước dọc hành lang. Tên lễ tân đang chạy lên cầu thang, mỗi lần hai bậc.

“Toadvine, mẹ cái thằng chó đẻ nhà mày!” – hắn ta nói.

Nhưng Toadvine đã cách hắn bốn bậc cầu thang, và khi gã tung cước, chân gã trúng thẳng vào cổ họng tên lễ tân. Tên lễ tân ngồi bệt xuống cầu thang. Khi thằng nhóc đi qua, nó đấm vào mang tai hắn ta, và tên lễ tân gục xuống, bắt đầu trượt dần về phía chiếu nghỉ. Thằng nhóc bước qua người hắn, đi xuống sảnh, băng qua cửa trước và ra ngoài.

Toadvine đang chạy dọc phố, điên cuồng vung nắm đấm lên trên đầu và cười vang. Trông gã giờ đây giống như một con búp bê voodoo bằng đất sét khổng lồ bỗng nhiên sống dậy, và thằng nhóc trông cũng chẳng khác gì một con búp bê như vậy. Sau lưng họ, những ngọn lửa đang liếm dần vào góc trên cùng của khách sạn, và những đám khói đen cuồn cuộn bốc lên trong buổi sáng ấm áp của Texas.

Toadvine đã để con la lại cho một gia đình người Mexico nhận giữ gia súc ở rìa thị trấn, và khi gã đến đó, trông hắn hoang dại, thở hổn hển. Người đàn bà mở cửa nhìn gã.

“Tôi cần lấy con la của tôi” – gã thở hồng hộc.

Bà ta nhìn gã thêm một lúc, rồi gọi vào phía trong nhà. Gã đi vòng ra sau. Có mấy con ngựa bị cột trong bãi, và có một chiếc xe bò phẳng dựa vào hàng rào với mấy con gà tây đậu trên mép nhìn ra ngoài. Bà lão đã ra đứng ở cửa sau. “Nito” – bà gọi – “Nào, có một quý ông ở đây đang chờ mày.

Gã đi xuống dãy nhà kho đến phòng để đồ và lấy cái yên ngựa tồi tàn cùng cái túi chăn của mình rồi mang ra. Gã tìm thấy con la, dẫn nó ra khỏi chuồng, đeo vào đầu nó chiếc dây cương bằng da sống, rồi dắt nó ra hàng rào. Gã áp vai vào con vật, vắt cái yên lên lưng nó và thắt chặt đai yên, trong khi con la cứ giật mình, né tránh và cọ đầu dọc theo hàng rào. Gã dắt nó băng qua bãi. Con la cứ lắc đầu lia lịa như thể có gì đó trong tai.

Gã dắt nó ra đường cái. Khi đi ngang qua nhà, người đàn bà chạy lẽo đẽo theo sau gã. Khi bà thấy gã đặt chân vào bàn đạp, bà bắt đầu chạy. Gã vút mình lên cái yên đã sứt mẻ và thúc con la tiến về phía trước. Bà ta dừng lại ở cổng và nhìn hắn khuất dần. Gã không quay đầu lại.

Khi gã đi ngang qua thị trấn lần nữa, khách sạn đang cháy và những người đàn ông đứng xung quanh nhìn ngắm, vài kẻ tay cầm những chiếc xô rỗng. Một vài người đàn ông ngồi trên lưng ngựa quan sát ngọn lửa, và một trong số đó là tay phán quan. Khi thằng nhóc cưỡi la đi ngang qua, tay phán quan quay người lại và nhìn theo nó. Ông ta quay con ngựa, như thể muốn con vật cũng cùng nhìn theo. Khi thằng nhóc ngoảnh lại, tay phán quan mỉm cười. Thằng nhóc thúc con la tiến nhanh hơn, và chúng chạy xình xịch qua ngôi pháo đài đá cũ kỹ, men theo con đường hướng về phía tây.​
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG II

Băng qua thảo nguyên – Một ẩn sĩ – Trái tim da đen – Đêm bão tố – Lại về hướng tây – Những người lùa gia súc – Lòng tốt của họ – Lên đường trở lại – Xe chở xác chết – San Antonio de Bexar – Một quán rượu Mexico – Một trận đánh nhau nữa – Nhà thờ bị bỏ hoang – Xác chết trong phòng thánh – Tại bến đò – Tắm trên sông.
Giờ thì nó bắt đầu những ngày đi ăn xin, những ngày đi trộm cắp. Những ngày nó cưỡi ngựa trên những con đường vắng tanh, chẳng có ai ngoài nó. Nó đã bỏ lại phía sau vùng đất trồng thông, và mặt trời chiều đang lặn dần trước mặt nó, bên kia những cánh đồng trũng kéo dài không dứt. Màn đêm ập xuống như một tiếng sấm, kèm theo cơn gió lạnh khiến đám cỏ cọ vào nhau kêu ken két. Bầu trời đêm đầy sao đến mức gần như không còn chỗ nào tối đen, và suốt đêm chúng rơi thành những vệt sáng chói, vậy mà số sao vẫn không hề giảm bớt đi.

Nó tránh xa con đường chính để không gặp lính tuần. Bầy sói đồng cỏ nhỏ hú suốt đêm, và khi bình minh lên, nó đang nằm trong một cái hố đào lót cỏ — cái hố nó tự đào để tránh gió. Con la bị cùm đứng ngay cạnh đầu nó, nhìn về phía đông đón ánh nắng sớm.

Mặt trời mọc lên, màu như thép nung đỏ. Cái bóng của nó trên lưng ngựa kéo dài hàng dặm về phía trước. Trên đầu nó đội một cái mũ làm bằng lá cây, giờ đã khô và nứt nẻ dưới nắng. Trông nó chẳng khác gì một kẻ rách rưới lạc lõng bước ra từ một khu vườn nào đó — cái kiểu bù nhìn mà người ta thuê về để dọa lũ chim.

Đến chiều, nó phát hiện một cột khói vươn lên xiên xẹo từ giữa những ngọn đồi thấp, và trước khi trời tối, nó đã đứng dưới ngưỡng cửa gọi vào một túp lều của một vị ẩn sĩ già, người đang ẩn mình trong đám cỏ như một con chuột chũi. Cô độc, gần như điên loạn, đôi mắt ông ta đỏ ngầu như bị nhốt trong lồng bằng những sợi dây nóng đỏ. Nhưng dù sao cũng là một thân xác nặng nề. Ông ta đứng nhìn không nói lời nào trong khi thằng nhóc chậm chạp, cứng đờ tuột xuống khỏi con la. Một cơn gió dữ đang thổi, những mảnh vải rách của nó bay phần phật quanh người.

"Thấy khói của ông", thằng nhóc nói. "Tưởng ông có thể cho một thằng lang bạt như tôi một ngụm nước."

Ông lão ẩn sĩ gãi vào mái tóc bẩn thỉu và nhìn xuống đất. Ông quay người bước vào túp lều và thằng nhóc theo sau.

Bên trong tối đen và mùi đất. Một ngọn lửa nhỏ cháy trên nền đất và đồ đạc duy nhất là một đống da thú ở một góc. Ông già lê bước trong bóng tối, cúi đầu để khỏi đụng trần thấp đan bằng cành cây và bùn. Ông chỉ xuống chỗ một cái xô đứng trên nền đất. Thằng nhóc cúi xuống, nhấc cái bầu đang nổi trên đó lên, múc và uống. Nước mặn, có mùi diêm sinh. Nó uống tiếp.

“Ông nghĩ tôi có thể cho con la già của tôi ngoài đó uống nước không?”

Ông già bắt đầu đấm vào lòng bàn tay bằng một nắm đấm và đưa mắt nhìn quanh.

“Tôi sẵn lòng đi lấy nước mới mang về. Chỉ cần ông nói nó ở đâu.”

“Cậu định lấy gì cho nó uống?”

Thằng nhóc nhìn cái xô, rồi nhìn quanh trong túp lều mờ tối.

“Tôi không uống sau con la đâu” – ông ẩn sĩ nói.

“Ông không có cái xô cũ hay thứ gì tương tự à?”

“Không” – ông ẩn sĩ kêu lên. “Không. Tôi không có.” Ông già vỗ hai gót nắm đấm đang siết chặt vào nhau trước ngực.

Thằng nhóc đứng dậy và nhìn về phía cửa. “Tôi sẽ kiếm thứ gì đó”, nó nói. “Giếng ở đâu?”

“Trên đồi, theo lối mòn.”

“Ngoài này gần như tối không thấy gì.”

“Đó là một lối mòn sâu. Hãy theo chân cậu và theo con la của cậu. Tôi không thể đi được.”

Nó bước ra ngoài trong gió và nhìn quanh tìm con la nhưng con la chẳng đâu cả. Xa về phía nam, chớp lóe lên không một tiếng động. Nó đi lên theo lối mòn giữa những đám cỏ dại quất tới tấp và tìm thấy con la đang đứng bên giếng.

Một cái hố trên cát với những tảng đá xếp xung quanh. Một miếng da khô làm nắp và một hòn đá đè lên để giữ chặt. Có một cái xô bằng da sống với quai da sống và một sợi dây da mỡ. Cái xô có một hòn đá buộc vào quai để giúp nó nghiêng và đầy nước, và thằng nhóc thả nó xuống cho đến khi sợi dây trong tay nó chùng xuống trong khi con la nhìn qua vai nó.

Nó kéo lên ba xô nước và giữ chúng để con la không làm đổ, rồi nó đậy nắp giếng lại và dắt con la đi xuống con đường mòn về phía túp lều.

"Cảm ơn ông vì đã cho tôi uống nước", nó gọi.

Người ẩn sĩ hiện ra trong bóng tối ở ngưỡng cửa. "Cứ ở lại đây với tôi", ông ta nói.

"Được thôi."

"Ở lại thì tốt nhất rồi. Trời sắp có bão đấy."

"Ông nghĩ vậy à?"

"Tôi nghĩ và tôi cam đoan là đúng."

"Ừ."

"Mang tấm bạt và đồ đạc của cậu vào."

Nó tháo dây yên và quăng xuống, cùm chân trước với chân sau của con la và mang bộ đồ ngủ vào bên trong. Không có ánh sáng nào ngoài ngọn lửa, và ông già đang ngồi xổm bên cạnh nó theo kiểu thợ may.

"Chỗ nào cũng được, chỗ nào cũng được", ông ta nói. "Yên cưỡi của cậu đâu?"

Thằng nhóc ra hiệu bằng cái hất cằm.

"Đừng để nó ngoài kia, nó sẽ bị ăn thịt mất. Đây là vùng đất của đói khát."

Nó đi ra ngoài và đụng phải con la trong bóng tối. Nó đã đứng đó nhìn vào ngọn lửa.

"Tránh ra, đồ la ngu", nó nói. Nó nhấc yên lên và quay vào trong.

"Bây giờ kéo cánh cửa đó lại trước khi chúng ta bay mất", ông già nói.

Cánh cửa là một khối ván trên bản lề da. Nó kéo cánh cửa qua nền đất và buộc chặt bằng chốt da.

"Tôi đoán là cậu bị lạc đường", người ẩn sĩ nói.

"Không, tôi đã đi đúng đường."

Ông già vẫy tay nhanh. “Không, không”, ông nói. “Ý ta là cậu đã bị lạc mới đến được đây. Có trận bão cát không? Cậu có lạc đường trong đêm không? Bọn cướp có tấn công cậu không?”

Thằng nhóc trầm ngâm về điều này. “Chuẩn rồi”, nó nói, “Có lẽ tôi bị lạc đường bằng cách nào đó.”

“Biết mà.”

“Ông ở đây bao lâu rồi?”

“Ở đây là ở đâu?”

Thằng nhóc đang ngồi trên tấm chăn cuộn của mình, đối diện với ông già qua đống lửa. “Ở đây”, nó nói. “Trong nơi này này.”

Ông già không trả lời. Ông bỗng quay đầu sang một bên, lấy ngón cái và ngón trỏ bóp mũi và thổi hai dòng nước mũi xuống sàn, rồi lau tay vào đường may quần bò. “Ta đến từ Mississippi. Ta từng là một tay buôn nô lệ, chẳng muốn kể về điều đó. Làm ăn ổn định. Không bao giờ bị bắt. Chỉ là chán ngấy. Chán ngấy bọn da đen. Đợi đến khi ta cho cậu xem một thứ.”

Ông quay người lục lọi giữa những tấm da và đưa qua ngọn lửa một vật nhỏ xíu đen ngòm. Thằng nhóc xoay nó trong tay. Trái tim của một người đàn ông nào đó, khô và đen lại. Nó đưa trả lại, và ông già nâng nó trong lòng bàn tay như thể đang cân nó.

"Có bốn thứ có thể hủy diệt trái đất", ông nói. "Đàn bà, rượu, tiền bạc, và người da đen."

Họ ngồi im lặng. Gió rít lên trong đoạn ống lò thiếc xuyên qua mái nhà phía trên họ để dẫn khói ra ngoài. Một lúc sau, ông già cất trái tim đi.

"Thứ đó trị giá hai trăm đô la đấy", ông nói.

"Ông trả hai trăm đô cho nó à?"

“Đúng vậy, vì đó là giá chúng đã đề ra với thằng chó đẻ da đen mà nó từng nằm bên trong.”

Ông lão ẩn sĩ lục lạo trong góc và lôi ra một ấm đồng cũ đen, mở nắp và thọc một ngón tay vào bên trong. Phần còn lại của một con thỏ đồng cỏ gầy guộc được chôn trong mỡ lạnh và phủ một lớp mốc xanh nhạt. Ông già đậy nắp lại và đặt ấm vào lửa.
"Không nhiều nhưng chúng ta sẽ chia nhau", ông nói.

"Cảm ơn ông."

"Lạc đường trong bóng tối", ông già nói. Ông khuấy đống lửa, dựng những chiếc xương nhỏ dài như ngà vươn lên khỏi tro tàn.

Thằng nhóc không trả lời.

Ông già lắc đầu qua lại. "Đường của kẻ tội lỗi là gian nan. Chúa tạo ra thế giới này, nhưng Ngài không tạo ra nó để vừa ý tất cả mọi người, phải không?"

"Tôi không nghĩ Ngài có để ý đến tôi lắm."

“Phải”, ông già nói, “Nhưng một người đàn ông có được những ý niệm của mình từ đâu? Từ cõi nào mà hắn có thể chọn rằng nơi đó đáng ưa thích hơn cõi khác?”

“Tôi có thể nghĩ về những nơi tốt hơn và những cách tốt hơn.”

“Cậu có thể làm cho nó thành sự thật không?”

“Không.”

“Dĩ nhiên là không. Vì đó là một bí ẩn. Một người khó mà hiểu được tâm trí của chính mình, bởi vì tâm trí là thứ duy nhất hắn có để nhận biết mọi thứ — kể cả chính nó. Hắn có thể hiểu được trái tim mình, nhưng hắn không muốn. Đúng vậy. Tốt nhất là đừng nhìn vào đó. Trái tim đó không phải là trái tim của một sinh vật bị ràng buộc theo cách mà Chúa đã định sẵn cho nó. Cậu có thể tìm thấy sự ác độc trong những sinh vật nhỏ bé nhất, nhưng khi Chúa tạo ra con người, quỷ dữ đã đứng ngay bên cạnh Ngài. Một sinh vật có thể làm bất cứ điều gì. Chế tạo ra một cỗ máy. Rồi chế tạo ra một cỗ máy để làm ra cỗ máy đó. Và cái ác có thể tự vận hành suốt cả ngàn năm, không cần ai trông coi. Cậu có tin điều đó không?”​

“Tôi không biết.”

“Tốt hơn là nên tin điều đó.”

Khi đồ ăn của ông già đã được hâm nóng, ông chia bớt ra cho thằng nhóc và họ ăn trong im lặng.

Sấm đang di chuyển về phía bắc và chẳng bao lâu sau nó đã ầm ầm trên đầu, làm cho từng mảng rỉ sắt bắt đầu rơi thành dòng nhỏ xuống ống khói. Họ ngồi xổm trên đĩa ăn, lấy ngón tay quẹt sạch mỡ và uống nước từ cái bầu.

Thằng nhóc đi ra ngoài, cọ chén và đĩa của mình trong cát, rồi quay vào, đập hai cái đồ hộp vào nhau như thể đang xua đuổi một bóng ma sa mạc nào đó ngoài kia trong bóng tối. Những đám mây giông từ xa vươn lên cao đầy uy hiếp, run rẩy trên nền trời lấp lánh điện, rồi lại bị hút vào bóng tối. Ông già ngồi đó, vểnh một tai về phía vùng hoang vu đang gào thét bên ngoài. Thằng nhóc đóng cánh cửa lại.

“Không có thuốc lá mang theo à?”

“Không, tôi không có” – thằng nhóc đáp.

“Cũng không nghĩ cậu có.”

“Ông nghĩ trời sẽ mưa không?”

“Trời có đủ yếu tố để mưa. Nhưng có lẽ sẽ không.”

Thằng nhóc nhìn ngọn lửa. Nó đã bắt đầu gà gật. Cuối cùng nó ngồi thẳng dậy và lắc đầu. Ông ẩn sĩ nhìn nó qua ngọn lửa đang tàn. “Cứ đi mà dọn chỗ ngủ đi” – ông nói.

Nó làm vậy. Trải chăn ra trên nền đất nện, cởi đôi ủng thối hoắc của mình. Ống khói rền rĩ và nó nghe con la giậm chân và thở phì phì bên ngoài, và trong giấc ngủ nó vật vã và lẩm bẩm như một con chó đang ngủ mớ.

Đến nửa đêm, nó tỉnh dậy trong túp lều gần như tối đen, và ông ẩn sĩ đang cúi trên người nó, gần như nằm trong chỗ ngủ của nó.

“Ông muốn gì?” – nó nói. Nhưng ông ẩn sĩ bò ra xa, và đến sáng khi nó thức dậy, túp lều trống không, nó đành thu dọn đồ đạc và rời đi.​
 
Thắc mắc là m dùng AI hay m tự dịch vậy?
Tôi dùng Deepseek + Gemini dịch thô, sau đó hiệu chỉnh ngữ cảnh + tìm kiếm sâu thủ công nhờ GPT
Trước có bản sẵn trên Spiderum, nhưng từ khi cái trang đó bị dẹp, tôi quyết làm lại để coi một sự tri ân.
 
CHƯƠNG II (TIẾP)

Cả ngày hôm đó, thằng nhóc cứ nhìn về phía bắc, nơi có một vệt bụi mỏng. Vệt bụi dường như đứng yên không nhúc nhích, mãi đến chiều muộn nó mới thấy vệt bụi đó đang tiến dần về phía mình. Nó đi xuyên qua một khu rừng sồi xanh, cho con la uống nước ở một dòng suối, rồi tiếp tục lên đường lúc hoàng hôn và dựng trại mà không đốt lửa. Chim chóc đánh thức nó khi nó đang nằm trong một khu rừng khô cằn, đầy bụi bặm.

Đến trưa, nó lại ra đến thảo nguyên, và vệt bụi phía bắc giờ kéo dài dọc theo rìa chân trời. Đến chiều, những con gia súc đầu tiên của một đàn bò bắt đầu xuất hiện. Những con thú gầy gò, hung dữ, với cặp sừng vươn rộng khổng lồ. Tối hôm đó, nó ngồi trong trại của những người chăn gia súc, ăn đậu và lương khô ép, nghe họ kể về cuộc sống trên đường lùa bò.

Họ đang đi từ Abilene xuống, đã đi được bốn mươi ngày, hướng đến các chợ ở Louisiana. Theo sau họ là bầy sói, sói đồng cỏ, và thổ dân. Những con bò rống vang xung quanh họ suốt hàng dặm trong bóng đêm.

