CHƯƠNG IV
Lên đường cùng nhóm phiêu quân – Trên đất khách – Cuộc săn linh dương – Bị dịch tả – Sói – Sửa chữa xe ngựa – Một vùng hoang mạc – Bão đêm – Bầy ngựa ma – Lời cầu nguyện xin mưa – Một trang trại giữa sa mạc – Ông già – Vùng đất mới – Một ngôi làng bị bỏ hoang – Những người chăn gia súc trên đồng bằng – Bị tấn công bởi người Comanche.
Năm ngày sau, trên con ngựa của Earl đã chết, thằng nhóc đi theo những người lính kia cưỡi ngựa và những toa xe qua quảng trường, rồi ra khỏi thị trấn trên con đường xuống miền hoang dã. Họ cưỡi ngựa qua Castroville, nơi bọn chó sói đồng cỏ đã đào xác người chết lên và vương vãi xương cốt. Họ vượt sông Frio, rồi vượt sông Nueces, rồi rời khỏi đường Presidio và rẽ về hướng bắc, với những người đi trinh sát được bố trí phía trước và phía sau. Họ vượt sông Rio del Norte trong đêm, lội qua bến cạn đầy cát để bước lên một vùng hoang dã đầy tiếng hú xa xôi.
Rạng sáng, họ dàn thành một hàng dài trên đồng bằng, những toa xe chở gỗ khô đã bắt đầu rên rỉ, những con ngựa thở phì phò. Tiếng móng guốc đục đều, tiếng đồ đạc lách cách và tiếng dây cương leng keng không dứt. Ngoại trừ vài bụi cây chổi lê lưa thưa, xương rồng tai thỏ và những mảng cỏ xoắn nhỏ, mặt đất trơ trụi; những ngọn núi thấp ở phía nam cũng trơ trụi. Về phía tây, đường chân trời bằng phẳng và thẳng tắp như một cái thước kẻ.
Những ngày đầu tiên, họ không thấy bất kỳ con thú săn nào, không một bóng chim ngoại trừ lũ kền kền. Ở đằng xa, họ thấy những đàn cừu hoặc dê di chuyển dọc theo đường chân trời trong những dải bụi bay, và họ ăn thịt những con lừa hoang bị bắn trên đồng bằng. Tay trung sĩ mang trong bao yên ngựa một khẩu súng trường Wesson hạng nặng, dùng nạp đạn bằng phễu thuốc súng và giấy bọc đạn, bắn ra viên đạn hình nón. Với khẩu súng đó, hắn bắn những con lợn rừng nhỏ trên sa mạc. Sau này, khi đoàn lính bắt đầu thấy những đàn linh dương, hắn thường dừng lại vào lúc hoàng hôn, khi ánh nắng đã rời khỏi mặt đất, vặn một chân chống hai nhánh vào ổ ren dưới nòng súng, và bắn hạ những con vật đang đứng gặm cỏ ở khoảng cách nửa dặm. Khẩu súng có một ống ngắm du xích trên bệ khóa nòng, và hắn ước lượng khoảng cách, đo gió, rồi chỉnh ống ngắm như một người đang dùng thước panme. Người hạ sĩ Texas nằm bên cạnh hắn với một cái ống nhòm và báo về những phát bắn quá cao hay quá thấp nếu tay trung sĩ bắn trượt. Chiếc xe goòng chờ sẵn bên cạnh cho đến khi hắn bắn hạ được ba bốn con, rồi kêu cọc cọc lăn bánh qua vùng đất đang nguội dần, với những người đánh xe lắc lư và cười toe toét trên thùng xe. Tay trung sĩ không bao giờ cất súng đi mà không quên lau chùi và tra mỡ vào nòng.
