Pluto (Diêm Vương Tinh) được nhà toán học người Mỹ Clyde Tombaugh phát hiện vào năm 1930.
Sau đó, quyền đặt tên hành tinh nhanh chóng thuộc về Đài thiên văn Lowell. Ngay lập tức, đã có hơn 1000 đề xuất được gửi đến từ khắp nơi trên thế giới, trải dài từ những nhũ danh như Atlas (vị thần Titan trong thần thoại Hy Lạp, người nâng đỡ bầu trời) cho đến Zymal (một cái tên tự chế, không rõ nguồn gốc).
Thậm chí, ngay cả Constance Lowell - phối ngẫu của Percival Lowell (người sáng lập Đài quan sát Lowell) khi ấy cũng ham hở đề nghị những cái tên như Zeus, rồi đến Percival và cuối cùng là họ của bà, Constance nhưng tất cả đều bị bác bỏ một cách... không thương tiếc!
Venetia Burney, một nữ sinh ở Oxford (Anh Quốc) là người đầu tiên đặt tên hành tinh mới là Pluto - vị thần cai quản địa ngục của người La Mã (tương ứng với Hades trong thần thoại Hy Lạp). Theo lý giải của cô nữ sinh khi ấy, thì đó "là một cái tên thích hợp cho một hành tinh nằm ở rìa hệ mặt trời, luôn lạnh lẽo và tối tăm như chốn âm phủ!"
Cuối cùng, hành tinh lùn cũng được chính thức lựa tên vào 24/3/1930. Các thành viên của Đài quan sát Lowell sẽ có quyền được bỏ phiếu chọn trong danh sách gồm ba cái tên: Minerva (nữ thần của thủ công mỹ nghệ, với bản thể tương ứng trong thần thoại Hi Lạp là Athena; sau này được đặt cho một tiểu hành tinh), Cronus (vốn không được coi trọng vì nó được đề xuất bởi một nhà thiên văn vô danh tên là Thomas Jefferson) và tất nhiên, Pluto.
Ngay lập tức, cái tên Pluto đã nhanh chóng nhận được số phiếu tối đa và được công bố rộng rãi vào 1/5/1930.
Cái tên Pluto được chọn cũng phần nhiều là do khi viết tắt sẽ thành P-L, trùng với tên của người phát hiện ra nó là Percival Lowell. Hai chữ cái này khi ghép lồng lại với nhau cũng được coi biểu tượng thiên văn học của Pluto: ♇.
Trong thần thoại La Mã, Pluto (tiếng Hy Lạp: Πλούτων, Ploutōn) là người cai quản địa ngục và thường được hợp nhất với Ploutos (Πλοῦτος, Plutus) - vị thần của sự giàu có và sung túc. Nguyên do là vì theo quan niệm của người La Mã, phần lớn những nguồn khoáng sản thường được tìm thấy ở dưới lòng đất, nơi dẫn tới địa ngục tối tăm.
Bên cạnh đó, ông cũng nhận được nhiều sự tôn kính với vai trò là vị hôn phu của Persephone - nữ thần của mùa xuân và mùa màng bội thu. Chính vì vậy, vai trò của ông trong thần thoại La Mã ít nhiều cũng được coi trọng hơn so với bản thể Hi Lạp của mình là Hades aka Háidēs (thường được miêu tả như là một vị thần bóng tối bạo lực, kẻ đã bắt cóc và cưỡng ép Persephone trở thành hôn thê của mình).
Năm 2006, Pluto đã bị loại ra khỏi danh sách hành tinh và được xếp vào danh sách những hành tinh lùn (Dwarf planet).
Cái này trong Phật giáo gọi là Trùng trùng Duyên khởi, vạn vật trên thế gian điều có mối tương thuộc lẫn nhau, tâm các mày và vũ trụ không rời nhau, tuy hai mà một.
Bạn nói đúng một phần.
Và chủ yếu là do thời tiết, trời mây.
Khi trời có mây, sao sẽ bị mây che khuất một phần. Mặt khác ánh sao chiếu qua giọt nước cũng bị phản xạ và bị hấp thu mất một phần độ sáng. Vì thế ánh sáng của ngôi sao cũng sẽ yếu, từ dưới mặt đất nhìn lên, ta sẽ thấy rất ít các vì sao.
Còn khi trời quang, mây tạnh. Hơi nước trên trời tương đối ít, vì vậy sẽ thấy nhiều và rõ hơn về các vì sao.