Họ không hỏi nó câu nào. Bản thân họ cũng là một đám người rách rưới. Một vài kẻ lai, người da đen tự do, một hoặc hai thổ dân.

“Tôi bị mất hết đồ đạc” – thằng nhóc nói.

Họ gật gù tỏ thông cảm trong ánh lửa trại.

“Chúng nó lấy hết mọi thứ tôi có. Tôi thậm chí không còn một con dao.”

“Cậu có thể đi với bọn tôi. Bọn tôi mất hai người. Họ quay lại để đi California.”

“Tôi cũng đang đi về hướng đó.”

“Tôi đoán có lẽ chính cậu cũng định đi California.”

“Có thể. Tôi chưa quyết định.”

“Mấy thằng đó đi với bọn tôi, rồi nhập hội một đám từ Arkansas. Họ đang tiến xuống Bexar. Định vượt sang Mexico và về miền Tây.”

“Tôi cá mấy lão già đó đang ở Bexar nhậu đến nát óc.”

“Tôi cá là lão Lonnie già đã chén hết mọi con đĩ trong thị trấn.”

“Đi đến Bexar bao xa?” thằng nhóc hỏi tiếp.

“Khoảng hai ngày.”

“Xa hơn thế. Tôi ước chừng là phải bốn ngày.” người da đen cất tiếng.

“Nếu muốn đi thì phải làm thế nào?”

“Cậu cắt thẳng về phía nam, khoảng nửa ngày là sẽ gặp đường.”

“Cậu có đi Bexar không?”

“Có thể lắm.”

“Nếu cậu gặp lão Lonnie ở dưới đó, bảo ông ta để dành cho tôi một món. Nói là lão Oren nhờ.”

“Nếu chưa tiêu hết tiền, chắc ông ta sẽ mời cậu một ly.”

Sáng hôm sau, họ ăn bánh kếp với mật mía, rồi những người chăn bò thắng yên và tiếp tục lên đường. Khi nó tìm thấy con la của mình, có một cái túi vải nhỏ buộc vào dây cương của con vật. Bên trong túi có một chén đầy đậu khô, mấy trái ớt, và một con dao hiệu Green River cũ với chuôi làm bằng dây bện. Nó thắng yên lên lưng con la, lưng con vật giờ đây trầy xước, lởm chởm, móng nứt nẻ, xương sườn nhô ra như xương cá. Họ lọc cọc băng qua đồng bằng mênh mông.

Thằng nhóc đi cùng nhóm người đến Bexar vào tối ngày thứ tư. Nó ngồi trên con la gầy gò, đứng trên một gò đất thấp nhìn xuống thị trấn: những căn nhà đất nện im lìm, hàng cây sồi xanh và dương lá rung đánh dấu dòng sông, quảng trường chật kín những toa xe phủ bạt vải thô, những tòa nhà công cộng quét vôi trắng, mái vòm nhà thờ kiểu Moor nhô lên khỏi hàng cây, doanh trại và tháp thuốc súng bằng đá cao vút phía xa. Một cơn gió nhẹ lay động tà lá trên chiếc mũ của nó, mái tóc bết dầu và rối bù. Đôi mắt nó thâm đen, sâu hoắm trên khuôn mặt hốc hác, ám ảnh, và một mùi hôi thối bốc lên từ miệng ủng. Mặt trời vừa lặn, phía tây là những rặng mây đỏ như máu, từ đó bay lên những con chim cắt đêm sa mạc nhỏ bé, như thể chúng đang chạy trốn khỏi một ngọn lửa lớn ở tận cùng trái đất. Nó nhổ một bãi nước bọt trắng khô, đập đôi bàn đạp gỗ nứt vào sườn con la, và cả hai lại lảo đảo bước đi.

Thằng nhóc đi xuống một con đường cát hẹp, trên đường đi nó gặp một chiếc xe chở xác chết đang rời khỏi thị trấn, trên xe chất đầy xác, một chiếc chuông nhỏ rung lên theo nhịp đường và một chiếc đèn lồng đu đưa trên cửa xe. Ba người đàn ông ngồi trên ghế trông chẳng khác gì xác chết hay những vong hồn, trắng bệch vì vôi và gần như phát sáng trong ánh hoàng hôn. Một cặp ngựa kéo chiếc xe, và họ đi tiếp trên con đường trong làn khói mờ mùi acid carbolic rồi khuất dần. Nó quay lại nhìn họ đi. Bàn chân trần của những người chết va vào nhau, lắc lư cứng đờ từ bên này sang bên kia.

Trời tối khi nó vào thị trấn, tiếng chó sủa vang lên, những khuôn mặt hé rèm cửa trong ánh đèn dầu ở các ô cửa sổ. Tiếng móng la lọc cọc nhẹ vang vọng trên những con phố nhỏ vắng tanh. Con la hít hà không khí, rồi rẽ vào một con hẻm, đi ra một quảng trường nơi dưới ánh sao có một cái giếng, một máng nước và một thanh cột ngựa. Thằng nhóc từ từ tuột mình xuống, lấy cái xô từ thành đá và thả xuống giếng. Một tiếng nước bắn nhẹ vọng lại. Nó kéo xô lên, nước nhỏ giọt trong bóng tối. Nó múc nước bằng cái bầu và uống, và con la rúc mũi vào khuỷu tay nó. Khi xong, nó đặt cái xô xuống đường và ngồi lên thành giếng, nhìn con la uống từ cái xô.

Thằng nhóc tiếp tục đi qua thị trấn, dắt theo con la. Không một bóng người. Dần dần nó bước vào một quảng trường và nghe thấy tiếng đàn guitar và tiếng kèn. Ở cuối quảng trường có ánh đèn từ một quán cà phê, cùng tiếng cười và những tiếng la hét the thé. Nó dắt con la vào quảng trường, men theo phía xa bên kia, qua một hàng hiên dài tiến về phía ánh đèn.

Có một đoàn vũ công trên phố, họ mặc những bộ trang phục sặc sỡ và gọi nhau bằng tiếng Tây Ban Nha. Nó và con la đứng ở rìa ánh đèn và nhìn. Những ông già ngồi dọc theo tường quán rượu, lũ trẻ chơi đùa trong bụi đất. Tất cả đều mặc những bộ trang phục kỳ lạ: đàn ông đội mũ đen bệt, áo ngủ trắng, quần có cúc bên ngoài ống chân; còn những cô gái với khuôn mặt tô màu sặc sỡ và lược bằng mai rùa cài trên mái tóc xanh đen. Thằng nhóc băng qua đường cùng con la, cột nó lại và bước vào quán cà phê. Một số người đàn ông đang đứng ở quầy bar, họ ngừng nói chuyện khi hắn bước vào. Nó băng qua nền đất sét đánh bóng, đi ngang qua một con chó đang ngủ mở một mắt nhìn lại nó, rồi đứng trước quầy và đặt cả hai tay lên mặt gạch. Người phục vụ gật đầu với nó. "Cần gì?" ông ta nói.

"Tôi không có tiền nhưng tôi cần một ly. Tôi sẽ dọn đồ thừa hay lau sàn hoặc bất cứ việc gì."

Người phục vụ nhìn qua phòng về phía hai người đàn ông đang chơi domino trên bàn.

"Này Abuelito!" ông ta gọi.

Người lớn tuổi hơn trong hai người ngẩng đầu lên.

"Thằng cu này đang nói gì thế?"

Ông già nhìn thằng nhóc rồi quay lại với quân domino của mình.

Người phục vụ nhún vai.

Thằng nhóc quay sang ông già. "Ông nói tiếng Anh không?" nó hỏi.

Ông già ngước nhìn khỏi ván chơi. Ông nhìn thằng nhóc không một biểu cảm.

"Nói với ông ấy tôi sẽ làm việc để lấy một ly. Tôi không có tiền."

Ông già hếch cằm và tặc lưỡi.

Thằng nhóc nhìn người phục vụ.

Ông già làm một nắm đấm với ngón cái chỉ lên trên và ngón út chỉ xuống dưới, nghiêng đầu ra sau và nhắm một ngụm rượu tưởng tượng xuống cổ họng. "Nó muốn xin một ly rượu ấy mà", ông nói, "Mỗi tội không có tiền."

Những người đàn ông ở quầy bar hóng nhìn.

Người phục vụ nhìn thằng nhóc.

"Nó muốn làm việc", ông già nói "Biết đâu lại được đấy". Ông quay lại với quân bài của mình và thực hiện nước đi mà không bàn thêm.

"Muốn làm việc cơ à?" một người đàn ông ở quầy bar nói.

Họ bắt đầu cười.

"Các người cười cái đéo gì?" thằng nhóc hỏi.

Họ im bặt. Một số nhìn hắn, một số bặm môi hoặc nhún vai. Thằng nhóc quay sang người phục vụ. "Ông có việc gì tôi có thể làm để đổi lấy vài ly uống không, tôi biết rõ và biết chắc điều đó."

Một trong những người đàn ông ở quầy bar nói điều gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha. Thằng nhóc trừng mắt nhìn họ. Đám người Mexico nháy mắt với nhau, rồi nhấc ly lên.

Hắn lại quay sang người phục vụ. Đôi mắt nó tối sẫm và nheo lại. "Quét sàn", nó nói.

Người phục vụ chớp mắt.

Thằng nhóc lùi lại và làm động tác quét, một điệu bộ kịch câm khiến những người đang uống phải cười thầm. "Quét" – nó nói, chỉ xuống sàn.

"Quán có bẩn đâu?" người phục vụ nói.

Nó quét lần nữa. "Quét nhà ấy, mẹ kiếp!" nó nói.

Người phục vụ nhún vai. Ông ta đi xuống cuối quầy lấy một cây chổi và mang lại. Thằng nhóc cầm lấy và đi ra phía cuối phòng.
Một đại sảnh rộng lớn. Nó quét ở những góc nơi những chậu cây đứng im lìm trong bóng tối. Nó quét quanh những cái ống nhổ, quanh những người chơi bài ở bàn, và quanh con chó. Nó quét dọc theo mặt trước quầy bar, và khi đến chỗ những người đàn ông đang uống, nó đứng thẳng dậy, tựa vào cây chổi và nhìn họ. Họ thì thầm bàn bạc với nhau, và cuối cùng một người nhấc ly của mình khỏi quầy và bước sang một bên. Những người khác làm theo. Thằng nhóc quét ngang qua họ về phía cửa.

Những vũ công đã đi, tiếng nhạc cũng không còn. Bên kia đường, một người đàn ông ngồi trên ghế dài, lờ mờ trong ánh sáng từ cửa quán cà phê. Con la đứng đúng chỗ hắn đã cột nó. Nó gõ cây chổi trên bậc thềm, quay vào và mang chổi về góc nơi người phục vụ đã lấy nó. Rồi nó đến quầy bar và đứng.

Người phục vụ phớt lờ hắn.

Thằng nhóc gõ đốt ngón tay xuống quầy.

Người phục vụ quay lại, đặt một tay lên hông và bặm môi.

"Giờ thì ly rượu đó đâu?" thằng nhóc nói.

Người phục vụ đứng yên.

Thằng nhóc làm động tác uống rượu mà ông già đã làm, và người phục vụ phẩy chiếc khăn của mình một cách lơ đễnh về phía hắn.

"Cút đi mày!" ông ta nói. Ông ta ra hiệu xua đuổi bằng mu bàn tay.

Mặt thằng nhóc tối sầm lại. "Đồ khốn" Nó nói.

Nó bắt đầu đi dọc theo quầy bar. Biểu cảm của người phục vụ không thay đổi. Ông ta rút từ dưới quầy lên một khẩu súng lục kiểu cũ có khóa đá lửa và dùng gót bàn tay đẩy cò về phía sau. Một tiếng kêu lạch cạch bằng gỗ vang lên trong sự im lặng. Tiếng leng keng của những chiếc ly dọc khắp quầy. Rồi tiếng cọt kẹt của những chiếc ghế bị đẩy lui bởi những người chơi bài ở bên tường.

Thằng nhóc đứng sững lại. "Này lão già", nó nói.

Ông già phiên dịch kia không trả lời. Không có âm thanh nào trong quán cà phê. Thằng nhóc quay lại để tìm ông ta bằng ánh mắt.

"Thằng này say rồi." ông già nói.

Thằng nhóc nhìn vào mắt người phục vụ.

Người phục vụ vung khẩu súng về phía cửa.

Ông già nói điều gì đó với cả căn phòng bằng tiếng Tây Ban Nha. Rồi ông nói với người phục vụ. Sau đó ông đội mũ và bước ra ngoài.

Mặt người phục vụ tái đi. Khi ông ta đi vòng qua đầu quầy bar, ông đã đặt khẩu súng xuống và đang cầm một cái vồ đập thùng rượu trên tay.

Thằng nhóc lùi ra giữa phòng, và người phục vụ lê bước qua sàn nhà tiến về phía nó như một người đang đi làm việc vặt. Ông ta vung hai lần về phía thằng nhóc, và thằng nhóc bước sang phải hai lần. Rồi nó đột nhiên lùi lại. Người phục vụ đứng sững. Thằng nhóc nhẹ nhàng chống tay lên quầy và nhảy qua, nhặt khẩu súng lên. Không ai dám cử động. Nó kéo mở miếng đá lửa trên mặt bàn, đổ hết thuốc mồi ra, rồi đặt khẩu súng xuống lần nữa. Sau đó nó chọn hai chai rượu đầy từ kệ phía sau, mỗi tay một chai, và đi vòng qua đầu quầy.

Người pha chế đứng giữa phòng. Ông ta thở hổn hển và quay người, dõi theo từng động tác của thằng nhóc. Khi thằng nhóc tiến đến gần, ông ta giơ cái vồ đập thùng lên. Thằng nhóc khẽ khom người với hai chai rượu, giả vờ tấn công rồi đập chai bên phải vỡ toác trên đầu gã đàn ông. Máu và rượu bắn tung tóe, đầu gối ông ta khuỵu xuống và mắt trợn ngược. Thằng nhóc đã buông cổ chai, và nó ném chai thứ hai sang tay phải theo động tác điêu luyện của kẻ cướp đường, trước khi chai kịp chạm sàn, rồi vụt ngược chai thứ hai qua hộp sọ của người pha chế và nhét mảnh thủy tinh lởm chởm còn sót lại vào mắt hắn khi hắn ngã gục.

Thằng nhóc nhìn quanh phòng. Mấy tên đàn ông ở đó có mang súng lục trong thắt lưng, nhưng không ai nhúc nhích. Thằng nhóc nhảy qua quầy bar, lấy thêm một chai khác, kẹp nó dưới nách và bước ra cửa. Con chó đã biến mất. Người đàn ông trên ghế dài cũng không còn. Nó cởi dây buộc con la, dắt băng qua quảng trường.​
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG II (tiếp)
Tỉnh dậy trong gian giữa của một nhà thờ đổ nát, thằng nhóc chớp mắt nhìn lên trần vòm và những bức tường cao phủ rèm nhung với những bức bích họa phai màu. Nền nhà thờ phủ kín một lớp phân chim khô và phân bò, phân cừu. Bồ câu đập cánh bay qua những cột ánh sáng đầy bụi, và ba con kền kền lặc cà lặc cạch, rỉa trên bộ xương còn sót thịt của một con vật nào đó đã chết giữa cung thánh.

Đầu nó như bị bóp nát và lưỡi sưng phồng vì khát. Nó ngồi dậy và nhìn quanh. Nó đã để chai rượu dưới yên ngựa, tìm thấy nó, cầm lên lắc nhẹ, rút nút và uống. Thằng nhóc ngồi đó nhắm mắt, mồ hôi lấm tấm trên trán. Rồi nó mở mắt và uống thêm một ngụm nữa. Những con kền kền lần lượt bước xuống và chạy lững thững vào phòng thánh. Một lúc sau, nó đứng dậy và ra ngoài tìm con la.

Không thấy con vật đâu cả. Khu truyền giáo chiếm khoảng tám hay mười mẫu đất có tường bao quanh, một vùng đất hoang cằn cỗi nuôi vài con dê và lừa. Trong những bức tường bùn của khu vực bao quanh là các chuồng nhỏ có những gia đình tá túc sinh sống, và vài đống lửa nấu ăn bốc khói mỏng dưới nắng. Nó đi vòng qua bên hông nhà thờ và bước vào phòng thánh. Lũ kền kền lủi thủi bước qua lớp trấu và vữa vụn như những con gà nhà khổng lồ. Những mái vòm cong phía trên phủ đầy một khối lông đen dày đặc, chuyển động, thở và kêu chí chóe. Trong phòng có một cái bàn gỗ với vài cái bình đất sét, và dọc bức tường phía sau là xác của nhiều thi thể, trong đó có một đứa trẻ. Nó băng qua phòng thánh trở lại nhà thờ và lấy yên ngựa. Nó uống nốt phần rượu còn lại, rồi vác yên lên vai và bước ra ngoài.

Mặt tiền của tòa nhà có một dãy các pho tượng thánh trong những hốc tường, và chúng đã bị quân đội Mỹ bắn phá khi họ thử súng trường, các pho tượng bị chặt mất tai và mũi, trên đá phủ đầy những vết chì đen sẫm bị oxy hóa. Cánh cửa lớn bằng gỗ chạm khắc và ốp ván treo lệch trên bản lề, và một pho tượng Đức Mẹ bằng đá đang ôm trong tay một đứa trẻ không đầu. Nó đứng đó chớp mắt trong cái nóng giữa trưa. Rồi nó nhìn thấy dấu vết của con la. Chỉ là những vết xáo động nhạt nhòa trên lớp bụi, chúng đi ra từ cửa nhà thờ và băng qua bãi đất đến cổng ở bức tường phía đông. Nó đẩy chiếc yên ngựa lên cao hơn trên vai và bước đi theo chúng.

Một con chó dưới bóng râm của cổng vòm đứng dậy, lững thững buồn bã bước ra nắng cho đến khi thằng nhóc đi qua rồi lại lững thững quay vào. Nó đi xuống con đường dốc hướng về phía dòng sông, trông thật là một hình bóng rách rưới. Thằng nhóc lọt vào một khu rừng sâu toàn cây hồ đào và cây sồi, con đường dốc lên và hắn có thể nhìn thấy dòng sông bên dưới. Một vài người da đen đang rửa một chiếc xe ngựa ở chỗ cạn sông, nó đi xuống dốc và đứng bên mép nước, một lúc sau nó gọi với về phía họ.

Họ đang hất nước lên lớp sơn mài đen, và một trong số họ ngẩng lên quay lại nhìn nó. Những con ngựa đứng ngập đến đầu gối trong dòng nước.

“Gì?” người da đen gọi lại.

“Các người có thấy con la nào không?”

“Con la?”

“Tôi mất một con la. Tôi nghĩ nó đi về hướng này.”

Người da đen lấy mu bàn tay quệt mặt. “Có thứ gì đó đi xuống con đường này khoảng một tiếng trước. Tôi nghĩ nó xuống dòng sông đằng kia. Có thể là một con la. Nó chẳng có đuôi, chẳng có lông gì đáng kể, nhưng nó có hai cái tai dài.”

Hai người da đen còn lại cười toe toét. Thằng nhóc nhìn xuôi dòng sông. Nó nhổ nước bọt và bước đi dọc theo con đường mòn xuyên qua những rặng liễu và những đám cỏ gồ ghề.