Họ cưỡi ngựa và mang đầy đủ vũ khí. Mỗi người có một khẩu súng trường, nhiều người còn đeo thêm súng lục ổ quay Colt loại nhỏ, bắn được năm phát. Viên đại úy đeo hai khẩu súng lục kỵ binh trong bao da vắt ngang qua yên ngựa phía trước, mỗi khẩu nằm ngang tầm đầu gối của ông. Đây là loại súng do chính phủ Mỹ cấp, theo bằng sáng chế của Colt. Ông mua chúng từ một tên đào ngũ trong một quán trọ kiêm chuồng ngựa ở Soledad, trả tám mươi đồng vàng cho cả súng, bao da, khuôn đúc đạn và bình đựng thuốc súng đi kèm.
Khẩu súng trường của thằng nhóc đã bị cưa ngắn và nạo rộng nòng đến mức trở nên rất nhẹ. Khuôn đúc đạn cho nó nhỏ đến nỗi nó phải bọc đạn bằng da hoẵng. Nó đã bắn thử vài phát, và đạn thường bay lệch hướng theo ý riêng của nó. Khẩu súng được để trên sống yên trước mặt thằng nhóc, vì nó không có bao da để đựng. Nó đã từng được mang theo như vậy, chắc từ thời Waterloo, và phần thân trước ở phía dưới đã bị mài mòn đi nhiều.
Ban đêm vừa buông xuống, chiếc xe goòng trở về, chất đầy thịt. Những người đánh xe đã chất đầy thùng xe bằng mấy cành cây thùa và gốc cây mà họ dùng ngựa kéo lên khỏi mặt đất. Họ dỡ củi xuống rồi bắt đầu cắt thịt những con linh dương đã mổ bụng ngay trên sàn xe. Họ dùng dao săn Bowie và rìu tay, vừa cười vừa chặt giữa một bể máu me, một cảnh tượng bốc mùi dưới ánh đèn lồng cầm tay. Khi màn đêm buông xuống hoàn toàn, những bộ sườn đã đen lại, dựng nghi ngút khói bên các đống lửa. Trên than hồng, họ đùa giỡn với những que gỗ đã gọt nhọn, xiên từng miếng thịt vào đó, tiếng bình đựng nước leng keng và những tràng chế giễu không dứt. Đêm ấy, họ ngủ trên nền đất lạnh của một vùng đất xa lạ. Bốn mươi sáu người đàn ông cuộn mình trong chăn dưới cùng một vì sao, với tiếng sói đồng cỏ hú vẫn y hệt như ở nhà, nhưng mọi thứ xung quanh đều đã đổi khác và xa lạ.
Họ thức dậy và lên đường mỗi ngày trong bóng tối, trước khi trời sáng. Họ ăn thịt nguội và bánh quy, không nhóm lửa. Mặt trời mọc soi bóng một đoàn quân đã trở nên rệu rã sau sáu ngày lên đường. Trang phục của họ chẳng ăn nhập gì với nhau, còn mũ nón còn tệ hơn. Những con ngựa nhỏ đốm bước đi lảo đảo hung hăng, và một đám ruồi vo ve dữ dội chiến đấu không ngừng trong thùng xe chở thịt thú săn. Bụi do đoàn người khuấy lên nhanh chóng tan biến và lạc mất giữa sự mênh mông của vùng đất ấy. Riêng người tiếp tế xanh xao thì âm thầm theo sau, con ngựa gầy và xe hàng tồi tàn của ông ta chẳng để lại dấu vết trên mặt đất rõ như thế, hay trên bất kỳ mặt đất nào. Dưới hàng ngàn đống lửa trong bóng hoàng hôn xanh thẳm lạnh lẽo, ông ta giữ kho lương của mình, dưới vỏ bọc một người buôn bán nhăn nhó cười méo xệch, nhưng lão luyện trong việc theo sau mọi chiến dịch, hoặc săn lùng người ta khỏi những cái hang ổ của họ, ở những vùng trống trải ấy, nơi họ đã trốn khỏi Thượng Đế.
