Chi lăng tẩu tống binh

1. Trận Chi Lăng năm 981 (Thời Tiền Lê) [1]
Đây là trận đánh then chốt trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất do Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn)trực tiếp chỉ huy. [1, 2]
  • Bối cảnh: Lợi dụng việc Đinh Tiên Hoàng vừa qua đời, vua đinh còn nhỏ tuổi, nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo dẫn đại quân theo hai đường thủy bộ tiến vào xâm lược Đại Việt. [1]
  • Diễn biến tại Chi Lăng: Tháng 3 năm 981, đạo bộ binh quân Tống tiến tới Chi Lăng. Nhận thấy địa hình thung lũng hiểm trở, Lê Hoàn đã cho quân mai phục sẵn trong rừng sâu và các vách núi. Ông sai một cánh quân nhỏ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy nhằm dụ địch sâu vào trận địa. [1, 2, 3]
  • Kết quả: Quân Tống trúng kế, chủ quan đuổi theo và lọt thỏm vào trận địa mai phục. Quân Đại Việt từ bốn phía đồng loạt xông ra tấn công dữ dội. Chủ tướng nhà Tống là Hầu Nhân Bảo bị chém chết tại trận, quân Tống hoảng loạn tháo chạy thục mạng. Chiến thắng này buộc đạo quân thủy của địch ở sông Bạch Đằng cũng phải rút lui, đập tan hoàn toàn ý đồ xâm lược của nhà Tống. [1, 2, 3, 4]

2. Trận Chi Lăng năm 1077 (Thời Lý) [1]
Trận đánh này nằm trong giai đoạn hai của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai, gắn liền với tên tuổi của Phò mã Thân Cảnh Phúc. [1, 2]
  • Bối cảnh: Đầu năm 1077, gần 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy tràn qua biên giới. Để làm chậm bước tiến của giặc trước khi chúng tiếp cận phòng tuyến sông Như Nguyệt, nhà Lý giao trọng trách phòng thủ biên giới cho các thủ lĩnh dân tộc thiểu số. [1, 2, 3]
  • Chiến thuật "Thiên thần Động Giáp": Phò mã Thân Cảnh Phúc (thủ lĩnh người Tày vùng Động Giáp) chỉ huy quân dân chặn đánh địch quyết liệt tại ải Quyết Lý và ải Chi Lăng. Khi nhận thấy thế giặc quá mạnh, ông chủ động cho quân rút lui vào các hang đá, rừng sâu để bảo toàn lực lượng. [1, 2, 3]
  • Tác chiến du kích: Từ căn cứ hiểm yếu, Thân Cảnh Phúc lãnh đạo quân sĩ ngày đêm dùng chiến thuật vây bọc, tập kích bất ngờ, hễ thấy toán quân Tống nào đi lẻ là tổ chức tiêu diệt. Sử liệu Trung Hoa thời bấy giờ (Quế Hải ngu hành chí) ghi lại sự khiếp sợ của quân Tống, gọi ông là một vị "thiên thần" ẩn hiện trong bờ bụi để diệt giặc. Hành động này làm tiêu hao nặng nề sinh lực, bẻ gãy nhuệ khí và làm chậm đáng kể tốc độ tiến quân của nhà Tống. [1, 2, 3, 4]
 
Nếu đi đường 1 (ko phải cao tốc Bắc Giang Lạng Sơn), đến giờ qua di tích ải Chi Lăng vẫn thấy nó rất nhỏ, 1 bên núi cao 1 bên ruộng (ngày trước là đầm lầy), thì mới hiểu vì sao bọn TQ qua đây hay bị đánh tan là thế
Ví dụ 1 vạn quân mà đi ở đây chắc kỵ binh được 1 người, bộ binh may ra 2 người, thì dài đến bao nhiêu cây số mới qua ải được.
 
Nếu đi đường 1 (ko phải cao tốc Bắc Giang Lạng Sơn), đến giờ qua di tích ải Chi Lăng vẫn thấy nó rất nhỏ, 1 bên núi cao 1 bên ruộng (ngày trước là đầm lầy), thì mới hiểu vì sao bọn TQ qua đây hay bị đánh tan là thế
Ví dụ 1 vạn quân mà đi ở đây chắc kỵ binh được 1 người, bộ binh may ra 2 người, thì dài đến bao nhiêu cây số mới qua ải được.