Nó tìm thấy con la cách đó khoảng trăm thước xuôi dòng sông. Con vật ướt sũng đến tận bụng, ngước nhìn nó rồi lại cúi đầu xuống đám cỏ xanh tươi bên sông. Thằng nhóc ném chiếc yên xuống, nhặt sợi dây thừng kéo lê và buộc con vật vào một cành cây, rồi đá nó một cái hững hờ. Con la nép sang một bên và tiếp tục gặm cỏ. Thằng nhóc đưa tay lên đỉnh đầu, nhưng đã đánh mất chiếc mũ quái đản ở đâu đó. Nó lần xuống qua những tán cây và đứng nhìn dòng nước xoáy lạnh. Rồi nó lội ra sông, tựa như một kẻ chịu phép rửa tội, khốn khổ đến tột cùng.​

u.jpg
 
CHƯƠNG III

Bị tìm đến để gia nhập quân đội – Buổi phỏng vấn với Đại úy White – Quan điểm của ông đại úy – Trại lính – Đổi con la – Một quán rượu ở Laredito – Một người Mennonite – Người bạn đồng hành bị giết

Thằng nhóc đang nằm trần truồng dưới những tán cây, quần áo rách của nó được vắt ngang qua các cành cây phía trên, thì một người cưỡi ngựa khác đi xuôi dòng sông ghìm cương dừng lại. Nó quay đầu. Qua những bụi liễu, nó có thể thấy hai chân của con ngựa. Nó lăn người nằm sấp. Người đàn ông xuống ngựa và đứng bên cạnh con ngựa. Nó với tay lấy con dao cán dây.

“Chào đằng ấy”, người cưỡi ngựa nói.

Nó không đáp. Nó dịch sang bên để nhìn rõ hơn qua các cành cây.

“Chào đằng ấy. Đằng ấy ở đâu vậy?”

“Anh muốn gì?”

“Muốn nói chuyện với đằng ấy.”

“Nói chuyện gì?”

“Trời đất, ra đây đi. Tao là người da trắng và theo đạo Cơ Đốc.”

Thằng nhóc đang với tay qua những bụi liễu để lấy cái quần dài. Cái thắt lưng đang thõng xuống và nó giật mạnh nhưng cái quần mắc vào một cành cây.

“Trời đánh thánh vật”, người đàn ông nói. “Đằng ấy chẳng lẽ ở trên cây à?”

“Sao anh không đi đi và để tôi yên?”

“Chỉ muốn nói chuyện với đằng ấy thôi. Không có ý làm đằng ấy tức giận đâu.”

“Anh làm tôi bực rồi đấy.”

“Có phải đằng ấy là cái thằng đã đập vỡ sọ thằng Mễ nào đó tối hôm qua không? Tao không phải là cảnh sát đâu.”

“Ai muốn biết thế?”

“Đại úy White. Ông ấy muốn ký hợp đồng với thằng như chú mày để gia nhập quân đội.”

“Quân đội?”

“Phải.”

“Quân đội nào?”

“Đại đội của Đại úy White. Chúng ta sẽ đánh cho bọn Mễ một trận.”

"Chiến tranh đã kết thúc rồi."

"Ông ấy nói là chưa. Đằng ấy đang trốn đâu vậy?"

Nó đứng dậy và kéo cái quần dài xuống khỏi chỗ đã vắt lên, rồi mặc vào. Nó xỏ ủng, nhét con dao vào trong ống quần bên phải và bước ra khỏi bụi liễu, vừa mặc áo sơ-mi.

Người đàn ông đang ngồi trên cỏ, bắt chéo chân. Hắn mặc quần áo da nai, đội một chiếc mũ chóp bằng lụa đen phủ bụi, và ngậm một điếu xì gà nhỏ kiểu Mexico ở khóe miệng. Khi thấy thứ gì đang lê lết bò ra khỏi bụi liễu, hắn lắc đầu.

"Có vẻ như chú mày đã gặp phải lúc khốn khó nhỉ, oắt con?" hắn nói.

"Tôi chỉ chưa gặp được lúc lên voi thôi."

"Có sẵn sàng đến Mexico không?"

"Tôi chẳng có gì để mất dưới đó cả."

"Đó là cơ hội để vươn lên trong thế giới này. Tốt nhất chú mày nên làm gì đó thay đổi theo cách này hay cách khác trước khi chìm nghỉm xuống đấy."

"Bên các anh cấp cho những gì?"

"Mỗi người được một con ngựa và đạn dược. Chắc bên hậu cần có thể kiếm được vài bộ quần áo cho chú mày."

"Tôi không có súng trường."

"Rồi cũng sẽ kiếm cho một cây."

"Còn tiền lương thì sao?"

"Trời ạ, thằng oắt này, chú mày sẽ chẳng cần tiền lương đâu. Chú mày được giữ tất cả những gì mà chú mày có thể cướp được. Chúng ta sẽ đến Mexico. Chiến lợi phẩm. Không một người nào trong đại đội mà sẽ không trở thành một địa chủ lớn. Hiện chú mày trong tay có bao nhiêu đất?"

"Tôi chẳng biết gì về việc làm lính cả."

Người đàn ông nhìn chằm chằm vào nó. Hắn lấy điếu xì gà chưa cháy ra khỏi miệng, quay đầu nhổ nước bọt rồi lại ngậm vào. "Chú mày từ đâu đến?" hắn hỏi.

"Tennessee."

"Tennessee à? Ừ, vậy chắc đỡ phải huấn luyện về bắn súng trường."

Thằng nhóc ngồi xổm trên cỏ. Nó nhìn con ngựa của người đàn ông. Con ngựa được trang bị yên da có chạm khắc với đồ bạc gia công tinh xảo. Nó có một vệt trắng trên mặt và bốn chiếc tất trắng, và đang nhai những ngụm cỏ xanh tốt. "Anh từ đâu đến?" thằng nhóc hỏi.

"Ở Texas từ năm ba mươi tám (1838). Nếu không gặp Đại úy White, tớ không biết mình sẽ ra sao vào ngày hôm nay. Chắc còn trông thảm hại hơn cả chú mày bây giờ, và ông ấy đến, vực tớ dậy như Lazarus. Đặt chân tớ vào con đường chính nghĩa. Trước đó tớ đã sa vào rượu chè và đĩ điếm đến nỗi địa ngục cũng chẳng thèm nhận. Ông ấy thấy ở tớ điều gì đó đáng cứu vớt, và tớ lại cũng thấy điều đó ở chú mày. Đằng ấy nói sao?"

"Tôi không biết."

"Chỉ cần đi với tớ đây và gặp vị đại úy thôi."

Thằng nhóc kéo những ngọn cỏ. Nó lại nhìn con ngựa. "Ừm", nó nói. "Chắc gặp cũng chẳng sao đâu."

Họ cưỡi ngựa qua thị trấn, người tuyển mộ lộng lẫy trên con ngựa có bốn chiếc tất trắng, còn thằng nhóc phía sau trên con la trông như một thứ gì đó nó vừa chộp được trên đường. Họ đi qua những con hẻm hẹp nơi những túp lều đan bằng cành cây bốc hơi nóng. Cỏ và xương rồng lê gai mọc trên mái nhà, những con dê đi lại trên đó, và đâu đó trong vương quốc bùn đất tồi tàn ấy, tiếng chuông báo tử xa xăm vang lên thưa thớt. Họ rẽ lên phố Thương mại rồi đi qua Quảng trường chính giữa những đoàn xe bò, và họ băng qua một quảng trường khác nơi bọn trẻ con đang bán nho và sung từ những chiếc xe đẩy nhỏ. Vài con chó gầy còm lủi đi trước mặt họ. Họ đi tiếp qua quảng trường Quân đội và đi ngang qua con phố nhỏ nơi thằng nhóc và con la đã ẩu đả và uống đêm trước, và có những nhóm phụ nữ và các cô gái bên giếng nước, cùng nhiều bình đất sét bọc liễu gai đủ hình dáng đứng rải rác xung quanh. Họ đi ngang qua một ngôi nhà nhỏ nơi phụ nữ bên trong đang than khóc, và chiếc xe tang nhỏ đỗ trước cửa, những con ngựa kiên nhẫn và yên vị trong cái nóng và đàn ruồi.

Vị đại úy đóng quân trong một khách sạn ở một quảng trường có cây cối và một vọng lâu nhỏ màu xanh lá với những chiếc ghế dài. Một cánh cổng sắt phía trước khách sạn mở ra một lối đi dẫn đến sân trong ở phía sau. Các bức tường được quét vôi trắng và gắn những viên gạch men nhỏ trang trí lạ mắt. Người hầu của đại úy đi đôi ủng chạm khắc với gót cao, phát ra tiếng lách cách lanh lảnh trên nền gạch và trên cầu thang từ sân trong dẫn lên các phòng phía trên. Trong sân, những cây xanh đang mọc, vừa được tưới nước và bốc hơi nghi ngút. Người hầu của đại úy sải bước dọc hành lang dài và gõ mạnh vào cánh cửa cuối hành lang. Một giọng nói bảo họ vào.

Vị đại úy đó ngồi bên chiếc bàn mây, đang viết thư. Họ đứng chờ, người hầu của ông ta cầm chiếc mũ đen trên tay. Vị đại úy vẫn tiếp tục viết, không hề ngước lên nhìn. Bên ngoài, thằng nhóc nghe thấy tiếng một người phụ nữ nói tiếng Tây Ban Nha. Ngoài đó ra, chỉ còn tiếng ngòi bút của ông ta sột soạt trên giấy.

Viết xong, ông đặt bút xuống và ngước lên nhìn. Ông nhìn người hầu của mình, rồi nhìn thằng nhóc, sau đó cúi xuống đọc lại những gì vừa viết. Ông gật đầu một mình, rắc cát lên bức thư từ một chiếc hộp nhỏ bằng mã não rồi gấp nó lại. Ông lấy một que diêm từ hộp diêm trên bàn, châm lửa và đốt một que sáp niêm phong cho đến khi một giọt đỏ tròn nhỏ chảy xuống tờ giấy. Ông phụt tắt que diêm, thổi nhẹ vào tờ giấy rồi ấn chiếc nhẫn lên vết sáp. Sau đó, ông dựng bức thư giữa hai quyển sách trên bàn, ngả người ra ghế và lại nhìn thằng nhóc. Ông gật đầu một cách nghiêm túc. "Ngồi đi," ông nói.

Họ nhẹ nhàng ngồi xuống một chiếc ghế dài bằng gỗ màu sẫm. Người hầu của đại úy đeo một khẩu súng lục lớn bên thắt lưng, khi ngồi xuống, ông ta chỉnh lại dây đai để khẩu súng nằm gọn giữa hai đùi. Ông ta đặt chiếc mũ lên trên và ngả người ra sau. Thằng nhóc xếp đôi ủng rách nát của mình chồng lên nhau và ngồi thẳng dậy.

Đại úy đẩy ghế ra sau và đứng dậy, đi vòng ra phía trước bàn. Ông đứng đó một lúc, rồi ngồi lên mép bàn với đôi ủng buông thõng. Tóc ông đã điểm bạc, và cả bộ ria mép quét rộng mà ông để cũng vậy, nhưng ông không già. "Vậy cậu đây là người mà ta cần tìm", ông nói.

"Ai cơ?" thằng nhóc nói.

"Ai vậy, thưa ngài?", người hầu của đại úy nói xen vào.

"Cậu bao nhiêu tuổi rồi, con trai?"

"Mười chín."

Đại úy gật đầu. Ông đang nhìn thằng nhóc từ đầu đến chân. "Chuyện gì đã xảy ra với cậu?"

"Cái gì?"

"Thêm cái ‘thưa ngài’ vào", người tuyển mộ nói.

"Thưa ngài?"

"Tôi hỏi chuyện gì đã xảy ra với cậu."

Thằng nhóc nhìn người đàn ông ngồi cạnh mình. Nó nhìn xuống bản thân và lại nhìn vị đại úy. "Tôi bị bọn cướp tấn công", nó nói.

"Bọn cướp?", đại úy hỏi.

"Chúng lấy hết mọi thứ của tôi. Lấy cả đồng hồ và mọi thứ."

"Cậu có súng trường không?"

"Không còn nữa."

"Chúng đã cướp cậu ở đâu?"

"Tôi không biết. Chỗ đó chẳng có tên gọi gì. Chỉ là một vùng hoang dã."

"Cậu đang đi từ đâu đến?"

"Tôi đang đi từ Naca, Naca..."

"Nacogdoches?"

"Vâng."

"Thưa ngài."

"Vâng, thưa ngài."

"Có bao nhiêu tên?"

Thằng nhóc nhìn chằm chằm vào ông.

"Bọn cướp. Có bao nhiêu tên cướp?"

"Khoảng bảy hay tám tên, tôi nghĩ vậy. Tôi bị đập vào đầu bằng một thanh gỗ ván."​

Vị đại úy nheo một mắt nhìn thằng nhóc. "Bọn chúng có phải là người Mexico không?"

"Một vài người. Người Mexico và người da đen. Cũng có vài người da trắng đi cùng nữa. Chúng có một đàn gia súc mà chúng đã ăn cắp. Thứ duy nhất chúng để lại cho tôi là một mảnh dao cũ mà tôi giấu trong ủng."

Đại úy gật đầu. Ông chắp hai tay giữa hai đầu gối. "Cậu nghĩ gì về hiệp ước đó?" ông nói.

Thằng nhóc nhìn người đàn ông ngồi bên cạnh trên chiếc ghế dài. Hắn đang nhắm mắt. Nó cúi nhìn hai ngón tay cái của mình. "Tôi chẳng biết gì về cái hiệp ước gì đó cả", nó nói.

"Tôi e rằng đó cũng là trường hợp của rất nhiều người Mỹ", vị đại úy nói. "Cậu từ đâu đến, con trai?"

"Tennessee."

"Cậu không tham gia với Lực lượng tình nguyện tại Monterrey phải không?"

"Không, thưa ngài."

"Những người dũng cảm nhất dưới làn đạn mà tôi tin là tôi từng thấy. Tôi cho rằng nhiều người đàn ông từ Tennessee đã đổ máu và chết trên chiến trường ở miền bắc Mexico hơn bất kỳ tiểu bang nào khác. Cậu có biết điều đó không?"

"Không, thưa ngài."

"Họ đã bị bán đứng. Chiến đấu và chết dưới sa mạc đó, rồi bị chính đất nước của mình bán đứng." Thằng nhóc ngồi im lặng.​
 
CHƯƠNG III (tiếp)
Vị đại úy nghiêng người về phía trước. "Chúng ta đã chiến đấu vì nó. Đã mất bạn bè và anh em ở dưới đó. Và rồi Chúa sẽ tống cả bọn vào địa ngục, nếu chúng ta không trả lại mối thù đó. Trả lại cho một lũ man rợ mà ngay cả những kẻ thiên vị chúng nhất cũng phải thừa nhận rằng chúng chẳng có chút khái niệm nào về danh dự, công lý, hay ý nghĩa của một chính phủ cộng hòa trên trái đất này. Một dân tộc hèn nhát đến mức đã cống nạp suốt một trăm năm cho những bọn mọi tộc dã man khát máu. Bỏ mùa màng và gia súc. Các mỏ khai thác đóng cửa. Cả những ngôi làng bị bỏ hoang. Trong khi một đám man di ngoại đạo cưỡi ngựa khắp vùng đất, cướp bóc và giết hại mà hoàn toàn không bị trừng phạt. Không một cánh tay nào vung lên chống lại chúng. Đó là cái loại dân tộc gì vậy? Ngay cả bọn Apache còn chẳng buồn bắn chúng. Cậu có biết điều đó không? Chúng giết họ bằng đá."

Vị đại úy lắc đầu. Ông dường như trở nên buồn bã vì những gì mình phải nói.

"Cậu có biết rằng khi Đại tá Doniphan chiếm thành phố Chihuahua, ông ấy đã gây ra hơn một nghìn thương vong cho kẻ thù mà chỉ mất một người, và người đó gần như là tự sát không? Với một đội quân gồm những người không chính quy, không được trả lương, gọi ông ấy là Bill, quần áo gần như trần trụi, và đã đi bộ đến chiến trường từ Missouri?"

"Không, thưa ngài."

Vị đại úy ngả người ra sau và khoanh tay. "Thứ mà chúng ta đang đối phó," ông nói, "là một giống người thoái hóa. Một giống lai tạp, chẳng hơn gì bọn da đen. Và có lẽ cũng chẳng hơn. Ở Mexico chẳng có chính phủ nào ra hồn. Chết tiệt, chắc Chúa cũng không với tay tới được Mexico. Và sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Chúng ta đang đối phó với một dân tộc rõ ràng không có khả năng tự quản trị. Và cậu có biết điều gì xảy ra với những kẻ không thể tự quản trị không? Đúng vậy. Những kẻ khác sẽ đến cai trị thay chúng."

"Đã có khoảng mười bốn nghìn người Pháp định cư ở bang Sonora. Họ được cấp đất miễn phí để lập nghiệp. Họ được cấp công cụ và gia súc. Những người Mexico khai sáng ủng hộ điều này. Paredes đã kêu gọi ly khai khỏi chính phủ Mexico. Họ thà bị cai trị bởi lũ nịnh bợ còn hơn là bởi bọn trộm cướp và đần độn. Đại tá Carrasco đang kêu gọi sự can thiệp của Mỹ. Và ông ta sẽ đạt được điều đó." Vị đại úy tiếp tục.

"Ngay lúc này, ở Washington, người ta đang thành lập một ủy ban để đến đây vẽ ra đường biên giới giữa đất nước chúng ta và Mexico. Tôi không nghĩ có bất kỳ nghi ngờ gì rằng cuối cùng Sonora sẽ trở thành một lãnh thổ của Hoa Kỳ. Guaymas sẽ là một cảng của Mỹ. Người Mỹ sẽ có thể đến California mà không cần phải đi qua nước cộng hòa chị em mù quáng của chúng ta, và công dân của chúng ta cuối cùng sẽ được bảo vệ khỏi những băng cướp khét tiếng hiện đang hoành hành trên các tuyến đường mà họ buộc phải đi lại."

Vị đại úy đang quan sát thằng nhóc. Thằng nhóc có vẻ không thoải mái. “Con trai à", vị đại úy nói. "Chúng ta sẽ là công cụ giải phóng cho một vùng đất tăm tối và đầy biến động. Đúng vậy. Chúng ta sẽ đi đầu trong chiến dịch. Chúng ta có sự ủng hộ ngầm của Thống đốc Burnett của California."

Ông nghiêng người về phía trước và đặt hai tay lên đầu gối. "Và chúng ta sẽ là những kẻ chia chiến lợi phẩm. Sẽ có một phần đất cho mỗi người trong đại đội của tôi. Đồng cỏ tốt. Một trong những vùng đồng cỏ tốt nhất thế giới. Một vùng đất giàu khoáng sản, vàng và bạc, tôi dám nói vượt xa mọi sự suy đoán điên rồ nhất. Cậu còn trẻ. Nhưng tôi không đọc vị nhầm cậu. Tôi hiếm khi nhầm lẫn về một con người. Tôi nghĩ cậu có ý định tạo dựng tên tuổi trên thế giới này. Tôi có sai không?"

"Không, thưa ngài."

"Dĩ nhiên là không. Và tôi không nghĩ cậu là loại người sẽ từ bỏ một vùng đất mà người Mỹ đã chiến đấu và hy sinh vì nó cho một thế lực ngoại bang. Và hãy nhớ lời tôi. Trừ khi người Mỹ hành động, những kẻ như cậu và tôi, những người coi trọng đất nước mình trong khi lũ yếu đuối ở Washington ngồi yên chịu trận, trừ khi chúng ta hành động, Mexico, và ý tôi là toàn bộ đất nước đó, sẽ một ngày nào đó treo cờ châu Âu. Kệ xác cái học thuyết Monroe kia."