Pluto (Sao Diêm Vương) có 5 vệ tinh tự nhiên và tất cả những Mặt Trăng này đều được đặt tên theo các vị thần Hy Lạp có liên quan đến địa ngục, bóng tối và thuở hồng hoang.
Trong đó, đặc biệt nhất chính là mặt trăng Charon - được đặt theo tên người chở đò trên dòng sông địa phủ, có nhiệm vụ dẫn đường cho những linh hồn người mới chết qua sông Styx, một nhân vật có liên hệ chặt chẽ với thần Âm phủ Hades (Pluto). Đường kính của Charon bằng một nửa so với Pluto, trong khi quỹ đạo của hai thiên thể này bị lực hấp dẫn "khóa chặt", luôn quay cùng một mặt về phía thiên thể còn lại. 4 mặt trăng khác của Pluto có tên gọi lần lượt là Styx, Nix, Kerberos và Hydra, trong đó:
Styx (tiếng Hy Lạp: Στυξ) là con sông tạo nên ranh giới giữa trần gian và âm phủ, thế giới thuộc quyền cai trị của thần Hades. Nữ thần sông Styx là con gái của thần hải dương Oceanus (hay Okeanos). Theo thần thoại Hy Lạp, con sông này bao quanh thế giới của thần Hades 9 vòng và có biệt danh là “Dòng sông Thù ghét” hay “Dòng sông Nói thật”. Linh hồn con người khi qua đời phải đi qua dòng sông này mới có thể đến được địa ngục. Đây cũng là dòng sông nơi Charon làm việc chở các linh hồn qua sông. Công chuyên chở của Charon thường là một đồng xu obolus hoặc danake, đôi khi được đặt trong hoặc trên miệng của người chết. Vì vậy, người nào không thể trả phí cho Charon thì sẽ mãi mãi mắc kẹt ở bờ sông Styx, mãi mãi không thể siêu thoát hay đầu thai.
Nyx (Tiếng Hy Lạp: Νύξ, "Ban Đêm") là một cổ thần đại diện cho màn đêm và là nhân cách hóa của màn đêm. Bà sinh ra từ Chaos (Hỗn Độn) ngay từ buổi đầu kiến tạo thế gian. Bà không xuất hiện hay được thờ cúng nhiều trong văn hóa Hy Lạp vì là một cổ thần, nhưng người ta thường cho bà là người sở hữu quyền lực và vẻ đẹp đặc biệt khiến cho ngay cả thần Zeus cũng phải nể sợ và kính trọng. Bà thường ẩn mình bóng tối của thế giới và con người chỉ có thể nhìn thấy bà một cách mờ ảo. Bà là vợ và em gái của Erebos (Ἔρεβος, "vực thẳm và bóng tối khôn cùng"), hiện thân của bóng tối tràn ngập các góc kẹt và khe nứt trên khắp thế gian. Mối quan hệ của họ sinh ra những vị thần hiện thân của những khái niệm như: Hemera (thần ban ngày), Aether (thần bầu trời), Cer (thần cái chết), Oneiroi (thần giấc mơ), Hypnos (thần ngủ), Thanatos (thần chết), Momus (thần chỉ trích), Nemesis (thần trả thù), Hesperides (người bảo vệ những trái táo vàng) và đặc biệt là Charon (người lái đò).
Kerberos (Κέρβερος, Kérberos hay Sürbürǔs) là con chó săn ba đầu với cái đuôi rắn chuyên đứng canh giữ cổng địa ngục. Hắn là con trai thứ ba của Echidna (nữ thần của sự thối nát, cặn bã xấu xa) và Typhon (ác thần hỗn mang) sau Chimera (Χίμαιρα) và Hydra (Λερναῖα Ὕδρα)
Hydra (Λερναῖα Ὕδρα) là con rồng 9 đầu, con trai thứ hai của Echidna và Typhon. Khi chém đứt đầu nó thì từ chỗ bị đứt liền mọc ra hai cái đầu mới. Tích của nó thường gắn liền với 12 chiến công của anh hùng Hercules. Hydra là anh của Kerberos.
08/02/2022
Là ngày Mặt Trăng thượng huyền.
Mặt trăng sẽ có hình dạng bán nguyệt và xuất hiện tại thiên đỉnh vào buổi tối. Sau đó sẽ lặn dần về phía Tây.
Những ngày quanh ngày trăng thượng huyền sẽ rất thuận lợi để quan sát vệ tinh tự nhiên nầy bằng kính thiên văn, ống nhòm. Vì các miệng hố trên Mặt Trăng sẽ hiện ra rất rõ.