ải Chi Lăng ngày xưa dài mấy chục km đấy, chỗ mày xem chỉ là 1 điểm trong khu vực thôi. Nếu chỉ có chỗ đấy thì quân giặc sẽ đi dường khác ngay.
mày đi quanh ải sẽ thấy những trường thành còn sót lại từ nghìn năm trước giống vạn lý trường thành nhưng bằng đất. Bây giờ vẫn cao khoảng 1m, thì trước đây phải cao vài mét.
 
Nếu đi đường 1 (ko phải cao tốc Bắc Giang Lạng Sơn), đến giờ qua di tích ải Chi Lăng vẫn thấy nó rất nhỏ, 1 bên núi cao 1 bên ruộng (ngày trước là đầm lầy), thì mới hiểu vì sao bọn TQ qua đây hay bị đánh tan là thế
Ví dụ 1 vạn quân mà đi ở đây chắc kỵ binh được 1 người, bộ binh may ra 2 người, thì dài đến bao nhiêu cây số mới qua ải được.

mày leo lên các ngọn núi quanh đấy sẽ thấy các trường thành vẫn còn dấu tích, có nhiều đoạn trường thành ở chi lăng là ở dưới đất nhưng bị phá, có chỗ tao thấy bị cắt đôi bởi đường dân đi.

lên núi sẽ thấy những đoạn thành còn nguyên.

tao nghiên cứu binh thư từ nhỏ, cứ nơi nào liên quan đến chiến tranh là tao thăm kỹ lắm.
 
mày leo lên các ngọn núi quanh đấy sẽ thấy các trường thành vẫn còn dấu tích, có nhiều đoạn trường thành ở chi lăng là ở dưới đất nhưng bị phá, có chỗ tao thấy bị cắt đôi bởi đường dân đi.

lên núi sẽ thấy những đoạn thành còn nguyên.

tao nghiên cứu binh thư từ nhỏ, cứ nơi nào liên quan đến chiến tranh là tao thăm kỹ lắm.
Tao cũng rất có hứng thú với mấy cái lịch sử này từ nhỏ. Đợt hay đi công tác trên LS lúc về cũng cố tình rẽ sang đường 1 thăm thú những đoạn này. Nhưng chưa mò lên xem luỹ như m nói. Dọc 1 đường từ đây về Cần Trạm (thị trấn Vôi bây giờ) là tuyến đường kinh hoàng của quân Minh cho đến khu di tích Xương Giang
 
Tao cũng rất có hứng thú với mấy cái lịch sử này từ nhỏ. Đợt hay đi công tác trên LS lúc về cũng cố tình rẽ sang đường 1 thăm thú những đoạn này. Nhưng chưa mò lên xem luỹ như m nói. Dọc 1 đường từ đây về Cần Trạm (thị trấn Vôi bây giờ) là tuyến đường kinh hoàng của quân Minh cho đến khu di tích Xương Giang

mình đọc binh thư từ năm 8 tuổi nên rất thích những di tích chiến tranh.
những di tích chiến tranh ở Trung Quốc mình cũng thăm vài nơi rồi.
mình thăm nơi nào là đi tìm hiểu quanh đấy, xem địa thế, rừng chỗ nào, núi chỗ nào, chỗ nào đóng quân được chỗ nào không, điểm cao nào là nên chiếm , điểm cao nào phải tránh, rồi tưởng tượng các ông tướng lúc xưa bầy binh như thế nào, giao tranh ra sao, các kiểu nên thuờng tốn rất nhiều thời gian.
 