Giọng của vị đại úy trở nên nhẹ nhàng và sâu lắng. Ông nghiêng đầu sang một bên và nhìn thằng nhóc với một vẻ nhân từ. Thằng nhóc xoa hai lòng bàn tay lên đầu gối của chiếc quần jean bẩn thỉu. Nó liếc nhìn người đàn ông bên cạnh nhưng hắn có vẻ như đang ngủ.​

"Thế còn yên ngựa thì sao?" nó nói.

"Yên ngựa?"

"Vâng, thưa ngài."

"Cậu không có yên ngựa à?"

"Không, thưa ngài."

"Tôi tưởng cậu có một con ngựa."

"Đúng hơn là một con la."

"Tôi hiểu rồi."

"Tôi có một cái yên cũ trên con la, nhưng chẳng dùng được lâu nữa. Và con la cũng chẳng còn lại sức là bao. Ông kia nói tôi sẽ được một con ngựa và một khẩu súng trường."​

"Trung sĩ Trammel nói vậy à?"

"Này, tớ chẳng hứa với chú mày về cái yên nào cả", viên trung sĩ nói.

"Vậy chúng tôi sẽ kiếm cho cậu một cái yên."

"Tôi có nói với thằng nhãi này là chúng ta có thể kiếm cho nó vài bộ quần áo, thưa Đại úy."

"Đúng rồi. Chúng ta có thể là quân không chính quy, nhưng chúng ta không muốn trông như lũ ăn mày, phải không?"

"Không hề, thưa ngài."

"Mà chúng ta cũng không còn ngựa chưa thuần nào nữa", viên trung sĩ nói.

"Vậy thì thuần một con đi."

"Thằng cha giỏi thuần ngựa đó thì giờ vô dụng rồi."

"Tôi biết mà. Kiếm người khác đi."

"Vâng, thưa ngài. Có lẽ thằng nhóc này có thể thuần ngựa. Chú mày có bao giờ thuần ngựa chưa?"

"Chưa, thưa ngài."

"Không cần phải xưng 'thưa ngài' với tớ."

"Vâng, thưa ngài."

"Trung sĩ", vị đại úy nói, nhẹ nhàng trượt xuống khỏi bàn.

"Vâng, thưa ngài."

"Cho người này nhập ngũ đi."

Trại nằm ở thượng nguồn, ven thị trấn. Một chiếc lều vá víu từ vải bạt xe bò cũ, vài cái lều nhỏ đan bằng cành cây và phía sau chúng là một bãi rào hình số tám cũng làm bằng cành cây, nơi vài con ngựa nhỏ có bộ lông lốm đốm đang đứng ủ rũ dưới nắng.

"Hạ sĩ đâu rồi?", viên trung sĩ gọi.

"Hắn không có ở đây."

Trung sĩ Trammel xuống ngựa và sải bước về phía lều, vén tấm vải che lên. Thằng nhóc ngồi trên con la. Ba người đàn ông đang nằm dưới bóng một cây và họ nhìn nó. "Chào cậu trẻ", một người nói.

"Chào."

"Cậu đây là lính mới à?"

"Tôi nghĩ là vậy."

"Đại úy có nói khi nào chúng ta rời khỏi cái ổ dịch hạch này không?"

"Ông ấy chẳng nói gì."

Viên trung sĩ từ trong lều bước ra. "Hắn đâu rồi?" hắn nói.

"Vào thị trấn rồi."

"Vào thị trấn?", viên trung sĩ nói. "Anh thì lại đây."

Người đàn ông đứng dậy khỏi mặt đất và lững thững bước đến chỗ lều, đứng với hai tay chống sau lưng.

"Thằng nhãi này chẳng có đồ đạc gì cả", viên trung sĩ nói.

Người đàn ông gật đầu.

"Đại úy đưa cho nó một cái áo sơ mi và ít tiền để sửa ủng. Chúng ta cần kiếm cho nó một con gì đó để cưỡi và một cái yên."

"Một cái yên?"

"Chắc là có thể bán con la đó để đủ tiền mua cho nó một cái yên nào đó."

Người đàn ông nhìn con la, rồi quay lại và nheo mắt nhìn viên trung sĩ. Hắn cúi người nhổ nước bọt. "Con la đó chẳng bán được mười đô la đâu."

"Bán được bao nhiêu thì được bấy nhiêu."

"Mà quân ta lại giết thêm một con bò nữa rồi."

"Tôi không muốn nghe thêm tí nào về chuyện đó."

"Tôi chẳng cản được chúng nó."

"Tôi sẽ không nói với đại úy. Ông ấy mà nghe được chắc sẽ đảo mắt cho đến khi chúng văng ra rơi xuống đất mất."

Người đàn ông lại nhổ nước bọt. "Ừ, đó là ngôi lời Chúa ban đấy."

"Lo cho thằng này đi. Tôi phải đi đây."

"Ừm."

"Không có ai bệnh cả đúng không?"

"Không."

"Ơn Chúa vì điều đó."

Viên trung sĩ đứng thẳng trên yên, khẽ chạm dây cương vào cổ con ngựa. Hắn quay lại và lắc đầu.

Chiều hôm đó, thằng nhóc và hai tân binh khác vào thị trấn. Nó đã tắm rửa và cạo râu, mặc một chiếc quần bằng vải kẻ sọc xanh và chiếc áo sơ mi vải thô mà vị đại úy đã cho, trừ đôi ủng ra thì trông nó như một con người hoàn toàn mới. Những người bạn của nó cưỡi những con ngựa nhỏ đầy màu sắc mà bốn mươi ngày trước vẫn còn là thú hoang trên đồng hoang, và chúng nhảy dựng, lạng lách và ngoạm cỏ như rùa đớp.

"Đợi đến khi ông bạn có được một con như thế này", viên hạ sĩ thứ hai nói. "Chưa bao giờ có niềm vui nào khôn tả như này đâu."

"Mấy con ngựa này cũng được đấy", người kia nói.

"Vẫn còn một hai con trong đó có thể khiến ông bạn trở thành một kỵ mã đấy."

Thằng nhóc nhìn xuống họ từ trên con la. Họ cưỡi hai bên như những người hộ tống kỵ mã và con la chạy nước kiệu với cái đầu ngẩng cao, đôi mắt dáo dác lo lắng. "Chẳng ai để ý con la của ông bạn đâu", viên hạ sĩ thứ hai nói.

Họ cưỡi ngựa băng qua một quảng trường đông nghịt xe bò và gia súc. Ở đó có người nhập cư, người Texas và người Mexico, có cả nô lệ và thổ dân Lipan, cùng những đoàn người Karankawa cao lớn, khắc khổ, mặt nhuộm xanh, tay siết chặt quanh cán những ngọn giáo dài sáu thước. Những kẻ man rợ gần như trần truồng, da sơn vẽ, và mùi của họ thoang thoảng như mùi thịt người, trông họ thật kỳ quái, ngay cả giữa đám đông hỗn tạp và huyền thoại đó. Những tân binh cưỡi ngựa với dây cương kéo ngắn, rẽ qua trước tòa án rồi men theo những bức tường cao của nhà tù, nơi có những mảnh thủy tinh vỡ gắn trên lớp cao nhất. Ở Quảng trường Chính, một ban nhạc đã tập hợp và đang lên dây đàn nhạc cụ. Những người cưỡi ngựa rẽ xuống phố Salinas, đi qua những sòng bạc nhỏ và quán cà phê. Trên con phố này có rất nhiều thợ làm yên ngựa và thương gia Mexico, những người nuôi gà chọi, thợ đóng giày và thợ làm ủng, trong những quầy hàng nhỏ hay cửa hiệu đắp bằng bùn khô. Viên hạ sĩ thứ hai đến từ Texas và nói được một ít tiếng Tây Ban Nha, anh ta định đổi con la. Người còn lại đến từ Missouri. Cả hai đang trong tâm trạng vui vẻ, đã tắm rửa sạch sẽ, chải tóc gọn gàng, mặc áo sơ mi mới. Mỗi người đều hình dung về một đêm say sưa, có lẽ là một đêm tình ái. Biết bao thanh niên đã trở về lạnh lẽo và chết chóc từ những đêm như vậy và những kế hoạch như vậy.

Họ đổi con la cùng bộ đồ đang có lấy một cái yên kiểu Texas, khung gỗ trần bọc da sống, tuy không mới nhưng chắc chắn. Lấy một bộ cương và hàm thiếc mới. Lấy một tấm chăn len dệt từ Saltillo, bụi bặm còn mới đó. Và cuối cùng là một đồng tiền vàng hai đô rưỡi. Người hạ sĩ từ Texas nhìn đồng tiền nhỏ trong lòng bàn tay thằng nhóc và đòi thêm tiền, nhưng người thợ làm yên lắc đầu và giơ hai tay lên với vẻ dứt khoát tuyệt đối.

"Còn đôi ủng của tôi thì sao?" thằng nhóc nói.

"Và đôi ủng của cậu ấy thì sao?", tay hạ sĩ Texas hỏi.

"Ủng?"

"Vâng." Anh ta làm động tác may vá.

Người thợ làm yên nhìn xuống đôi ủng. Ông ta khum những ngón tay trong một cử chỉ sốt ruột và thằng nhóc cởi ủng ra, đứng chân trần trên bụi.

Khi mọi việc xong xuôi, họ đứng trên phố và nhìn nhau. Thằng nhóc đã vác bộ đồ mới của mình trên vai. Viên hạ sĩ thứ hai nhìn sang đồng đội đến từ Missouri. "Cậu có tiền không, Earl?"

"Không một xu dính túi."

"Ừ thì tôi cũng không. Chúng ta nên quay đít về cái ổ khốn khổ đó thôi."

Thằng nhóc dịch chuyển sức nặng của bộ đồ trên vai. "Chúng ta vẫn còn tận hai đô rưỡi này để uống nhấm nháp chút", nó nói.​
 
CHƯƠNG III (tiếp)

Trời đã chạng vạng ở Laredito. Những con dơi bay ra khỏi chỗ trú trong tòa án và tháp chuông, lượn vòng quanh khu phố. Không khí nồng mùi than củi đang cháy. Trẻ con và lũ chó ngồi xổm bên những bậc thềm bằng bùn, còn những con gà chọi vỗ cánh đậu lên cành cây ăn quả. Hai người bạn đồng hành đi bộ dọc theo một bức tường gạch nung trơ trụi. Tiếng nhạc từ ban nhạc vọng lại mơ hồ từ quảng trường. Họ đi ngang qua một xe chở nước trên phố, rồi qua một lỗ hổng trên tường, nơi dưới ánh sáng của một lò rèn nhỏ, một ông già đang đập ra những hình khối kim loại. Họ đi ngang qua một ô cửa, nơi một cô gái trẻ xinh đẹp đang đứng, vẻ đẹp của cô làm nổi bật những bông hoa xung quanh.

Cuối cùng họ đến trước một cánh cửa gỗ. Nó được gắn bản lề vào một cánh cửa hoặc cổng lớn hơn, và tất cả đều phải bước qua ngưỡng cửa cao một gang tay, nơi hàng nghìn đôi ủng đã cọ mòn gỗ, nơi hàng trăm kẻ khờ đã vấp ngã hoặc ngã, hoặc lảo đảo say xỉn ra đường. Họ đi qua một mái che trong sân, bên một giàn nho già cỗi, nơi những con chim nhỏ gật đầu trong hoàng hôn giữa những dây leo khẳng khiu trơ trụi. Rồi họ bước vào một quán rượu nơi đèn đã được thắp sáng, cúi người dưới một cây xà thấp để đến quầy rượu, nép vào đó, và cùng hô "một, hai, ba" khi dâng cốc.

Có một người theo phái Mennonite già nua và lôi thôi trong quán này, ông ta quay lại để quan sát họ. Một người đàn ông gầy gò mặc áo vest da, đội một chiếc mũ đen vành thẳng ngay ngắn trên đầu, một viền râu mỏng. Những tân binh gọi ly rượu whisky, uống cạn và gọi thêm. Có những bàn chơi bài monte ở sát tường và có những cô gái điếm ở bàn khác đang nhìn các tân binh. Những tân binh đứng dọc theo quầy rượu, hai ngón tay cái móc vào thắt lưng và quan sát căn phòng. Họ nói chuyện lớn tiếng về cuộc viễn chinh, và ông già Mennonite lắc đầu buồn bã, nhấp một ngụm và lẩm bẩm.

"Họ sẽ chặn các cậu ở sông đấy", ông nói.

Viên hạ sĩ quê Texas nhìn qua vai những người đồng đội. "Ông đang nói với tôi à?"

"Ở sông. Hãy nghe tôi nói. Chúng sẽ tống các cậu vào tù, từng người một."

"Ai cơ?"

"Quân đội Hoa Kỳ. Hay đích xác hơn là tướng Worth."

"Thách bọn đó làm."

"Tôi còn mong Chúa để chúng hiện luôn ở đây."

Viên hạ sĩ nhìn những người đồng đội của mình. Rồi cậu ta lại nghiêng người về phía người Mennonite. "Ông già, điều đó có nghĩa là gì?"

"Nếu các cậu vượt sông đó với bọn lính phiêu quân đó, các cậu sẽ không bao giờ quay lại được."

"Thì bọn này có ý định quay lại đâu. Chúng tôi sẽ đến Sonora."

"Mà chuyện đó liên quan gì đến ông, ông già?"

Người Mennonite nhìn vào bóng tối phía trước, nơi nó được phản chiếu qua tấm gương trên quầy rượu. Ông quay sang họ. Đôi mắt ông ướt, và ông nói chậm rãi. "Cơn thịnh nộ của Chúa vẫn đang ngủ yên. Nó đã bị che giấu suốt hàng triệu năm trước khi loài người xuất hiện, và chỉ có con người mới có sức mạnh đánh thức nó. Địa ngục vẫn chưa đầy quá nửa. Hãy nghe tôi. Các cậu đang mang theo cuộc chiến do một kẻ điên tạo ra, đem nó đến một vùng đất xa lạ. Các cậu sẽ gây ra tai họa còn nhiều hơn cả lũ chó hoang."

Nhưng họ mắng nhiếc ông già Mennonite và chửi rủa ông cho đến khi ông rời khỏi quầy rượu, lẩm bẩm: "Và chẳng lẽ còn có thể khác được sao?"

Mọi chuyện kết thúc như thế. Trong hỗn loạn, lời nguyền rủa và máu. Họ uống thêm nữa, gió thổi qua đường phố, những ngôi sao từng ở trên đỉnh đầu giờ đã hạ thấp về phía tây, và những chàng trai trẻ này gây gổ với những kẻ khác. Những lời đã nói ra thì không thể nào rút lại được. Đến bình minh, thằng nhóc và viên hạ sĩ thứ hai quỳ xuống bên cạnh người tân binh đến từ Missouri, người ta gọi cậu là Earl, và họ gọi tên cậu, nhưng cậu không bao giờ đáp lời. Cậu nằm nghiêng trong bụi ở sân trong. Những người đàn ông đã bỏ đi, những cô gái điếm cũng đã bỏ đi. Một ông già đang quét nền đất bên trong quán rượu. Cậu bé nằm đó với hộp sọ bị đập vỡ trong một vũng máu, không ai biết do ai gây ra. Một người thứ ba đến với họ trong sân. Đó là người theo phái Mennonite. Một cơn gió ấm đang thổi, và phía đông ánh lên một thứ ánh sáng xám. Những con chim đậu trên giàn nho bắt đầu cựa mình và gáy.

"Không có niềm vui nào trong quán rượu bằng niềm vui trên con đường đến chốn vĩnh hằng", người Mennonite nói. Ông đã cầm chiếc mũ trên tay và bây giờ ông lại đội nó lên đầu, rồi quay đi và ra khỏi cổng.​
 
PHỤ LỤC 1
===========================================================
Các mốc thời gian chính trong cuộc chiến tranh Mỹ - Mexico
66.webp
Bối cảnh trước chiến tranh

1821: Mexico giành độc lập từ Tây Ban Nha.
1836: Texas tách khỏi Mexico và thành lập Cộng hòa Texas độc lập.
1845: Hoa Kỳ sáp nhập Texas, gây căng thẳng với Mexico. Mexico vẫn coi Texas là lãnh thổ của mình.

Diễn biến chính

Tháng 4/1846: Xung đột vũ trang đầu tiên xảy ra gần sông Rio Grande. Tổng thống James K. Polk tuyên bố Mexico đã tấn công Mỹ.
13/5/1846: Quốc hội Hoa Kỳ chính thức tuyên chiến với Mexico.
Tháng 5/1846: Tướng Zachary Taylor đánh bại quân Mexico trong trận Palo Alto và Resaca de la Palma.
Tháng 6–7/1846: Các lực lượng Mỹ chiếm California và New Mexico.
Tháng 9/1846: Taylor chiếm Monterrey, miền bắc Mexico.
Tháng 2/1847: Trận Buena Vista, Taylor đẩy lùi quân Mexico do Santa Anna chỉ huy.
Tháng 3/1847: Tướng Winfield Scott đổ bộ Veracruz và tiến về Mexico City.
Tháng 9/1847: Quân Mỹ chiếm Mexico City, đánh dấu thắng lợi quyết định.
Tháng 2/1848: Hiệp ước Guadalupe Hidalgo được ký kết, chấm dứt chiến tranh.

Hậu quả

- Mexico nhượng một vùng lãnh thổ rộng lớn (California, Nevada, Utah, Arizona, New Mexico, Texas, cùng các phần của Colorado, Wyoming, Kansas, Oklahoma) cho Hoa Kỳ.
- Hoa Kỳ trả cho Mexico 15 triệu USD và xóa một số khoản nợ.
- Cuộc chiến làm gia tăng căng thẳng về chế độ nô lệ tại Mỹ, góp phần dẫn tới Nội chiến Mỹ.