Có đôi lúc đứng ở bên đường ngắm nhìn dòng người ngược xuôi, tôi lại cảm thấy thành phố còn hoang vắng hơn sa mạc. Mọi người ở gần nhau đến thế nhưng tuyệt nhiên không biết đối phương đang nghĩ gì. Ồn ào huyên náo như vầy, nhiều người đang nói chuyện như vầy, nhưng lại chẳng có ai thật lòng lắng nghe.
Khi về già, tôi sẽ sống ở một trấn nhỏ ít người. Phòng không cần nhiều thiết bị hiện đại, trước trồng hoa, sau trồng rau. Tự mình làm bánh, muối dưa. Nuôi một con chó nhỏ, mỗi ngày tản bộ. Đi xem hát kịch. Không quấy rầy ai, cũng không mong ai quấy rầy mình.
Sáu trăm năm mươi nghìn tiếng sau, khi oxy của chúng ta hóa thành gió, nó có thể trở thành hai bọt nước liền kề trong cùng một cốc bia. Có thể trở thành hai hạt bụi giống hệt nhau dưới cùng một ánh đèn. Nguyên tử trong vũ trụ sẽ không bao giờ bị chôn vùi, và chúng ta cuối cùng cũng sẽ ở bên nhau!
Công ty SpaceX cho biết, một cơn bão địa từ (bão mặt trời) được kích hoạt từ vụ nổ bức xạ lớn từ mặt trời đã vô hiệu hóa ít nhất 40 trong số 49 vệ tinh của mạng truyền thông internet Starlink mới được phóng lên quỹ đạo.
Ngày 9/2, nhà vật lý thiên văn Jonathan McDowell thuộc Trung tâm vật lý thiên văn Harvard-Smithsonian cho biết, vụ việc đánh dấu tổn thất lớn nhất của các vệ tinh bắt nguồn từ một cơn bão địa từ và là sự cố độc nhất diễn ra từ trước tới nay.
Thông báo SpaceX được đăng trên trang web của công ty ngày 8/2 cho biết, các vệ tinh đã bị tấn công vào thứ Sáu tuần trước, ngày 4/2, một ngày sau khi chúng được phóng lên quỹ đạo "triển khai thấp" cách Trái đất khoảng 210 km.
Đơn cử là những vì sao.
Trong tình yêu trai gái. Người ta vẫn thường thề non, hẹn biển và lấy các ngôi sao ra để làm nhân chứng cho sự chân thành của bản thân.
Vì vầy mới có câu hát:
“Tinh tú trời cao thành vương miện sáng. Khai lễ đăng quan vũ trụ chong đèn.”
Mặt Trăng trong tiếng Anh là Moon, cũng là từ chỉ chung vệ tinh của các thiên thể trong Hệ Mặt Trời.
Vì vậy, người ta thường viết hoa chữ cái đầu của từ này để phân biệt mặt trăng của Trái Đất với những vệ tinh tự nhiên khác. Đây là vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất và là vệ tinh tự nhiên lớn thứ năm trong Hệ Mặt Trời.
Từ Moon có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ cổ Đức, có liên quan tới từ mensis trong tiếng Latin với xuất phát điểm từ tiền tố me- trong hệ ngôn ngữ Ấn - Âu nguyên thủy (Proto-Indo-European), sau này thường xuất hiện trong những từ như measure (đo lường) hay monday (thứ hai), month (tháng) và menstrual (kinh nguyệt).
Mặt Trăng cũng được gọi theo âm Latin của nó là Luna (Lunar) để phân biệt với các vệ tinh tự nhiên khác. Cái tên này được lấy ra từ nhũ danh của vị nữ thần Mặt Trăng trong thần thoại La Mã là Luna.
Bản thể Hy Lạp của bà là Selene (Σελήνη) cũng có nghĩa là Mặt Trăng trong tiếng Hy Lạp. Bà là vị thần của Mặt Trăng, điều khiển cỗ xe Mặt Trăng và thường được đồng hóa với chính Mặt Trăng.
Selene là con của Titan quan sát thiên giới Hyperion (Ὑπερίων) và nữ Titan của ánh sáng đá quý lấp lánh Theia (Θεία, Theía). 3 người con của họ chính là Mặt Trời Helios (Ἥλιος; Hēlios), Mặt Trăng Selene (Σελήνη) và Hừng Đông Eos (Ἠώς; Ēṓs) với những ngón tay hồng. Vì vậy, hai Titan này còn được gọi là cha và mẹ của Mặt Trời và Mặt Trăng.