Vào cùng ngày đó, hai người đổ bệnh và một người chết trước khi trời tối. Sáng hôm sau lại có một người ốm khác thế chỗ. Hai người bệnh được đặt giữa các bao đậu, gạo và cà phê trong xe tiếp tế, phủ chăn lên để che nắng. Họ lên đường trong tiếng xe đập lắc và rung chuyển, khiến lớp da thịt hoại tử gần như rời khỏi xương, đến nỗi họ gào khóc xin được bỏ lại, và rồi họ chết. Những người còn sống tách đoàn trong bóng tối buổi sáng sớm để đào mộ cho những kẻ xấu số bằng xương bả vai của linh dương, đắp đá lên, và lại tiếp tục cưỡi ngựa đi.
Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Ở phía đông, mặt trời nhuộm những vệt sáng xanh xao, rồi một dải màu đậm hơn chảy ra, như máu rỉ lên từng đợt bất chợt, bùng sáng thành từng lớp phẳng. Nơi mặt đất hòa vào bầu trời ở rìa của cõi tạo sinh, đỉnh mặt trời nhô lên từ hư không, như cái đầu của một dương vật khổng lồ màu đỏ, cho đến khi nó vượt khỏi vành đai vô hình, nằm ngồi xổm, phập phồng và đầy ác ý phía sau lưng họ. Bóng của những hòn đá nhỏ nhất nằm trên cát như những nét bút chì, còn bóng dáng của những người lính và ngựa của họ trải dài phía trước, thon dài như những sợi tơ của màn đêm còn sót lại mà họ đã cưỡi qua, như thể những xúc tu sẵn sàng trói họ vào bóng tối sắp tới. Họ cúi đầu cưỡi ngựa, vô diện dưới vành nón, như một đạo quân đang ngủ khi hành quân. Đến giữa buổi sáng, một người nữa đã chết. Họ nhấc anh ta khỏi chiếc xe nơi anh ta đã làm bẩn những bao tải nằm giữa, chôn anh ta luôn, và tiếp tục cưỡi ngựa.
Bấy giờ lũ sói đã bắt đầu theo họ, những con sói lớn màu xám xanh với cặp mắt vàng, nhón chân bước đi hoặc ngồi xổm trong cái nóng lung linh để nhìn họ lúc họ dừng lại giữa trưa. Lại tiếp tục di chuyển. Chúng phi nước kiệu, đi liệng, đi thong thả với những chiếc mũi dài cúi sát mặt đất. Vào buổi tối, mắt lũ sói lóe lên rồi lại ẩn đi ngoài kia, trên rìa ánh lửa; và vào buổi sáng, khi những người cưỡi ngựa lên đường trong bóng tối se lạnh, họ có thể nghe tiếng gầm gừ và tiếng chóp chép của mồm chúng phía sau khi chúng đột nhập trại để lục soát thức ăn thừa.
Những chiếc xe kéo trở nên khô đến nỗi chúng lắc lư qua lại như những con chó ghẻ, và cát đang bào mòn chúng. Các bánh xe co rúm lại, các căm xe xoay lỏng trong trục, kêu lạch cạch như trục khung dệt, và ban đêm, họ đóng những căm giả vào các lỗ mộng, buộc chúng xuống bằng những dải da xanh, và chèn nêm giữa sắt vành xe và những thanh vành đã nứt vì nắng. Chúng lắc lư tiếp tục lăn bánh, cái vết tích của thành quả lao động xiêu vẹo ấy để lại trên cát như dấu vết của loài rắn chuông sừng. Các chốt gỗ lỏng ra và rơi lại phía sau. Bánh xe bắt đầu vỡ tan.
Đã mười ngày trôi qua, với bốn người chết, họ bắt đầu băng qua một đồng bằng toàn đá bọt nguyên chất, nơi chẳng có bụi cây, chẳng có cỏ dại, xa đến quá tầm mắt. Đại úy ra lệnh dừng và gọi một người Mexico làm hướng đạo. Họ nói chuyện, người Mexico ra hiệu, đại úy cũng ra hiệu, và một lúc sau họ lại tiếp tục di chuyển.