===========================================================
Về vai trò của các bộ lạc bản địa trong chiến tranh Mỹ - Mexico
Bối cảnh chung
  • Nhiều bộ lạc bản địa sống ở vùng biên giới tranh chấp giữa Mexico và Hoa Kỳ, đặc biệt ở Texas, New Mexico, California và vùng Tây Nam.
  • Các bộ lạc thường bị ép buộc chọn phe, hoặc lợi dụng chiến tranh để bảo vệ lãnh thổ, giành lại đất đai, hoặc trả thù các bên.
  • Một số bộ lạc đã ký hiệp ước hoặc hợp tác quân sự với cả Mexico lẫn Hoa Kỳ vào các thời điểm khác nhau.
Các bộ lạc và vai trò chính

+ Người Comanche

  • Kiểm soát vùng rộng lớn ở Texas và đồng bằng phía nam.
  • Tiến hành các cuộc tấn công vào cả khu định cư Mexico và Mỹ trong thời kỳ chiến tranh.
  • Không liên minh chính thức với bên nào, nhưng gây khó khăn cho cả hai phía.
  • Một số nhóm Comanche hợp tác tạm thời với Mexico để chống lại sự bành trướng của Mỹ.
+ Người Apache
  • Sinh sống ở vùng New Mexico, Arizona và miền bắc Mexico.
  • Thực hiện các cuộc đột kích vào tuyến tiếp tế và khu định cư của cả Mexico và Hoa Kỳ.
  • Một số thủ lĩnh Apache đàm phán với quân đội Mỹ để đổi lấy lợi ích lãnh thổ.
  • Góp phần làm suy yếu khả năng kiểm soát vùng biên giới của Mexico.
+ Người Navajo
  • Cư trú ở vùng New Mexico.
  • Bị ảnh hưởng nặng nề khi quân đội Mỹ chiếm New Mexico năm 1846.
  • Một số nhóm Navajo chống lại sự hiện diện của Mỹ, trong khi số khác tìm cách thương lượng.
  • Sau chiến tranh, Navajo tiếp tục đối mặt với các chiến dịch quân sự của Mỹ.
+ Người Pueblo (Hopi, Taos, Zuni)
  • Sống ở các khu định cư lâu đời ở New Mexico.
  • Chủ yếu giữ thái độ trung lập hoặc hợp tác hạn chế với quân đội Mỹ.
  • Một số cá nhân và cộng đồng cung cấp lương thực, hướng dẫn và thông tin cho quân Mỹ.
  • Ít tham gia trực tiếp vào giao tranh.
+ Người Cherokee và các bộ lạc ở Đông Texas
  • Một số nhóm Cherokee, Delaware và các bộ lạc khác sống ở Đông Texas.
  • Từng có quan hệ phức tạp với Mexico và Cộng hòa Texas trước chiến tranh.
  • Trong chiến tranh, phần lớn giữ trung lập hoặc tránh xa xung đột.
  • Một số cá nhân phục vụ như trinh sát hoặc hướng dẫn cho quân đội Mỹ.
+ Người Sioux và các bộ lạc đồng bằng phía bắc
  • Không tham gia trực tiếp vào chiến tranh Mỹ – Mexico.
  • Tuy nhiên, sự chú ý của quân đội Mỹ bị chuyển hướng về phía nam, tạo điều kiện cho các bộ lạc này mở rộng ảnh hưởng ở vùng đồng bằng.
  • Gián tiếp làm thay đổi cán cân quyền lực ở biên giới phía tây.
Vai trò gián tiếp và hậu quả
  • Các bộ lạc bản địa thường bị lãng quên trong các hiệp ước, đặc biệt là Hiệp ước Guadalupe Hidalgo năm 1848.
  • Hoa Kỳ cam kết trong hiệp ước sẽ ngăn chặn các cuộc tấn công của người bản địa vào Mexico, nhưng thực tế không thực hiện đầy đủ.
  • Sau chiến tranh, nhiều bộ lạc mất đất và bị đẩy vào các cuộc xung đột tiếp diễn với quân đội Mỹ.
  • Một số bộ lạc từng hợp tác với Mỹ sau đó lại trở thành mục tiêu của các chiến dịch quân sự Mỹ.

==============================================================

Khái niệm và bối cảnh về các nhóm săn lột da đầu

33.jpg

  • Scalphunter: Cá nhân hoặc nhóm vũ trang săn người bản địa (và đôi khi cả người Mexico) để lấy tiền thưởng do chính quyền bang, chính quyền Mexico hoặc các bang của Mỹ treo thưởng.
  • Tiền thưởng: Thường được trả theo da đầu, đôi khi theo tù binh hoặc bằng chứng khác.
  • Bối cảnh: Sau khi Texas tách khỏi Mexico (1836) và trong Chiến tranh Mỹ – Mexico (1846–1848), các chính quyền địa phương treo thưởng để đối phó với các cuộc đột kích của người Comanche, Apache, Navajo và các bộ lạc khác.
  • Giai đoạn: Hoạt động mạnh nhất từ thập niên 1830 đến 1870s, đặc biệt ở Texas, New Mexico, Arizona và miền bắc Mexico.
Các nhóm và hoạt động chính

Texas Rangers (Đặc vụ Texas) và các nhóm liên quan

  • 1835–1845: Tham gia các chiến dịch chống Comanche và các bộ lạc ở Texas, đôi khi nhận tiền thưởng theo da đầu.
  • 1846–1848: Trong Chiến tranh Mỹ – Mexico, một số đơn vị Texas Rangers tham gia trinh sát và chiến đấu cho quân đội Mỹ.
  • Sau 1848: Tiếp tục các cuộc tuần tra và săn đuổi người bản địa, đôi khi vượt biên sang Mexico.
  • Tính chất: Bán chính thức, được chính quyền Texas hậu thuẫn một phần.
Các nhóm săn da đầu tư nhân ở Texas
  • 1839–1850s: Nhiều nhóm vũ trang tư nhân tổ chức săn người Comanche, Apache và các bộ lạc khác để lấy tiền thưởng.
  • Tiền thưởng: Chính quyền Texas có thời điểm treo thưởng cho da đầu người bản địa, với mức khác nhau tùy thời kỳ.
  • Hoạt động: Đột kích các làng, giết người bản địa, lấy da đầu làm bằng chứng.
  • Hậu quả: Góp phần làm suy giảm dân số và đẩy các bộ lạc vào các cuộc chiến tranh tiếp diễn.
Các nhóm ở New Mexico và Arizona
  • 1846–1850s: Sau khi Mỹ chiếm New Mexico, các nhóm vũ trang địa phương và tình nguyện viên Mỹ tham gia săn Apache, Navajo và các bộ lạc khác.
  • Tiền thưởng: Chính quyền lãnh thổ và một số bang treo thưởng cho da đầu hoặc tù binh.
  • Hoạt động: Tuần tra, đột kích, đôi khi phối hợp với quân đội Mỹ.
  • Hậu quả: Dẫn tới các chiến dịch quân sự lớn sau này, như các cuộc chiến chống Navajo.
Các nhóm săn da đầu ở miền bắc Mexico
  • 1848–1860s: Sau chiến tranh, các nhóm vũ trang từ Mỹ thường vượt biên sang Mexico săn người bản địa để lấy tiền thưởng.
  • Tiền thưởng: Một số chính quyền bang Mexico cũng treo thưởng cho da đầu người bản địa trong các cuộc xung đột nội bộ.
  • Hoạt động: Phối hợp hoặc cạnh tranh với các nhóm địa phương, gây bất ổn vùng biên giới.
  • Hậu quả: Làm xấu quan hệ Mỹ – Mexico và gây đau khổ cho dân bản địa hai bên biên giới.
Các nhóm săn da đầu trong Nội chiến Mỹ và sau đó
  • 1861–1865: Một số nhóm tiếp tục hoạt động ở biên giới trong khi Nội chiến diễn ra.
  • 1865–1870s: Sau Nội chiến, các cuộc chiến chống người bản địa ở Đồng bằng lớn và Tây Nam tiếp tục, với một số nhóm săn da đầu hoạt động.
  • Tiền thưởng: Chính phủ liên bang và các bang đôi khi treo thưởng, nhưng chính thức thì ít hơn so với giai đoạn trước.
Các nhóm săn da đầu ở California
  • 1850s–1860s: Chính quyền California treo thưởng cho da đầu người bản địa trong các cuộc chiến chống các bộ lạc ở miền bắc và trung California.
  • Hoạt động: Các nhóm vũ trang tư nhân và dân quân địa phương săn người bản địa để lấy tiền thưởng.
  • Hậu quả: Góp phần vào sự suy giảm nghiêm trọng dân số người bản địa California.
Đặc điểm chung của các nhóm săn da đầu
  • Tổ chức: Tư nhân hoặc bán chính thức, thường do chính quyền địa phương hậu thuẫn hoặc làm ngơ.
  • Động cơ: Tiền thưởng, trả thù, chiếm đất, hoặc kết hợp cả ba.
  • Phương thức: Đột kích, phục kích, tấn công các làng và khu định cư của người bản địa.
  • Mức độ: Khó thống kê chính xác do thiếu tài liệu và tính chất phi chính thức.
 
CHƯƠNG IV
Lên đường cùng nhóm phiêu quân – Trên đất khách – Cuộc săn linh dương – Bị dịch tả – Sói – Sửa chữa xe ngựa – Một vùng hoang mạc – Bão đêm – Bầy ngựa ma – Lời cầu nguyện xin mưa – Một trang trại giữa sa mạc – Ông già – Vùng đất mới – Một ngôi làng bị bỏ hoang – Những người chăn gia súc trên đồng bằng – Bị tấn công bởi người Comanche.

Năm ngày sau, trên con ngựa của Earl đã chết, thằng nhóc đi theo những người lính kia cưỡi ngựa và những toa xe qua quảng trường, rồi ra khỏi thị trấn trên con đường xuống miền hoang dã. Họ cưỡi ngựa qua Castroville, nơi bọn chó sói đồng cỏ đã đào xác người chết lên và vương vãi xương cốt. Họ vượt sông Frio, rồi vượt sông Nueces, rồi rời khỏi đường Presidio và rẽ về hướng bắc, với những người đi trinh sát được bố trí phía trước và phía sau. Họ vượt sông Rio del Norte trong đêm, lội qua bến cạn đầy cát để bước lên một vùng hoang dã đầy tiếng hú xa xôi.

Rạng sáng, họ dàn thành một hàng dài trên đồng bằng, những toa xe chở gỗ khô đã bắt đầu rên rỉ, những con ngựa thở phì phò. Tiếng móng guốc đục đều, tiếng đồ đạc lách cách và tiếng dây cương leng keng không dứt. Ngoại trừ vài bụi cây chổi lê lưa thưa, xương rồng tai thỏ và những mảng cỏ xoắn nhỏ, mặt đất trơ trụi; những ngọn núi thấp ở phía nam cũng trơ trụi. Về phía tây, đường chân trời bằng phẳng và thẳng tắp như một cái thước kẻ.

Những ngày đầu tiên, họ không thấy bất kỳ con thú săn nào, không một bóng chim ngoại trừ lũ kền kền. Ở đằng xa, họ thấy những đàn cừu hoặc dê di chuyển dọc theo đường chân trời trong những dải bụi bay, và họ ăn thịt những con lừa hoang bị bắn trên đồng bằng. Tay trung sĩ mang trong bao yên ngựa một khẩu súng trường Wesson hạng nặng, dùng nạp đạn bằng phễu thuốc súng và giấy bọc đạn, bắn ra viên đạn hình nón. Với khẩu súng đó, hắn bắn những con lợn rừng nhỏ trên sa mạc. Sau này, khi đoàn lính bắt đầu thấy những đàn linh dương, hắn thường dừng lại vào lúc hoàng hôn, khi ánh nắng đã rời khỏi mặt đất, vặn một chân chống hai nhánh vào ổ ren dưới nòng súng, và bắn hạ những con vật đang đứng gặm cỏ ở khoảng cách nửa dặm. Khẩu súng có một ống ngắm du xích trên bệ khóa nòng, và hắn ước lượng khoảng cách, đo gió, rồi chỉnh ống ngắm như một người đang dùng thước panme. Người hạ sĩ Texas nằm bên cạnh hắn với một cái ống nhòm và báo về những phát bắn quá cao hay quá thấp nếu tay trung sĩ bắn trượt. Chiếc xe goòng chờ sẵn bên cạnh cho đến khi hắn bắn hạ được ba bốn con, rồi kêu cọc cọc lăn bánh qua vùng đất đang nguội dần, với những người đánh xe lắc lư và cười toe toét trên thùng xe. Tay trung sĩ không bao giờ cất súng đi mà không quên lau chùi và tra mỡ vào nòng.

Họ cưỡi ngựa và mang đầy đủ vũ khí. Mỗi người có một khẩu súng trường, nhiều người còn đeo thêm súng lục ổ quay Colt loại nhỏ, bắn được năm phát. Viên đại úy đeo hai khẩu súng lục kỵ binh trong bao da vắt ngang qua yên ngựa phía trước, mỗi khẩu nằm ngang tầm đầu gối của ông. Đây là loại súng do chính phủ Mỹ cấp, theo bằng sáng chế của Colt. Ông mua chúng từ một tên đào ngũ trong một quán trọ kiêm chuồng ngựa ở Soledad, trả tám mươi đồng vàng cho cả súng, bao da, khuôn đúc đạn và bình đựng thuốc súng đi kèm.

Khẩu súng trường của thằng nhóc đã bị cưa ngắn và nạo rộng nòng đến mức trở nên rất nhẹ. Khuôn đúc đạn cho nó nhỏ đến nỗi nó phải bọc đạn bằng da hoẵng. Nó đã bắn thử vài phát, và đạn thường bay lệch hướng theo ý riêng của nó. Khẩu súng được để trên sống yên trước mặt thằng nhóc, vì nó không có bao da để đựng. Nó đã từng được mang theo như vậy, chắc từ thời Waterloo, và phần thân trước ở phía dưới đã bị mài mòn đi nhiều.

Ban đêm vừa buông xuống, chiếc xe goòng trở về, chất đầy thịt. Những người đánh xe đã chất đầy thùng xe bằng mấy cành cây thùa và gốc cây mà họ dùng ngựa kéo lên khỏi mặt đất. Họ dỡ củi xuống rồi bắt đầu cắt thịt những con linh dương đã mổ bụng ngay trên sàn xe. Họ dùng dao săn Bowie và rìu tay, vừa cười vừa chặt giữa một bể máu me, một cảnh tượng bốc mùi dưới ánh đèn lồng cầm tay. Khi màn đêm buông xuống hoàn toàn, những bộ sườn đã đen lại, dựng nghi ngút khói bên các đống lửa. Trên than hồng, họ đùa giỡn với những que gỗ đã gọt nhọn, xiên từng miếng thịt vào đó, tiếng bình đựng nước leng keng và những tràng chế giễu không dứt. Đêm ấy, họ ngủ trên nền đất lạnh của một vùng đất xa lạ. Bốn mươi sáu người đàn ông cuộn mình trong chăn dưới cùng một vì sao, với tiếng sói đồng cỏ hú vẫn y hệt như ở nhà, nhưng mọi thứ xung quanh đều đã đổi khác và xa lạ.

Họ thức dậy và lên đường mỗi ngày trong bóng tối, trước khi trời sáng. Họ ăn thịt nguội và bánh quy, không nhóm lửa. Mặt trời mọc soi bóng một đoàn quân đã trở nên rệu rã sau sáu ngày lên đường. Trang phục của họ chẳng ăn nhập gì với nhau, còn mũ nón còn tệ hơn. Những con ngựa nhỏ đốm bước đi lảo đảo hung hăng, và một đám ruồi vo ve dữ dội chiến đấu không ngừng trong thùng xe chở thịt thú săn. Bụi do đoàn người khuấy lên nhanh chóng tan biến và lạc mất giữa sự mênh mông của vùng đất ấy. Riêng người tiếp tế xanh xao thì âm thầm theo sau, con ngựa gầy và xe hàng tồi tàn của ông ta chẳng để lại dấu vết trên mặt đất rõ như thế, hay trên bất kỳ mặt đất nào. Dưới hàng ngàn đống lửa trong bóng hoàng hôn xanh thẳm lạnh lẽo, ông ta giữ kho lương của mình, dưới vỏ bọc một người buôn bán nhăn nhó cười méo xệch, nhưng lão luyện trong việc theo sau mọi chiến dịch, hoặc săn lùng người ta khỏi những cái hang ổ của họ, ở những vùng trống trải ấy, nơi họ đã trốn khỏi Thượng Đế.

Vào cùng ngày đó, hai người đổ bệnh và một người chết trước khi trời tối. Sáng hôm sau lại có một người ốm khác thế chỗ. Hai người bệnh được đặt giữa các bao đậu, gạo và cà phê trong xe tiếp tế, phủ chăn lên để che nắng. Họ lên đường trong tiếng xe đập lắc và rung chuyển, khiến lớp da thịt hoại tử gần như rời khỏi xương, đến nỗi họ gào khóc xin được bỏ lại, và rồi họ chết. Những người còn sống tách đoàn trong bóng tối buổi sáng sớm để đào mộ cho những kẻ xấu số bằng xương bả vai của linh dương, đắp đá lên, và lại tiếp tục cưỡi ngựa đi.

Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Ở phía đông, mặt trời nhuộm những vệt sáng xanh xao, rồi một dải màu đậm hơn chảy ra, như máu rỉ lên từng đợt bất chợt, bùng sáng thành từng lớp phẳng. Nơi mặt đất hòa vào bầu trời ở rìa của cõi tạo sinh, đỉnh mặt trời nhô lên từ hư không, như cái đầu của một dương vật khổng lồ màu đỏ, cho đến khi nó vượt khỏi vành đai vô hình, nằm ngồi xổm, phập phồng và đầy ác ý phía sau lưng họ. Bóng của những hòn đá nhỏ nhất nằm trên cát như những nét bút chì, còn bóng dáng của những người lính và ngựa của họ trải dài phía trước, thon dài như những sợi tơ của màn đêm còn sót lại mà họ đã cưỡi qua, như thể những xúc tu sẵn sàng trói họ vào bóng tối sắp tới. Họ cúi đầu cưỡi ngựa, vô diện dưới vành nón, như một đạo quân đang ngủ khi hành quân. Đến giữa buổi sáng, một người nữa đã chết. Họ nhấc anh ta khỏi chiếc xe nơi anh ta đã làm bẩn những bao tải nằm giữa, chôn anh ta luôn, và tiếp tục cưỡi ngựa.

Bấy giờ lũ sói đã bắt đầu theo họ, những con sói lớn màu xám xanh với cặp mắt vàng, nhón chân bước đi hoặc ngồi xổm trong cái nóng lung linh để nhìn họ lúc họ dừng lại giữa trưa. Lại tiếp tục di chuyển. Chúng phi nước kiệu, đi liệng, đi thong thả với những chiếc mũi dài cúi sát mặt đất. Vào buổi tối, mắt lũ sói lóe lên rồi lại ẩn đi ngoài kia, trên rìa ánh lửa; và vào buổi sáng, khi những người cưỡi ngựa lên đường trong bóng tối se lạnh, họ có thể nghe tiếng gầm gừ và tiếng chóp chép của mồm chúng phía sau khi chúng đột nhập trại để lục soát thức ăn thừa.

Những chiếc xe kéo trở nên khô đến nỗi chúng lắc lư qua lại như những con chó ghẻ, và cát đang bào mòn chúng. Các bánh xe co rúm lại, các căm xe xoay lỏng trong trục, kêu lạch cạch như trục khung dệt, và ban đêm, họ đóng những căm giả vào các lỗ mộng, buộc chúng xuống bằng những dải da xanh, và chèn nêm giữa sắt vành xe và những thanh vành đã nứt vì nắng. Chúng lắc lư tiếp tục lăn bánh, cái vết tích của thành quả lao động xiêu vẹo ấy để lại trên cát như dấu vết của loài rắn chuông sừng. Các chốt gỗ lỏng ra và rơi lại phía sau. Bánh xe bắt đầu vỡ tan.

Đã mười ngày trôi qua, với bốn người chết, họ bắt đầu băng qua một đồng bằng toàn đá bọt nguyên chất, nơi chẳng có bụi cây, chẳng có cỏ dại, xa đến quá tầm mắt. Đại úy ra lệnh dừng và gọi một người Mexico làm hướng đạo. Họ nói chuyện, người Mexico ra hiệu, đại úy cũng ra hiệu, và một lúc sau họ lại tiếp tục di chuyển.

“Chỗ này tôi trông như đường xuống địa ngục ấy”, một người trong đám lính nói.

“Thế giờ tính cho ngựa ăn gì?”

“Tôi tin là chỉ cần nghiến cát này như cho gà ăn và sẵn sàng cho ngô đã bóc vỏ khi nghiến xong.”