mình đọc binh thư từ năm 8 tuổi nên rất thích những di tích chiến tranh.
những di tích chiến tranh ở Trung Quốc mình cũng thăm vài nơi rồi.
mình thăm nơi nào là đi tìm hiểu quanh đấy, xem địa thế, rừng chỗ nào, núi chỗ nào, chỗ nào đóng quân được chỗ nào không, điểm cao nào là nên chiếm , điểm cao nào phải tránh, rồi tưởng tượng các ông tướng lúc xưa bầy binh như thế nào, giao tranh ra sao, các kiểu nên thuờng tốn rất nhiều thời gian.
Lịch sử VN thực sự ghi chép chủ yếu theo sự kiện, rất nghèo nàn. Muốn khảo chứng đầy đủ đường dẫn quân, đóng quân, trận đánh ở đâu ra sao,... chắc phải đi mò trong kho tàng các văn chỉ, văn bia, sắc phong, thần tích.
Ví dụ Lý Nam Đế đi, biết ông này có tồn tại, biết là có đánh thắng đánh thua, nhưng không thể biết hành trình quân đội ra sao, đóng quân ở đâu, và thực ra nước Vạn Xuân đến khi bị quân Lương đánh bại thì tồn tại đến 60 năm - quá đủ để xây dựng quốc gia có xã hội ổn định, vua thể hiện được văn trị. Nhưng đến nay thì chẳng còn gì, chỉ biết ông Lý Bí đánh bại thứ sử, lên ngôi, sau bị Trần Bá Tiên đánh dạt lên vùng trung du, Triệu Quang Phục nắm quyền rút về Hưng Yên đóng quân phục kích -> thắng -> bị Lý Phật Tử cướp ngôi...
 
Lịch sử VN thực sự ghi chép chủ yếu theo sự kiện, rất nghèo nàn. Muốn khảo chứng đầy đủ đường dẫn quân, đóng quân, trận đánh ở đâu ra sao,... chắc phải đi mò trong kho tàng các văn chỉ, văn bia, sắc phong, thần tích.
Ví dụ Lý Nam Đế đi, biết ông này có tồn tại, biết là có đánh thắng đánh thua, nhưng không thể biết hành trình quân đội ra sao, đóng quân ở đâu, và thực ra nước Vạn Xuân đến khi bị quân Lương đánh bại thì tồn tại đến 60 năm - quá đủ để xây dựng quốc gia có xã hội ổn định, vua thể hiện được văn trị. Nhưng đến nay thì chẳng còn gì, chỉ biết ông Lý Bí đánh bại thứ sử, lên ngôi, sau bị Trần Bá Tiên đánh dạt lên vùng trung du, Triệu Quang Phục nắm quyền rút về Hưng Yên đóng quân phục kích -> thắng -> bị Lý Phật Tử cướp ngôi...

Đúng, do ghi chép không chi tiết thành ra đời sau khó tìm hiểu. Chứ thật ra đời xưa quân Đại Việt đánh trận rất hay.
Thời Lý thì quân đội thiên về tấn công nên vũ khí chủ yếu là câu liêm, trường thương với máy bắn đá (hoả phong), sau khi Lý thường kiệt thua thì vũ khí của quân đại việt mới chuyển dần sang phòng thủ - dùng 1 khiên 1 khí.

Trước và sau lý thường kiệt thì cách suy nghĩ về việc binh có khác, trước thì thiên về công cho nên hậu cần mạnh, sau đấy thì thiên về thủ cho nên không đẩy mạnh chuyện hậu cần nữa mà mỗi địa phương (làng, châu) là 1 cứ điểm, mỗi làng đều phân ra địa lý rõ rệt.

cách suy nghĩ về quân sự nó ảnh hưởng đến mọi thứ khác đấy.
 
Lịch sử VN thực sự ghi chép chủ yếu theo sự kiện, rất nghèo nàn. Muốn khảo chứng đầy đủ đường dẫn quân, đóng quân, trận đánh ở đâu ra sao,... chắc phải đi mò trong kho tàng các văn chỉ, văn bia, sắc phong, thần tích.
Ví dụ Lý Nam Đế đi, biết ông này có tồn tại, biết là có đánh thắng đánh thua, nhưng không thể biết hành trình quân đội ra sao, đóng quân ở đâu, và thực ra nước Vạn Xuân đến khi bị quân Lương đánh bại thì tồn tại đến 60 năm - quá đủ để xây dựng quốc gia có xã hội ổn định, vua thể hiện được văn trị. Nhưng đến nay thì chẳng còn gì, chỉ biết ông Lý Bí đánh bại thứ sử, lên ngôi, sau bị Trần Bá Tiên đánh dạt lên vùng trung du, Triệu Quang Phục nắm quyền rút về Hưng Yên đóng quân phục kích -> thắng -> bị Lý Phật Tử cướp ngôi...
Trước 1000 có sử đâu thầy. Bịa ra sau này, và một phần dựa vào sử TQ.
 

Có thể bạn quan tâm

Top