“Chỗ này tôi trông như đường xuống địa ngục ấy”, một người trong đám lính nói.
“Thế giờ tính cho ngựa ăn gì?”
“Tôi tin là chỉ cần nghiến cát này như cho gà ăn và sẵn sàng cho ngô đã bóc vỏ khi nghiến xong.”
Trong hai ngày, họ bắt đầu gặp xương cốt và quần áo bị vứt bỏ. Họ thấy những bộ xương la nửa chôn dưới cát, trắng và bóng đến mức dường như phản chiếu ánh sáng ngay cả trong cái nóng chói chang. Họ thấy giỏ đựng, yên ngựa thồ hàng và xương người, và họ thấy một con la còn nguyên, xác khô và đen như sắt. Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Họ băng qua vùng hoang vu giữa một buổi trưa trắng xóa, như một đạo quân ma, tái nhợt vì bụi, như những bóng hình đã bị tẩy xóa trên một tấm bảng. Lũ sói lúp xúp đi theo thậm chí còn tái nhợt hơn, tụ tập, chạy lướt và ngẩng mõm dài lên không trung. Ban đêm, ngựa được cho ăn bằng tay từ những bao bột ngô và được uống nước từ xô. Không còn bệnh tật nữa. Những người sống sót nằm yên lặng trong cái hố trũng kiểu miệng núi lửa đó và nhìn những vì sao trắng nóng hổi lao vun vút xuyên qua bóng tối. Hoặc họ ngủ với trái tim xa lạ của mình đập trong cát, như những người hành hương kiệt sức trên mặt hành tinh Anareta chết chóc, bám chặt vào một sự vô định đang xoay tròn trong đêm. Họ di chuyển tiếp, và sắt vành xe bóng lên như crôm khi được mài liên tục trong đá bọt. Về phía nam, các dãy núi xanh tím đứng với hình bóng nhợt nhạt hơn trên cát như những phản chiếu trong hồ, và bây giờ không còn bầy sói nữa.
Suốt đêm gió thổi, và lớp bụi mịn khiến răng họ ê buốt. Cát ngấm vào mọi thứ, lẫn vào mọi thứ họ ăn. Vào buổi sáng, một mặt trời màu nước tiểu mọc mờ ảo qua những tấm bụi, chiếu xuống một thế giới mờ đục và không hình thù. Những con vật đang kiệt sức. Họ dừng lại và dựng một trại khô, không củi không nước, và những con ngựa khốn khổ co rúm lại, rên rỉ như chó ốm.
Đêm đó, họ cưỡi qua một vùng đất đầy sấm sét và hoang dã, nơi những hình dạng kỳ lạ của ngọn lửa xanh mềm chạy trên kim loại của đồ trang bị ngựa, bánh xe lăn trong những vành lửa, và những hình dạng nhỏ màu xanh nhạt đáp xuống tai ngựa và trên vành nón của những người đàn ông. Suốt đêm, chớp sáng tấm rung lên không nguồn cơn ở phía tây, sau những đám mây tích giữa đêm, biến vùng sa mạc xa xa thành một buổi ban ngày xanh biếc. Những ngọn núi trên đường chân trời đột ngột hiện ra sắc nét, đen và tái nhợt, như một vùng đất của một trật tự khác ở ngoài kia, mà bản chất của nó không phải là đá mà là nỗi sợ hãi. Sấm sét di chuyển lên từ phía tây nam, và ánh chớp soi sáng sa mạc quanh họ, xanh biếc và trơ trọi, những vùng đất rộng lớn vang vọng vươn ra khỏi đêm tuyệt đối như một vương quốc quỷ dữ được triệu gọi, hay một vùng đất bị hoán đổi, mà khi ngày đến sẽ chẳng để lại cho họ dấu vết, khói, hay tàn tích gì hơn một giấc mơ đầy ám ảnh.