Trong hai ngày, họ bắt đầu gặp xương cốt và quần áo bị vứt bỏ. Họ thấy những bộ xương la nửa chôn dưới cát, trắng và bóng đến mức dường như phản chiếu ánh sáng ngay cả trong cái nóng chói chang. Họ thấy giỏ đựng, yên ngựa thồ hàng và xương người, và họ thấy một con la còn nguyên, xác khô và đen như sắt. Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Họ băng qua vùng hoang vu giữa một buổi trưa trắng xóa, như một đạo quân ma, tái nhợt vì bụi, như những bóng hình đã bị tẩy xóa trên một tấm bảng. Lũ sói lúp xúp đi theo thậm chí còn tái nhợt hơn, tụ tập, chạy lướt và ngẩng mõm dài lên không trung. Ban đêm, ngựa được cho ăn bằng tay từ những bao bột ngô và được uống nước từ xô. Không còn bệnh tật nữa. Những người sống sót nằm yên lặng trong cái hố trũng kiểu miệng núi lửa đó và nhìn những vì sao trắng nóng hổi lao vun vút xuyên qua bóng tối. Hoặc họ ngủ với trái tim xa lạ của mình đập trong cát, như những người hành hương kiệt sức trên mặt hành tinh Anareta chết chóc, bám chặt vào một sự vô định đang xoay tròn trong đêm. Họ di chuyển tiếp, và sắt vành xe bóng lên như crôm khi được mài liên tục trong đá bọt. Về phía nam, các dãy núi xanh tím đứng với hình bóng nhợt nhạt hơn trên cát như những phản chiếu trong hồ, và bây giờ không còn bầy sói nữa.

Suốt đêm gió thổi, và lớp bụi mịn khiến răng họ ê buốt. Cát ngấm vào mọi thứ, lẫn vào mọi thứ họ ăn. Vào buổi sáng, một mặt trời màu nước tiểu mọc mờ ảo qua những tấm bụi, chiếu xuống một thế giới mờ đục và không hình thù. Những con vật đang kiệt sức. Họ dừng lại và dựng một trại khô, không củi không nước, và những con ngựa khốn khổ co rúm lại, rên rỉ như chó ốm.

Đêm đó, họ cưỡi qua một vùng đất đầy sấm sét và hoang dã, nơi những hình dạng kỳ lạ của ngọn lửa xanh mềm chạy trên kim loại của đồ trang bị ngựa, bánh xe lăn trong những vành lửa, và những hình dạng nhỏ màu xanh nhạt đáp xuống tai ngựa và trên vành nón của những người đàn ông. Suốt đêm, chớp sáng tấm rung lên không nguồn cơn ở phía tây, sau những đám mây tích giữa đêm, biến vùng sa mạc xa xa thành một buổi ban ngày xanh biếc. Những ngọn núi trên đường chân trời đột ngột hiện ra sắc nét, đen và tái nhợt, như một vùng đất của một trật tự khác ở ngoài kia, mà bản chất của nó không phải là đá mà là nỗi sợ hãi. Sấm sét di chuyển lên từ phía tây nam, và ánh chớp soi sáng sa mạc quanh họ, xanh biếc và trơ trọi, những vùng đất rộng lớn vang vọng vươn ra khỏi đêm tuyệt đối như một vương quốc quỷ dữ được triệu gọi, hay một vùng đất bị hoán đổi, mà khi ngày đến sẽ chẳng để lại cho họ dấu vết, khói, hay tàn tích gì hơn một giấc mơ đầy ám ảnh.

Họ dừng lại trong bóng tối để cho súc vật nghỉ ngơi. Vài người đàn ông cất vũ khí vào xe kéo vì sợ thu hút sét, thì một người tên Hayward cầu nguyện xin mưa.

Hắn cầu nguyện: "Lạy Chúa Toàn Năng, nếu điều này không nằm quá xa ngoài kế hoạch vĩnh cửu của Ngài, thì Ngài có nghĩ rằng chúng con có thể có một chút mưa ở đây không?"

"Cầu to nữa lên đi", vài người gọi và quỳ xuống, cònhắn kêu lên giữa tiếng sấm và gió: "Lạy Chúa, chúng con khô đến kiệt quệ ở đây rồi. Chỉ vài giọt cho mấy kẻ già khốn khổ ngoài đồng cỏ này, xa nhà muôn dặm."

"Amen", họ đáp, và vỗ ngựa, họ tiếp tục cưỡi đi. Trong vòng một giờ, gió mát lại và những giọt mưa to như đạn chì đổ xuống trên họ từ bóng tối hoang dã ấy. Họ có thể ngửi thấy mùi đá ẩm và mùi ngựa ướt, da ướt ngọt ngào. Họ tiếp tục cưỡi đi.

Họ cưỡi ngựa xuyên qua cái nóng ban ngày với những thùng nước đã cạn và lũ ngựa đang hấp hối, và đến buổi tối, những kẻ được vận mệnh của họ chọn giờ đây, rách rưới, trắng xóa vì bụi như một đạo quân thợ xay có vũ trang, cưỡi ngựa và lang thang trong điên loạn, cưỡi lên khỏi sa mạc qua một khe hở giữa những ngọn đồi đá thấp và đổ xuống một túp lều jacal đơn độc, một căn lều thô sơ bằng bùn và cành cây đan, với một chuồng ngựa sơ sài và những bãi quây.

Những hàng rào bằng xương bao quanh khu vực nhỏ bé đầy bụi bặm này; và cái chết dường như là đặc điểm nổi bật nhất của cảnh quan. Những hàng rào kỳ lạ bị cát và gió bào mòn, bị mặt trời tẩy trắng và nứt nẻ như đồ sứ cũ với những vết nứt khô màu nâu, nơi không có sự sống nào lay động. Những bóng hình lượn sóng của những người cưỡi ngựa lướt qua vùng đất khô màu nâu vàng và qua lớp bùn của túp lều jacal, những con ngựa run rẩy, đánh hơi thấy mùi nước. Đại úy White giơ tay dừng, tay trung sĩ nói vài lời, hai người trong đoàn xuống ngựa và tiến về phía túp lều với súng trường. Họ đẩy một cánh cửa làm bằng da sống và bước vào. Vài phút sau, họ xuất hiện trở lại.​

“Có ai đó ở gần đây. Than còn hồng.”

Tay đại úy quan sát khoảng không xung quanh với vẻ cảnh giác. Ông ta xuống ngựa với sự kiên nhẫn của một người đã quen ứng phó với sự bất cẩn, và băng qua căn lều jacal. Khi ông bước ra, ông lại quan sát địa hình lần nữa. Những con ngựa dịch chuyển, leng keng và giậm chân, những người lính kéo cằm chúng xuống và quát mắng.​

“Này trung sĩ.”

“Thưa có.”

“Những kẻ chủ lều này không thể đi xa được. Thử tìm xem có thể tìm thấy họ không. Và xem ở đây có bất cứ thứ gì cho ngựa ăn không.”​

“Thức ăn cho ngựa, thưa ngài?”

“Đúng, thức ăn cho ngựa.”

Tay trung sĩ bèn đặt một tay lên yên sau và nhìn quanh nơi họ đang đứng, lắc đầu và xuống ngựa.
 
CHƯƠNG IV (tiếp)
Họ đi xuyên qua túp lều jacal, ra khu vực phía sau, rồi tiến ra chuồng ngựa. Không có con vật nào, và chẳng có gì ngoài một ngăn chuồng lấp đầy một nửa bằng những cây sotol khô dùng làm thức ăn gia súc. Họ đi ra phía sau đến một chỗ trũng giữa những tảng đá, nơi có nước đọng và một dòng suối nhỏ chảy qua cát. Có dấu móng guốc quanh vũng nước, phân khô, và vài con chim nhỏ chạy lăng xăng không mục đích dọc theo mép dòng suối nhỏ.

Tay trung sĩ đang ngồi xổm trên gót chân, rồi hắn đứng dậy và nhổ nước bọt.

"Ừm," hắn nói. "Có gì bất thường mà các anh nhận ra ở hai mươi dặm đổ lại không?"

Đám tân binh quan sát vùng trống trải xung quanh.

"Tôi không tin những người ở đây đã rời được lâu đâu."

Họ uống nước và đi bộ trở lại lều jacal. Ngựa đang được dắt dọc theo con đường hẹp.

Tay đại úy đang đứng, hai ngón tay cái móc vào thắt lưng.

"Tôi không thấy họ đã đi đâu cả", tay trung sĩ nói.

"Thế có gì trong cái lều nhỏ kia?"

"Chỉ có ít thức ăn cho gia súc khô còn lại."

Đại úy cau mày. "Đáng ra phải có một con dê hoặc một con lợn. Cái gì đó giết thịt được. Ít nhất là gà."

Vài phút sau, hai người lính lôi ra một ông già từ chuồng ngựa. Ông ta phủ đầy bụi và trấu khô, một cánh tay che lấy mắt. Ông bị lôi đi, rên rỉ dưới chân viên đội trưởng, nơi ông nằm sấp xuống trong thứ trông như tấm vải bông trắng quấn quanh người. Ông đưa tay bịt tai và khuỷu tay che mắt, như một người bị gọi đến để chứng kiến một điều kinh hãi. Viên đội trưởng quay đi vì chán chẳng thèm nhì. Tay trung sĩ dùng ủng huých vào người ông. "Lão này bị sao vậy?", đại úy hỏi.

"Hắn đang đái ra quần đấy, trung sĩ. Hắn đái ra quần đấy."

Tay đại úy ra hiệu về phía người đàn ông khốn khổ bằng đôi găng tay.

"Thưa ngài?”

"Thôi kéo cái lão già này ra khỏi đây."

"Ngài có muốn Candelario thử nói chuyện với hắn không?"

"Tên này bẩn tưởi thật. Kéo hắn ra xa hộ tôi cái."

Họ kéo ông già đi. Ông bắt đầu lảm nhảm, nhưng chẳng ai thèm nghe, và đến sáng thì ông đã biến mất.

Đoàn quân đóng tạm bên bờ hồ chứa nước, tay thợ rèn lo cho mấy con la và ngựa con bị rơi móng sắt, và họ sửa chữa xe ngựa dưới ánh lửa trại cho đến tận khuya. Họ lên đường trong một bình minh đỏ rực, nơi trời và đất thu hẹp thành một mặt phẳng sắc như lưỡi dao. Ngoài kia, những cụm mây đen nhỏ như quần đảo, và thế giới mênh mông cát bụi cùng bụi cây thấp vút lên cắt vào khoảng không vô tận, nơi những hòn đảo xanh lam ấy rung rinh, và mặt đất trở nên bất định, nghiêng ngả nặng nề, chòng chành xuyên qua những sắc hồng và bóng tối phía sau rạng đông, vươn đến những chốn không gian xa thẳm nhất.

Họ cưỡi ngựa qua những vùng đá nhiều màu nhô lên thành những khe rãnh lởm chởm, và những tảng đá bazan dựng thành các tầng dịch chuyển cùng những nếp uốn cong vòng lại phía sau và gãy cụt như gốc của những thân cây đá khổng lồ, và những tảng đá bị sét đánh vỡ toác, những mạch nước bốc hơi trong những cơn bão cũ. Họ đi qua những vách đá bazan màu nâu chạy dọc theo các sống núi hẹp và đổ xuống đồng bằng như tàn tích của những bức tường cổ, khắp nơi đều là những điềm báo về bàn tay con người trước khi con người xuất hiện, hay trước bất kỳ sinh vật sống nào.

Họ đi ngang qua một ngôi làng lúc đó đã là phế tích, và cắm trại trong những bức tường của một nhà thờ bằng đất nện cao vút, đốt những thanh xà gỗ rơi từ mái làm củi cho lửa trại, trong khi những con cú kêu từ các vòm cuốn trong bóng tối.

Ngày hôm sau, trên đường chân trời về phía nam, họ nhìn thấy những đám bụi trải dài hàng dặm trên mặt đất. Họ tiếp tục cưỡi ngựa, mắt dõi theo đám bụi cho đến khi nó bắt đầu tiến gần. Tay đại úy giơ tay ra hiệu dừng lại, rồi từ túi yên ngựa lấy ra chiếc kính viễn vọng bằng đồng cũ của mình, tháo khớp nối và từ từ quét qua khắp vùng đất. Tay trung sĩ cưỡi ngựa bên cạnh ông; một lát sau, đại úy đưa cho hắn cái ống kính để nhìn.

“Thế quái nào, có vẻ như một đàn gì đó khổng lồ đang đến chỗ ta.”

“Tôi tin chắc là ngựa.”

“Anh ước lượng chúng cách bao xa?”

“Khó nói, thưa ngài.”

“Gọi Candelario lên đây.”

Tay trung sĩ quay lại và ra hiệu cho người Mexico. Khi anh ta cưỡi ngựa tới, tay trung sĩ đưa kính cho anh ta, người Mexico đưa ống kính lên mắt và nheo mắt nhìn. Rồi anh ta hạ ống kính xuống và quan sát bằng mắt thường, sau đó lại đưa lên và nhìn lần nữa. Rồi anh ta ngồi trên lưng ngựa, tay cầm ống kính áp vào ngực như một cây thánh giá.

“Thế nào?” viên đội trưởng hỏi.

Anh ta lắc đầu.

“Cái quái gì thế? Không phải trâu bò đấy chứ?”

“Không. Tôi nghĩ có lẽ là ngựa.”

“Đưa tôi cái ống nhòm xem nào.”

Người Mexico đưa lại ống nhòm, tay đại úy lại ngắm đường chân trời một lần nữa, rồi dùng gót bàn tay ấn ống kính thu lại, bỏ vào túi yên, giơ tay ra hiệu và họ tiếp tục lên đường.

Đó là một đoàn gia súc, la, và ngựa. Có đến vài nghìn con, và chúng đang di chuyển theo hướng chéo về phía đoàn người. Đến chiều muộn, có thể thấy bằng mắt thường những người cưỡi ngựa điều khiển đàn: một vài tên da đỏ đầu trần, áo quần tả tơi, đang điều chỉnh hai bên sườn đàn bằng những chú ngựa nhỏ nhanh nhẹn của chúng. Những kẻ khác đội mũ, có lẽ là người Mexico. Tay trung sĩ quay ngựa trở lại chỗ đại úy đang ngồi trên yên.

“Ý ngài ra sao, thưa đại úy?”

“Tôi nghĩ đó là một bọn mọi chuyên đi ăn trộm gia súc, đó là những gì tôi nghĩ. Còn anh?”

“Trông cũng giống thế với tôi.”

Tay đại úy nhìn qua ống nhòm. “Tôi cho rằng chúng đã thấy chúng ta”, ông nói.

“Chúng đã thấy chúng ta?”

“Anh ước lượng có bao nhiêu người đang cưỡi?”

“Khoảng một tá.”

Đại úy gõ nhẹ ống kính trong bàn tay đang đeo găng. “Chúng có vẻ không quan tâm nhỉ?”

“Thưa ông, không. Chúng không quan tâm.”

Tay đại úy cười gằn. “Chúng ta có thể sẽ được xem một trò giải trí nho nhỏ trước khi ngày tàn đấy.”

Những con đầu tiên của đàn gia súc bắt đầu lướt qua họ trong một đám bụi vàng, những con bò gầy gò, xương sườn lộ ra, cặp sừng chênh vênh không con nào giống con nào, cùng những con la nhỏ bé mảnh dẻ đen như than cọ xô vào nhau và vểnh những cái đầu hình cái búa lên trên lưng những con khác, rồi thêm nhiều bò nữa, và cuối cùng là những người chăn đầu tiên cưỡi ngựa lên từ phía ngoài, ép đàn gia súc phải đi giữa họ và nhóm cao bồi đang chờ. Phía sau họ là một đàn ngựa con vài trăm con. Tay trung sĩ tìm Candelario. Hắn cứ thúc ngựa lùi dọc theo hàng ngũ nhưng không thấy đâu. Hắn bèn thúc ngựa len qua đoàn quân và di chuyển lên phía xa. Những người lùa gia súc cuối cùng giờ đang hiện ra trong đám bụi, và viên đội trưởng đang vừa ra hiệu vừa hét lớn. Những con ngựa con bắt đầu tách khỏi đàn và những người chăn đang dồn chúng về phía đoàn quân mà họ gặp trên thảo nguyên. Qua lớp bụi bám trên da ngựa, có thể thấy những hình chữ V sơn màu, những bàn tay, mặt trời đang mọc, chim chóc và cá đủ mọi họa tiết, tựa như bóng mờ của những nét vẽ cũ thấm qua lớp hồ trên tấm vải.

Và giờ đây, trên cả tiếng vó guốc không móng gõ xuống đất, tiếng sáo quena vi vu cất lên, những cây sáo làm từ xương người. Một vài người trong đoàn bắt đầu kéo cương ghìm ngựa, một số khác xoay xở trong hỗn loạn, thì từ phía sau đám ngựa con ấy, một đạo quân huyền ảo gồm những kỵ binh cầm thương và cung thủ cưỡi ngựa hiện ra, khiên của họ được trang trí bằng những mảnh gương vỡ loang lổ, phản chiếu hàng ngàn tia nắng chói chang vào mắt kẻ thù. Một đội quân kinh hoàng, hàng trăm tên, nửa khỏa thân hoặc khoác lên người những bộ trang phục kỳ quái, có kẻ ăn mặc như trong Kinh Thánh, có kẻ trông như vừa bước ra từ một cơn ác mộng sốt cao. Chúng mặc da thú, lụa óng ánh, những mảnh quân phục vẫn còn dính máu của chủ cũ, áo khoác của những kỵ binh đã chết, áo chẽn kỵ binh có khuy và tua rua. Một tên đội mũ ống khói, một tên cầm ô, một tên mang tất trắng và đeo mạng che mặt cô dâu đã nhuốm máu. Vài tên đội mũ làm từ lông sếu hoặc mũ da sống có gắn sừng bò hay sừng trâu. Một tên mặc áo đuôi én lộn ngược và cởi truồng. Một tên khác mặc bộ giáp của một lính viễn chinh Tây Ban Nha, tấm ngực và miếng bả vai bị những đòn chùy hoặc mã tấu từ một miền đất khác đánh mẻ sâu, bởi những bàn tay của những kẻ giờ đây chỉ còn lại tro xương.

Nhiều tên bện tóc với lông của đủ loại thú, để những bím tóc kéo lê dưới đất và vướng vào tai ngựa. Đuôi ngựa của chúng được tết cùng những mảnh vải sặc sỡ. Một tên thậm chí còn sơn cả đầu ngựa thành màu đỏ thẫm. Khuôn mặt của tất cả những người cưỡi ngựa đều kỳ quái và lố lăng, phủ đầy những mảng sơn, trông như một đoàn hề cưỡi ngựa đang nhạo báng cái chết.

Chúng vừa tru tréo bằng một thứ tiếng man rợ vừa ào ạt lao xuống đoàn quân, như một đạo quân từ địa ngục. Chúng khủng khiếp hơn cả cõi diêm sinh trong trí tưởng tượng của những tín hữu, vừa gào thét, vừa rên rỉ, vừa phủ trong khói như những sinh thể mờ ảo đến từ những vùng vượt khỏi nhận thức, nơi con mắt lạc lối và đôi môi nhăn nhúm không ngừng chảy dãi.

"Ôi lạy Chúa tôi," tay trung sĩ thốt lên.

Một trận mưa tên rít xuyên qua đoàn quân, khiến nhiều người loạng choạng rồi ngã khỏi yên ngựa. Những con ngựa dựng đứng, tung vó, trong khi bọn kỵ binh hung hãn lao dọc hai bên sườn đoàn quân, rồi quay lại và xông thẳng vào họ với những ngọn giáo dài.

Đoàn quân lúc này đã dừng lại. Những phát súng đầu tiên vang lên, và khói thuốc súng xám cuộn qua lớp bụi khi những ngọn giáo xé toạc hàng ngũ. Con ngựa của thằng nhóc sụp xuống đất, thở ra một tiếng dài đầy hơi. Nó đã bắn khẩu súng của mình và giờ ngồi trên mặt đất, mò mẫm tìm túi đạn.