Họ dừng lại trong bóng tối để cho súc vật nghỉ ngơi. Vài người đàn ông cất vũ khí vào xe kéo vì sợ thu hút sét, thì một người tên Hayward cầu nguyện xin mưa.
Hắn cầu nguyện: "Lạy Chúa Toàn Năng, nếu điều này không nằm quá xa ngoài kế hoạch vĩnh cửu của Ngài, thì Ngài có nghĩ rằng chúng con có thể có một chút mưa ở đây không?"
"Cầu to nữa lên đi", vài người gọi và quỳ xuống, cònhắn kêu lên giữa tiếng sấm và gió: "Lạy Chúa, chúng con khô đến kiệt quệ ở đây rồi. Chỉ vài giọt cho mấy kẻ già khốn khổ ngoài đồng cỏ này, xa nhà muôn dặm."
"Amen", họ đáp, và vỗ ngựa, họ tiếp tục cưỡi đi. Trong vòng một giờ, gió mát lại và những giọt mưa to như đạn chì đổ xuống trên họ từ bóng tối hoang dã ấy. Họ có thể ngửi thấy mùi đá ẩm và mùi ngựa ướt, da ướt ngọt ngào. Họ tiếp tục cưỡi đi.
Họ cưỡi ngựa xuyên qua cái nóng ban ngày với những thùng nước đã cạn và lũ ngựa đang hấp hối, và đến buổi tối, những kẻ được vận mệnh của họ chọn giờ đây, rách rưới, trắng xóa vì bụi như một đạo quân thợ xay có vũ trang, cưỡi ngựa và lang thang trong điên loạn, cưỡi lên khỏi sa mạc qua một khe hở giữa những ngọn đồi đá thấp và đổ xuống một túp lều jacal đơn độc, một căn lều thô sơ bằng bùn và cành cây đan, với một chuồng ngựa sơ sài và những bãi quây.
Những hàng rào bằng xương bao quanh khu vực nhỏ bé đầy bụi bặm này; và cái chết dường như là đặc điểm nổi bật nhất của cảnh quan. Những hàng rào kỳ lạ bị cát và gió bào mòn, bị mặt trời tẩy trắng và nứt nẻ như đồ sứ cũ với những vết nứt khô màu nâu, nơi không có sự sống nào lay động. Những bóng hình lượn sóng của những người cưỡi ngựa lướt qua vùng đất khô màu nâu vàng và qua lớp bùn của túp lều jacal, những con ngựa run rẩy, đánh hơi thấy mùi nước. Đại úy White giơ tay dừng, tay trung sĩ nói vài lời, hai người trong đoàn xuống ngựa và tiến về phía túp lều với súng trường. Họ đẩy một cánh cửa làm bằng da sống và bước vào. Vài phút sau, họ xuất hiện trở lại.
“Có ai đó ở gần đây. Than còn hồng.”
Tay đại úy quan sát khoảng không xung quanh với vẻ cảnh giác. Ông ta xuống ngựa với sự kiên nhẫn của một người đã quen ứng phó với sự bất cẩn, và băng qua căn lều jacal. Khi ông bước ra, ông lại quan sát địa hình lần nữa. Những con ngựa dịch chuyển, leng keng và giậm chân, những người lính kéo cằm chúng xuống và quát mắng.
“Này trung sĩ.”
“Thưa có.”
“Những kẻ chủ lều này không thể đi xa được. Thử tìm xem có thể tìm thấy họ không. Và xem ở đây có bất cứ thứ gì cho ngựa ăn không.”
“Thức ăn cho ngựa, thưa ngài?”
“Đúng, thức ăn cho ngựa.”
Tay trung sĩ bèn đặt một tay lên yên sau và nhìn quanh nơi họ đang đứng, lắc đầu và xuống ngựa.