Một người lính gần đó ngồi với một mũi tên cắm xuyên cổ. Hắn hơi cúi người như đang cầu nguyện. Thằng nhóc định đưa tay về phía đầu sắt của mũi tên dính máu, nhưng rồi nó thấy một mũi tên khác cắm sâu vào ngực người lính, đến tận phần lông đuôi. Hắn đã chết.

Khắp nơi là ngựa ngã và người nháo nhác. Nó thấy một người lính khác loay hoay nạp đạn cho súng trong khi máu chảy ra từ hai tai. Nó thấy những người tháo khẩu súng lục, cố lắp những ổ đạn dự phòng mà họ mang theo. Nó thấy những người quỳ gối, nghiêng người và ôm lấy bóng mình trên mặt đất. Nó thấy những kẻ bị giáo đâm, bị túm tóc và lột da đầu ngay khi vẫn còn đứng. Nó thấy những con ngựa chiến giẫm đạp lên những kẻ đã ngã xuống.

Rồi một con ngựa nhỏ mặt trắng, một mắt đã đục mờ, lao ra khỏi màn khói. Nó cắn về phía thằng nhóc như một con chó rồi biến mất.

Giữa những người bị thương, có kẻ dường như câm lặng, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có kẻ tái nhợt dưới lớp mặt nạ bụi. Có kẻ đã vấy bẩn cả người, hoặc loạng choạng rồi gục xuống trên những ngọn giáo của bọn man rợ.

Giờ đây một dàn cảnh hoang dã ào tới: những con ngựa lao đầu, mắt lồi ra, răng nghiến chặt, trên lưng là những kẻ trần truồng với những chùm tên kẹp giữa hai hàm răng. Khiên của chúng lấp lánh trong bụi. Từ phía bên kia của hàng ngũ đã tan vỡ, tiếng sáo xương vi vu vọng lại.

Chúng nhảy khỏi lưng ngựa, chỉ còn một gót chân móc vào dây đai vai. Những cây cung ngắn cong xuống dưới những chiếc cổ vươn dài của bầy ngựa con. Chúng bao vây đoàn quân và chém hàng ngũ thành hai, rồi lại vùng lên như những hình nhân trong nhà trò. Một số có những khuôn mặt ác mộng được sơn trên ngực. Chúng lao xuống những kẻ da trắng đã mất ngựa, đâm và đập họ, rồi nhảy khỏi lưng ngựa, cầm dao chạy trên mặt đất bằng những bước lạch bà lạch bạch, chân vòng kiềng kỳ quái, như những sinh vật bị ép phải di chuyển theo những cách mà con người không nên có.

Chúng lột quần áo người chết, nắm tóc kéo đầu lên rồi đưa lưỡi dao vòng quanh sọ của cả người sống lẫn người chết. Chúng giơ cao những mảng tóc đẫm máu. Chúng chặt và đập những cơ thể trần truồng, xé rời tay chân và đầu, mổ bụng những thân xác da trắng còn nằm đó, rồi giơ lên những nắm nội tạng và bộ phận sinh dục. Một số tên man rợ lem nhem máu me như vừa lăn mình trong đó như chó. Một số khác lao vào những kẻ đang hấp hối và hãm hiếp họ, đồng thời la hét gọi đồng bọn.

Và giờ những con ngựa của người chết lao ra khỏi khói và bụi. Chúng phi nước đại vòng quanh, dây cương lòng thòng, bờm bay phất phới, tròng mắt trắng dã vì kinh sợ như mắt người mù. Một số cắm đầy tên trên thân. Một số khác bị giáo xuyên qua người, loạng choạng và nôn ra máu khi quay ngang qua bãi chiến trường, rồi khuất dạng trong tiếng lộp độp của vó ngựa.

Bụi bám vào những cái đầu trọc lóc, đẫm máu của những kẻ bị lột da đầu, với những mảng tóc còn sót lại bên dưới những vết thương đã bị cạo sạch đến tận xương. Giờ chúng nằm trong đống bụi đỏ máu, trần truồng như những tu sĩ què quặt. Khắp nơi, những kẻ hấp hối rên rỉ và lảm nhảm. Những con ngựa không thể chạy trốn nằm trên mặt đất, hí lên trong đau đớn.​
 
CHƯƠNG V

Lang thang ở Bolsón de Mapími – Sproule – Cây tử thi đầy xác trẻ sơ sinh – Những cảnh tàn sát – Kền kền – Những kẻ bị sát hại trong nhà thờ – Đêm giữa những xác chết – Bầy sói – Những người giặt giũ ở bến cạn – Đi bộ về phía tây – Một ảo ảnh – Cuộc chạm trán với bọn cướp – Bị một con dơi hút máu cắn – Đào giếng – Một ngã tư giữa hoang mạc – Chiếc xe bò – Cái chết của Sproule – Bị bắt – Cái đầu của đại úy – Những người sống sót – Tiến về Chihuahua – Thành phố – Nhà tù – Gặp lại Toadvine.

Trong bóng tối, một linh hồn đã kỳ diệu trỗi dậy từ giữa đám tử thi mới ngã xuống và lặng lẽ bỏ đi dưới ánh trăng. Mặt đất nơi thằng nhóc từng nằm thấm đẫm máu và nước tiểu từ bàng quang rỗng của những con vật. Nó bước ra đi, nhem nhuốc và bốc mùi như một thứ hôi thối phát ra từ cái tử cung nhập thể của chính nữ thần chiến tranh. Bọn thổ dân đã di chuyển lên vùng đất cao hơn, và nó có thể nhìn thấy ánh lửa từ những đống lửa của chúng và nghe tiếng chúng hát, một thứ ca tụng kỳ lạ và não nề trên đó, nơi chúng đã kéo đến để nướng thịt la. Nó rẽ đường giữa những xác ngựa tái nhợt và bị chặt xẻ, giữa những con ngựa nằm ngổn ngang và chân vung vãi. Nó định hướng theo các vì sao rồi lên đường đi bộ về phía nam. Màn đêm tạo ra nghìn vạn hình thù ngoài kia trong bụi rậm, và nó giữ mắt nhìn xuống mặt đất phía trước. Ánh sao và mặt trăng tàn tạo nên một cái bóng mờ nhạt cho những bước lang thang của nó trên nền sa mạc tối đen. Dọc theo các sườn núi, bầy sói đang hú và di chuyển về phía bắc, hướng về đống kết quả của buổi tàn sát. Nó đi suốt đêm và vẫn còn thấy những đống lửa phía sau.

Khi trời sáng, nó tiến về phía những mỏm đá nhô lên cách đó một dặm trên thung lũng. Nó đang trèo lên giữa những tảng đá lăn lóc và đổ nát thì nghe thấy một giọng nói gọi đâu đó trong cái mênh mông ấy. Nó nhìn ra đồng bằng nhưng không thấy ai. Khi tiếng gọi vọng lại lần nữa, nó quay lại và ngồi nghỉ, và chẳng bao lâu nó thấy một thứ gì đó đang di chuyển dọc theo sườn dốc, một mảnh người đang lần mò trèo về phía nó qua những đống đá vụn. Hắn ta bước từng bước cẩn thận, ngoái nhìn phía sau. Thằng nhóc có thể thấy rằng chẳng có ai bám theo hắn theo cả.

Hắn khoác một tấm chăn trên vai, tay áo sơ mi bị rách và sẫm màu máu, và hắn ôm cánh tay đó vào người bằng tay còn lại. Tên hắn là Sproule.

Tám người trong bọn họ đã thoát được. Con ngựa của hắn đã hứng vài mũi tên và gục xuống dưới hắn trong đêm, những người khác đã đi tiếp, trong đó có tay đại úy.

Họ ngồi cạnh nhau giữa những tảng đá và nhìn ngày dài ra trên đồng bằng phía dưới.

"Cậu không giữ lại được thứ gì trong số đồ đạc của mình à?" Sproule nói.

Thằng nhóc nhổ nước bọt và lắc đầu. Nó nhìn Sproule.

"Tay anh tệ đến mức nào?"

Hắn kéo nó vào phía mình. "Tôi đã từng tệ hơn thế này", hắn nói.

Họ ngồi nhìn ra những dải cát, đá và gió mênh mông đó.

"Bọn da đỏ đó là loại gì vậy?"

“Không biết.”

Sproule ho sâu vào nắm tay. Hắn kéo cánh tay đẫm máu của mình vào người. "Khỉ thật, quả là một lời cảnh báo cho những người mộ đạo", hắn nói.

Họ nằm nghỉ dưới bóng một mỏm đá cho đến quá trưa, dùng tay xới thành một hốc trong lớp bụi núi lửa xám để ngủ, rồi chiều đến họ lên đường xuống thung lũng, đi theo vết tích của cuộc chiến, và họ thật nhỏ bé và họ di chuyển thật chậm chạp trong cái mênh mông bao la của vùng đất ấy.

Đến chiều tối, họ lại tiến về phía rìa vách đá, và Sproule chỉ ra một vết ố đen trên mặt vách đá cằn cỗi. Trông như vết đen từ những đám lửa cũ. Thằng nhóc che mắt nhìn. Những bức vách hẻm núi hình vỏ sò gợn sóng trong hơi nóng như những nếp rèm nhung.

"Có thể đó là một mạch nước ngầm," Sproule nói.

"Trên đó xa lắm đấy."

"Ừ, nếu anh thấy chỗ nào có nước gần hơn thì chúng ta đi tới đó."
Thằng nhóc nhìn hắn, và họ lên đường.

Chỗ đó nằm sâu trong một cái khe, và đường đi của họ là một mớ hỗn độn đá rơi, đá bọt và những cây xương rồng trông như lưỡi lê chết chóc. Những bụi cây nhỏ màu đen và màu ô liu bị đốt khô dưới mặt trời. Họ lảo đảo bước lên nền đất nứt nẻ của một lòng suối khô. Họ nghỉ ngơi rồi lại tiếp tục đi.

Mạch nước nằm cao trên các mỏm đá. Nước ngầm nhỏ giọt xuống tảng đá đen trơn trượt, và hoa khỉ cùng hoa cúc vạn thọ treo lơ lửng trong một khu vườn nhỏ bé và khó tiếp cận. Lượng nước chảy xuống tận đáy hẻm núi chẳng qua chỉ là một dòng chảy nhỏ. Họ lần lượt cúi xuống, mím môi áp vào tảng đá như những tín đồ bên điện thờ.

Họ qua đêm trong một hang động nông trên chỗ đó, một cổ vật cũ với những mảnh đá đẽo và mảnh sành vương vãi trên nền đá, cùng với những hạt vỏ sò, xương đánh bóng và than tàn của những ngọn lửa cổ xưa. Họ chung nhau tấm chăn trong cái lạnh, và Sproule ho nhẹ trong bóng tối. Thỉnh thoảng họ lại đứng dậy đi xuống uống nước bên tảng đá. Họ rời đi trước khi mặt trời mọc, và bình minh soi chiếu họ lại trên thảo nguyên.

Họ đi theo vùng đất bị giày xéo để lại bởi đoàn quân chiến, và đến chiều họ gặp một con la đã kiệt sức, bị đâm giáo và bỏ chết, rồi sau đó họ lại gặp một con khác. Con đường thu hẹp lại qua những tảng đá, và dần dần họ đến một bụi cây treo đầy xác trẻ sơ sinh.

Họ dừng lại bên nhau, loạng choạng trong cái nóng. Những nạn nhân bé nhỏ này, bảy, tám đứa, bị đục một lỗ dưới cằm và bị treo cổ lên những cành gãy của cây đậu gai, nhìn về bầu trời trống rỗng với đôi mắt đã mất. Trọc lóc, xanh xao và trương phềnh, như những ấu trùng của một sinh thể không thể nào hiểu được. Những kẻ sống sót lê bước đi ngang, và họ ngoái lại nhìn. Không gì chuyển động. Buổi chiều, họ đến một ngôi làng trên đồng bằng, nơi khói vẫn còn bốc lên từ đống đổ nát, và tất cả đều đã ra đi trong cái chết. Từ xa trông nó như một lò gạch đang mục nát. Cả hai đứng bên ngoài bức tường một lúc lâu, lắng nghe sự im lặng trước khi bước vào.

Họ đi chậm rãi qua những con phố nhỏ bằng bùn. Có những con dê và cừu bị giết trong chuồng của chúng, và lợn chết ngổn ngang trong bùn. Họ đi ngang qua những túp lều đắp đẩt nơi những người xấu số nằm bị sát hại trong đủ mọi tư thế của cái chết ở ngưỡng cửa và trên nền nhà, trần truồng, trương phềnh và kỳ lạ. Họ thấy những đĩa thức ăn ăn dở, và một con mèo bước ra ngồi dưới nắng, nhìn họ một cách hờ hững, và ruồi nhặng vo ve khắp nơi trong không khí tĩnh lặng và nóng bức.

Ở cuối phố, họ đến một quảng trường có ghế đá và cây cối, nơi những con kền kền chen chúc nhau thành những đàn đen hôi hám. Một con ngựa chết nằm giữa quảng trường, và vài con gà đang mổ vào đống bột đổ vãi trước một ngưỡng cửa. Những cây cột cháy đen vẫn còn âm ỉ nơi mái nhà đã sập xuống, và một con lừa đang đứng trước cánh cửa mở của nhà thờ.

Họ ngồi trên một chiếc ghế đá, và Sproule ôm cánh tay bị thương vào ngực, đu đưa qua lại và chớp mắt trong nắng.

"Anh muốn làm gì?" thằng nhóc hỏi.

"Tìm một ngụm nước đã."

"Ngoài cái đó ra thì sao?"

"Tôi không biết."

"Anh có muốn thử quay đầu lại không?"

"Về Texas à?"

"Tôi không biết còn chỗ nào khác."

"Chúng ta sẽ không bao giờ tới nổi đâu."

"Ừ thì anh nói đại đi."

"Tôi chẳng biết nói cái mẹ gì cả."

Hắn lại ho. Hắn giữ ngực bằng bàn tay lành và ngồi như thể để lấy lại hơi thở.

"Anh sao vậy, cảm lạnh à?"

"Chính xác là lao."

"Lao?"

Hắn gật đầu. "Tôi lết được tới đây là vì lo cái thân mình."

Thằng nhóc nhìn hắn. Nó lắc đầu và đứng dậy, băng qua quảng trường về phía nhà thờ. Có mấy con kền kền đang đậu trên những đầu dầm gỗ chạm khắc cũ kỹ, nó nhặt một hòn đá và ném về phía chúng nhưng chúng không hề nhúc nhích.

Bóng đã dài trên quảng trường và những cuộn bụi nhỏ đang di chuyển trên những con phố đất sét khô nẻ. Lũ chim ăn xác đậu trên những góc cao nhất của các ngôi nhà, xòe cánh trong những tư thế như đang khuyên răn, trông như những vị giám mục nhỏ bé màu đen. Thằng nhóc quay lại ghế đá, chống một chân lên và dựa vào đầu gối. Sproule vẫn ngồi như cũ, vẫn ôm cánh tay.

"Bệnh lao khốn kiếp đang bày trò hành hạ cái thân tôi", hắn nói.

Thằng nhóc nhổ nước bọt và nhìn xuống phố. "Tốt hơn là chúng ta cứ ở lại đây qua đêm."

"Cậu nghĩ liệu có ổn không?"

"Ổn với ai được cơ?"

"Lỡ như bọn da đỏ đó quay lại thì sao?"

"Chúng quay lại để làm gì?"

"Ờ thì lỡ chúng quay lại thì sao?"

"Chúng sẽ không quay lại đâu."

Sproule vẫn ôm cánh tay.

"Tôi ước gì anh có một con dao trên người," thằng nhóc nói.

"Tôi cũng ước cậu có nhóc ạ."

"Ở đây có thịt nếu có dao để xẻ."

"Tôi không thấy đói."

"Tôi nghĩ chúng ta nên kiểm tra mấy cái nhà này xem có gì ở đây."

"Thế cậu đi đi."

"Chúng ta cần tìm một chỗ để ngủ."

Sproule nhìn nó. "Tôi chẳng lết đi đâu được cả," hắn nói.

"Ừ. Anh muốn làm gì thì làm."

Sproule ho và nhổ nước bọt. "Chắc vậy", hắn nói.

Thằng nhóc quay người và đi tiếp xuống phố.

Những ô cửa thấp lè tè khiến nó phải cúi rạp người mới không đụng xà ngang, rồi mới bước xuống các căn phòng mát rượi, thoang thoảng mùi đất. Căn nhà chẳng có đồ đạc gì đáng giá, ngoại trừ mấy chiếc chiếu dùng để ngủ và một cái thùng gỗ có lẽ từng dùng để đựng bột. Nó cứ thế đi từ nhà này sang nhà khác. Ở một căn phòng, khung của chiếc khung cửi nhỏ màu đen vẫn đang bốc khói âm ỉ. Sang phòng khác, nó bắt gặp một người đàn ông nằm đó với thân thể cháy đen, co quắp, còn đôi mắt thì đã bị nướng chín ngay trong hốc mắt. Trên bức tường bùn có một hốc nhỏ thờ các tượng thánh mặc quần áo búp bê, khuôn mặt đẽo bằng gỗ thô sơ nhưng được tô vẽ sặc sỡ. Dán rải rác quanh tường là vài bức ảnh cắt ra từ báo cũ, một tấm hình nhỏ vẽ vị nữ hoàng và một lá bài Tarot Bốn Cốc. Đâu đó treo vài chuỗi ớt khô, vài quả bầu và một chai thủy tinh cắm mấy cành cỏ dại. Bước ra bên ngoài là khoảng sân đất trơ trụi được rào quanh bằng những cây xương rồng ocotillo. Ngay cạnh đó, chiếc lò nung bằng đất sét tròn đã bị vỡ sập, bên trong những mảng xỉ đen nóng chảy vẫn đang lung linh, run rẩy dưới ánh sáng.

Nó tìm thấy một hũ đất đựng đậu và vài cái bánh tortilla khô, rồi mang chúng đến một căn nhà ở cuối phố nơi tàn than của mái nhà vẫn còn đang âm ỉ, nó hâm nóng thức ăn trong tro và ăn, ngồi xổm đó như một kẻ đào ngũ đang mót mía trên đống đổ nát của một thành phố nó đã chạy đến để ẩn náu.

Khi nó quay lại quảng trường, Sproule đã biến mất. Mọi thứ xung quanh đều chìm trong bóng tối. Thằng nhóc băng qua quảng trường và bước lên những bậc thang đá dẫn đến cửa nhà thờ rồi bước vào.

Sproule đang đứng trong tiền sảnh. Những luồng ánh sáng dải dài buông xuống từ dãy cửa sổ cao trên bức tường phía tây. Trong nhà thờ chẳng có lấy một hàng ghế, còn sàn đá thì phủ đầy thi thể trần truồng của khoảng bốn mươi con người. Tất cả đều đã bị lột da đầu và bị xới xẻm một phần, những linh hồn từng cố thủ trong nhà Chúa để chống lại bọn vô đạo. Bọn dã man đã đục thủng mái nhà rồi xả tên xuống từ trên cao; trên mặt sàn ngổn ngang vô số thân tên gãy gục, rơi rớt ra khi chúng bẻ tên để lột sạch quần áo trên xác chết. Các bàn thờ bị kéo đổ, nhà tạm bị cướp phá, và vị Chúa vĩ đại của người Mexico đã bị xua đuổi khỏi chiếc chén thánh bằng vàng. Những bức tranh thánh mang sắc màu thô sơ treo xệch xạc trên tường như vừa trải qua một trận động đất, còn tượng Chúa Kitô tử nạn nằm vỡ tan cùng chiếc linh cữu bằng thủy tinh ngay trên nền cung thánh.

Những kẻ bị sát hại nằm trong một vũng máu chung lớn. Máu đã đông lại thành một thứ như bánh pudding, bị in dấu chân sói hoặc chó hoang khắp nơi, và dọc theo mép nó đã khô và nứt ra thành một màu đỏ tía như đồ gốm. Máu chảy thành những vệt dài như lưỡi đỏ rực trên nền nhà, máu trám vào các phiến đá và chảy ra tiền sảnh, nơi những phiến đá bị mòn lõm do vô vàn bàn chân của các tín đồ và tổ tiên của họ, và nó đã len lỏi xuống các bậc thang và nhỏ giọt từ những phiến đá giữa những dấu chân đỏ sẫm của những loài ăn xác thối.

Sproule quay lại nhìn thằng nhóc như thể hắn có thể biết được suy nghĩ của nó, nhưng thằng nhóc chỉ lắc đầu. Ruồi nhặng bò lên những hộp sọ bị lột da và không còn tóc của người chết, ruồi nhặng bò trên những nhãn cầu teo tóp của họ.

"Đi thôi ông bạn," thằng nhóc nói.

Họ băng qua quảng trường trong ánh sáng cuối ngày và đi xuống con phố hẹp. Trên ngưỡng cửa, một đứa trẻ đã chết nằm đó với hai con kền kền đang đậu trên người. Sproule vẫy tay lành đuổi lũ kền kền, chúng lùi lại, kêu xì xì và vỗ cánh một cách vụng về, nhưng chúng không bay đi.​
 
CHƯƠNG V (tiếp)

Họ lên đường vào buổi sáng ngay từ ánh bình minh đầu tiên, trong khi những con sói lủi thủi rời khỏi các ô cửa và tan vào màn sương mù trên những con phố. Họ đi theo con đường về phía tây nam, con đường mà bọn mọi rợ đã tấn công. Một con suối nhỏ đầy cát, những cây bông gòn, ba con dê trắng. Họ lội qua một bến đò nơi những người phụ nữ nằm chết bên chỗ giặt giũ của họ.

Họ vật vã suốt cả ngày băng qua một vùng đất nguyền rủa đầy xỉ than bốc khói, thỉnh thoảng bắt gặp những xác la hoặc ngựa trương phềnh. Đến chiều tối, họ đã uống hết số nước mang theo. Họ ngủ trên cát và thức dậy trong bóng tối mát mẻ của buổi sáng sớm, rồi lại tiếp tục bước đi, lang thang trên vùng đất đầy tro than cho đến khi gần như ngất xỉu. Buổi chiều, họ gặp một chiếc xe bò bỏ lại trên dấu vết, nghiêng trên đòn kéo, những bánh xe lớn được cắt từ những khoanh thân cây bông gòn và ghì chặt vào trục bằng các mộng gỗ. Họ bò xuống gầm xe để tránh nắng và ngủ cho đến tối rồi lại tiếp tục lên đường.

Một mảnh trăng đã treo trên bầu trời suốt cả ngày nay đã biến mất, và họ theo dấu vết băng qua sa mạc dưới ánh sao, chòm Thất Nữ ngay trên đỉnh đầu và rất nhỏ, và chòm Gấu Lớn đang bước qua những ngọn núi phía bắc.

"Tay tôi bắt đầu bốc mùi rồi," Sproule nói.

"Hả?"

"Tôi nói tay tôi đang bốc mùi."

"Anh muốn tôi xem nó không?"

"Xem để làm gì? Cậu chẳng làm gì được cho nó đâu.”

"Ừ. Sao cũng được."

"Nên thế", Sproule nói.

Họ tiếp tục bước đi. Hai lần trong đêm, họ nghe thấy tiếng rắn lục đồng cỏ nhỏ rung chuông trong bụi rậm và họ sợ hãi. Khi bình minh ló dạng, họ đương trèo qua đá phiến và đá núi lửa dưới chân một vách đá nếp uốn tối đen, nơi những tháp đá sừng sững như những nhà tiên tri bằng đá bazan, và họ đi qua bên đường những cây thánh giá bằng gỗ nhỏ dựng trên những đống đá, nơi những lữ khách không may mắn đã gặp tử thần. Con đường uốn lượn giữa những ngọn đồi, và những kẻ sống sót vất vả trên những khúc cua hình chữ Z, đen đi dưới ánh mặt trời, nhãn cầu của họ viêm đỏ và những quang phổ màu sắc ảo ảnh bùng ra ở khóe mắt. Trèo lên qua những bụi xương rồng Jacob và lê gai, nơi những tảng đá run rẩy và lung linh trong nắng, đá và không có nước, và dấu vết đầy cát, và họ canh chừng bất kỳ thứ gì xanh tươi có thể báo hiệu nước, nhưng chẳng có nước. Họ ăn bột pinole từ một cái túi bằng ngón tay và tiếp tục đi. Xuyên qua cái nóng giữa trưa và vào hoàng hôn, nơi những con thằn lằn nằm với cằm da sần sùi áp sát vào những tảng đá đang nguội lạnh, và xua đuổi thế giới bằng những nụ cười mỏng manh và đôi mắt như những phiến đá nứt vỡ.

Họ lên đến đỉnh núi khi mặt trời lặn và có thể nhìn thấy xa hàng dặm. Một hồ nước mênh mông nằm dưới chân họ, với những ngọn núi xanh xa xa đứng trong mặt nước phẳng lặng không gió, hình bóng một con chim ưng đang bay vút và những hàng cây lung linh trong hơi nóng, và một thành phố xa xăm trắng xóa nổi bật giữa màu xanh và những ngọn đồi rợp bóng. Họ ngồi nhìn. Họ thấy mặt trời khuất dưới vành đá gồ ghề ở phía tây, thấy ánh sáng bùng lên sau những ngọn núi, thấy mặt hồ tối dần và hình bóng thành phố tan biến trên đó. Họ ngủ giữa những tảng đá, ngửa mặt lên trời như những người chết, và khi họ thức dậy vào buổi sáng, không có thành phố, không có cây cối, không có hồ nước, chỉ có một đồng bằng khô cằn đầy bụi.

Sproule rên rỉ và ngã vật xuống giữa những tảng đá. Thằng nhóc nhìn hắn. Trên môi dưới của hắn có những vết phồng rộp, cánh tay qua chiếc áo rách đã sưng phồng, và một thứ gì đó hôi thối đã rỉ ra giữa những vết máu sẫm hơn. Nó quay lại nhìn ra thung lũng.

"Đằng kia có ai đó đến," nó nói.

Sproule không đáp. Thằng nhóc nhìn hắn. "Tôi không phét đâu", nó nói.

"Bọn da đỏ," Sproule nói. "Phải không?"

"Tôi chịu. Xa quá không thể nhận ra."

"Cậu định làm gì?"

"Không biết."

"Chuyện gì đã xảy ra với cái hồ vậy?"

"Tôi chịu chết luôn."

"Nhưng cả hai chúng ta đều thấy nó."

"Người ta thường thấy những gì họ muốn thấy."

"Vậy sao nó bây giờ biến mẹ đi đâu rồi? Tôi chắc chắn muốn thấy nó mà."

Thằng nhóc nhìn ra đồng bằng bên dưới.

"Nếu là lũ da đỏ thì sao?" Sproule nói.

"Rất có khả năng."

"Vậy chúng ta có thể trốn ở đâu?"

Thằng nhóc nhổ nước bọt một cách khô khốc và lấy mu bàn tay lau miệng. Một con thằn lằn chui ra từ dưới tảng đá, khom lại trên cái khuỷu chi trước nhỏ xíu của nó trên vệt bọt đó, hút cạn nó rồi lại trở về dưới tảng đá, chỉ để lại một vết mờ trong cát và nó biến mất gần như ngay lập tức.

Họ đợi suốt cả ngày. Thằng nhóc len lỏi xuống các hẻm núi để tìm nước nhưng chẳng thấy gì. Không gì chuyển động trong vùng đất tàn nhẫn hoang vắng đó ngoài những con chim ăn thịt. Đến đầu giờ chiều, họ có thể thấy những người cưỡi ngựa trên những khúc cua đang lên dần mặt núi bên dưới họ. Họ là người Mexico.

Sproule đang ngồi với hai chân duỗi thẳng trước mặt. "Tôi đã lo lắng không biết đôi ủng cũ của mình có bền không," hắn nói. Hắn ngước lên. "Đi đi," hắn nói. "Cứu lấy mình đi." Hắn vẫy tay.

Họ nấp dưới một mỏm đá trong một bóng râm hẹp. Thằng nhóc không đáp. Trong vòng một giờ, họ có thể nghe thấy tiếng móng guốc cào xạc xạc trên đá và tiếng lục cục của đồ đạc. Con ngựa đầu tiên đi vòng qua mỏm đá và băng qua khe hở trên núi chính là con ngựa ô lớn của tay đại úy, và nó mang yên của đại úy nhưng không chở ông ta. Những kẻ sống sót đứng bên vệ đường. Những người cưỡi ngựa trông cháy nắng và tiều tụy, xuất hiện từ phía mặt trời và họ ngồi trên ngựa như thể không có chút sức nặng nào. Có bảy người, tám người. Họ đội những chiếc mũ rộng vành và áo vest da, mang những khẩu súng hoa cải ngang qua yên ngựa, và khi họ đi ngang qua, người dẫn đầu gật đầu nghiêm trang với họ từ trên con ngựa của tay đại úy và chạm tay vào vành mũ, rồi họ tiếp tục cưỡi đi.

Sproule và thằng nhóc nhìn theo họ. Thằng nhóc gọi với, và Sproule đã bắt đầu chạy lúp xúp một cách vụng về phía sau những con ngựa.

Những người cưỡi ngựa bắt đầu xiêu vẹo và lảo đảo như người say. Đầu họ lắc lư. Những tràng cười ha hả của họ vang vọng giữa các tảng đá, và họ quay ngựa lại, ngồi trên đó và nhìn hai kẻ lang thang với nụ cười toe toét.

"Các người muốn gì?" người dẫn đầu kêu lên.

Những người cưỡi ngựa cười khúc khích và vỗ vào nhau. Họ thúc ngựa tiến lên và bắt đầu cưỡi chúng đi lang thang không mục đích. Người dẫn đầu quay sang hai kẻ khốn khổ đang đi bộ.

"Các người đang tìm bọn da đỏ à?"

Nghe vậy, vài người trong bọn xuống ngựa và ôm lấy nhau khóc lóc không biết xấu hổ. Người dẫn đầu nhìn họ và cười toe toét, hàm răng trắng và to lớn, như thể dùng để kiếm ăn trong rừng.

"Điên rồ," Sproule nói. "Họ bị điên rồi."

Thằng nhóc ngước nhìn người dẫn đầu. "Cho xin chút nước uống được không?" nó nói.

Người dẫn đầu trở nên nghiêm túc, gã kéo dài khuôn mặt. "Nước?" gã hỏi.

"Chúng tôi không có nước," Sproule nói.

"Nhưng này các bạn tôi ơi, sao lại thế? Ở đây cực hạn mà."

Gã đưa tay ra sau mà không quay người lại, và một chiếc bình da được đưa qua tay những người cưỡi ngựa đến tay hắn. Gã lắc nhẹ và đưa xuống. Thằng nhóc rút nút và uống, rồi đứng thở hổn hển và uống thêm. Người dẫn đầu cúi xuống và vỗ nhẹ vào bình. "Uống thế đủ rồi", gã nói.

Nó vẫn ngậm lấy bình mà uống ừng ực. Nó không thể thấy khuôn mặt người cưỡi ngựa tối sầm lại. Người đàn ông rút một chân ra khỏi bàn đạp và đá chiếc bình da văng ra khỏi tay thằng nhóc một cách dứt khoát, để nó đứng đó trong khoảnh khắc với tư thế đang gọi đông cứng, chiếc bình bay lên và xoay tròn trong không trung, những giọt nước lấp lánh quanh nó dưới ánh mặt trời trước khi nó rơi lạch cạch xuống đá. Sproule chồm tới nhặt cái bình lên khi nó đang chảy ra ngoài và bắt đầu uống, nhìn qua miệng bình. Người cưỡi ngựa và thằng nhóc nhìn nhau. Sproule ngồi xuống, thở hổn hển và ho. Thằng nhóc bước qua những tảng đá và lấy chiếc bình từ tay hắn. Người dẫn đầu thúc gối vào ngựa tiến tới, rút một thanh kiếm từ bên dưới chân mình và cúi người đưa lưỡi kiếm vào dưới quai đeo và nâng lên. Đầu mũi kiếm cách mặt thằng nhóc khoảng ba inch, và quai của chiếc bình vắt ngang lên mặt phẳng của lưỡi kiếm. Thằng nhóc đã dừng lại và người cưỡi ngựa nhẹ nhàng nâng chiếc bình khỏi tay nó, để nó trượt dọc theo lưỡi kiếm và nằm yên bên hông hắn. Gã quay sang lũ người đằng sau và mỉm cười, và bọn họ lại bắt đầu la hét và đấm đá lẫn nhau như những con vượn.​

Gã vung cái nút bình lên từ nơi nó treo bằng một sợi dây và đóng chặt bằng gót bàn tay. Gã ném chiếc bình cho người đằng sau và nhìn xuống hai kẻ lữ hành khốn khổ. "Sao các người không trốn đi?" gã hỏi.

"Trốn ông ư?"

"Đúng, trốn tôi."

"Chúng tôi khát chết, hơi đâu trốn."

"Rất khát. Phải không?"

Họ không đáp. Gã gõ nhẹ mặt phẳng của lưỡi kiếm vào sừng yên ngựa và dường như đang thầm định hình vài lời trong đầu. Gã hơi nghiêng người về phía họ.

"Khi những con chiên lạc trên núi," gã nói. "Chúng kêu khóc. Có thể người mẹ sẽ đến. Hoặc cũng là bầy sói đến."

Gã mỉm cười với họ, nâng thanh kiếm lên và đút lại vào chỗ cũ, rồi quay ngựa một cách nhanh nhẹn, phi nước kiệu qua đám ngựa phía sau, lũ đàn ông lên ngựa và đi theo, và chẳng bao lâu tất cả đã khuất bóng.

Sproule ngồi bất động. Thằng nhóc nhìn hắn nhưng hắn quay đi chỗ khác. Hắn bị thương trong một đất nước thù địch, xa nhà, và dù đôi mắt hắn vẫn nhìn thấy những tảng đá xa lạ xung quanh, nhưng khoảng không vô tận phía xa dường như nuốt chửng linh hồn hắn.

Họ xuống núi, lần xuống qua những tảng đá với hai tay đưa ra trước mặt và bóng của họ cong vẹo trên nền đất gồ ghề như những sinh vật đang tìm kiếm hình dạng của chính mình. Họ đến chân thung lũng lúc hoàng hôn và băng qua vùng đất xanh mát vào lúc sẩm tối, những dãy núi phía tây như một dòng đá phiến lởm chởm cắm thẳng vào lòng đất, và những ngọn cỏ khô ngả nghiêng và xoắn lại trong cơn gió bỗng nhiên thổi từ hư không.

Họ tiếp tục bước vào bóng tối và ngủ như chó trên cát, và đang ngủ như vậy thì có một vật đen thùi lùi bay vụt lên từ mặt đất đêm tối và đậu lên ngực Sproule. Những ngón tay mảnh khảnh giữ đôi cánh da, nhờ đó nó giữ thăng bằng khi bước đi trên người hắn. Một khuôn mặt nhăn nheo như chó pug, nhỏ bé và độc ác, đôi môi trần méo mó trong một nụ cười kinh tởm và hàm răng xanh nhạt dưới ánh sao. Nó cúi về phía hắn. Nó tạo trên cổ hắn hai rãnh hẹp, rồi gấp đôi cánh lại trên người hắn và bắt đầu hút máu hắn.

Không đủ nhẹ nhàng. Hắn tỉnh dậy, giơ tay lên. Hắn hét lên và con dơi máu vỗ cánh, ngồi lại trên ngực hắn, chỉnh lại tư thế rồi rít lên và nghiến răng lập cập.

Thằng nhóc đã đứng dậy và nắm lấy một tảng đá, nhưng con dơi vọt đi và biến mất trong bóng tối. Sproule đang cào cổ mình và hắn nói lảm nhảm một cách cuồng loạn, và khi thấy thằng nhóc đứng đó nhìn xuống mình, hắn đưa đôi tay đẫm máu về phía nó như một lời buộc tội, rồi đập chúng vào tai và thét lên một tiếng như thể chính hắn cũng không muốn nghe thấy, một tiếng tru đầy phẫn nộ đến mức có thể cắt rời nhịp đập của thế giới. Nhưng thằng nhóc chỉ nhổ nước bọt vào màn đêm giữa chúng. "Tôi biết mà," nó nói. "Cái ngu của anh thì ai mà đỡ được."

Đến sáng, họ băng qua một lòng suối khô, và thằng nhóc đi ngược lên đó để tìm một bể chứa hoặc một hố nước, nhưng chẳng có gì. Nó chọn một chỗ trũng trong lòng suối và bắt đầu đào bằng một khúc xương, và sau khi đào xuống khoảng hai feet (hơn nửa mét) trong cát, cát bắt đầu ẩm, rồi thêm chút nữa, một dòng nước rỉ chậm bắt đầu tràn vào những rãnh mà nó đã dùng ngón tay nạo. Nó cởi áo, ấn nó xuống cát và nhìn nó thẫm màu, và nó thấy nước dâng lên từ từ giữa các nếp vải cho đến khi có lẽ khoảng một chén, rồi nó cúi đầu xuống hố và uống. Sau đó nó ngồi và nhìn nó đầy trở lại. Nó làm việc này hơn một giờ đồng hồ. Rồi nó mặc áo vào và đi ngược xuống lòng suối.

Sproule không muốn cởi áo. Hắn cố hút nước và hắn ngậm phải một miệng đầy cát.

"Sao cậu không để tôi dùng áo của cậu?", hắn nói.

Thằng nhóc đang ngồi xổm trên lớp sỏi khô của lòng suối. "Đi mà dùng áo của anh ấy", nó nói.

Hắn cởi áo. Cái áo dính chặt vào da và một mủ vàng chảy ra. Cánh tay hắn sưng to bằng bắp đùi, bị biến màu một cách lộ liễu, và những con giun nhỏ bò lúc nhúc trong vết thương hở. Hắn ấn áo xuống hố và cúi xuống uống.

Buổi chiều, họ đến một ngã tư, nếu có thể gọi như vậy. Một vết bánh xe mờ nhạt từ phía bắc đến, cắt ngang con đường của họ và tiếp tục đi về phía nam. Họ đứng đó, dò xét cảnh quan để tìm một dấu hiệu nào đó trong sự trống vắng ấy. Sproule ngồi xuống nơi các vết bánh xe giao nhau và nhìn ra từ những hốc mắt sâu hoắm trên hộp sọ, nơi đôi mắt hắn đang ẩn mình. Hắn nói rằng hắn không muốn đứng dậy.

"Đằng kia có một cái hồ", thằng nhóc nói.

Sproule không thèm nhìn.

Cái hồ nằm đó, lung linh từ xa. Mé bờ phủ đầy muối. Thằng nhóc quan sát nó và quan sát những con đường. Một lúc sau, nó gật đầu hướng về phía nam. "Tôi tin rằng đây là con đường có người qua lại nhiều nhất."

"Không sao đâu", Sproule nói. "Cậu đi đi."

"Tùy anh thôi."

Sproule nhìn nó lên đường. Một lúc sau hắn đứng dậy và đi theo.​
 
Top