Bà thường được mô tả như một phụ nữ xinh đẹp với gương mặt nhợt nhạt và mái tóc đen óng ả. Ngoài ra, Selene cũng thường mặc áo choàng, đeo vương miện hình trăng khuyết trên đầu và cầm theo một cây đuốc lớn với ánh sáng dịu mát của Mặt Trăng. Hằng ngày, bà cùng anh trai và em gái của mình tạo nên ngày và đêm trên trái đất.
Vào mỗi buổi sáng, nữ thần hừng đông Eos sẽ rời khỏi nhà của bà ở rìa đại dương để đánh thức anh trai Helios. Bà xòe ra những ngón tay hồng chiếu sáng thế gian và ra mở cánh cổng thiên đường để thần Helios có thể đánh cỗ xe ngựa Mặt Trời của ông bay trên bầu trời. Sau khi anh trai Helios hoàn tất chuyến đi vào ban ngày thì Selene, vừa tắm rửa xong từ đại dương Oceanus, lại tiếp tục kéo cỗ xe được kéo bởi một cặp bò đực ngang qua màn đêm và bắt đầu chuyến đi của mình.
Sau cùng, khi cỗ xe của Selene quay trở lại đại dương sâu thẳm, Eos lại tiếp tục xòe ra những ngón tay hồng và dẫn lối cho Helios chiếu sáng nhân gian.
Tình nhân của Selene là cậu trai trẻ điển trai Endymion (Ἐνδυμίωνος), một chàng mục đồng chăn cừu trẻ tuổi tại Caria. Một ngày nọ, Selene vô tình bắt gặp Endymion đang say ngủ trong hang động Latmos và ngay lập tức si mê chàng trai trẻ. Tuy nhiên, bà cũng sợ rằng tuổi trẻ và nhan sắc của tuyệt đẹp của Endymion sẽ phai nhạt đi theo thời gian, vì bà bất tử còn Endymion chỉ là người phàm.
Vì vậy, bà liền đến nhờ thần Zues ban cho Endymion sự bất tử và tuổi trẻ - khác với em gái của mình, Eos, người đã cầu xin thần Zues ban cho tình nhân Tithonus ( Τιθωνός) sự bất tử những lại không có tuổi trẻ để rồi chàng ta già đi, mãi mãi bị hành hạ bởi tuổi già và bệnh tật nhưng không thể siêu thoát.
Zues liền nhanh chóng đáp ứng lời cầu xin của Selene. Vị thần tối cao ban cho Endymion tuổi trẻ và sự bất tử, nhưng cũng ban thêm cho chàng trai chăn cừu một giấc ngủ vĩnh hằng - nơi Endymion có thể mãi mãi sống trong tuổi trẻ của mình.
Nghe thấy tin dữ, Selene liền nhanh chóng tìm đến chỗ Endymion. Bà cuối cùng cũng đã được ở bên người mình yêu, nhưng không thể cùng chàng ta hưởng thụ hạnh phúc trên thế gian.
Thời gian dần trôi, còn Selene vẫn cứ mãi chung thủy chờ đợi Endymion tỉnh dậy trong sự vĩnh hằng. Đau đớn, nước mắt của Selene rơi xuống và tạo ra hoa cát cánh (hoa chuông xanh) - loài hoa mang ý nghĩa của sự thủy chung, khiêm tốn và mãi không đổi thay.
Cũng từ đó trở đi, ánh trăng luôn buồn bã, êm ái, nhẹ nhàng và phảng phất thứ ánh sáng buồn man mác màu bạc. Người Hy Lạp cho rằng, đó chính là thứ ánh sáng tượng trưng mối tình thầm lặng nhưng tuyệt vọng của nữ thần Selene.
Tuy nhiên, bà và Endymion vẫn có với nhau hơn 50 người con gái. Họ được gọi chung là Meane, tượng trưng cho các pha của Mặt Trăng.
Vai trò của Selene luôn bị nhầm lẫn với nữ thần săn bắn và mặt trăng Artemis (Ἄρτεμις). Tuy nhiên, hai vị thần này không phải là một. Selene là người điều khiển cỗ xe Mặt Trăng, là bản thân Mặt Trăng và được coi là thần Mặt Trăng cổ của thời đại Titans.
Trong khi đó, Artemis lại được coi là vị nữ thần săn bắn và đại diện cho Mặt Trăng mới trong thời đại của các vị thần Olympian. Biểu tượng của Artemit là vầng trăng khuyết, cây nguyệt quế và mũi tên cung thủ.
Hai vị thần này cùng nhau chia sẻ một danh hiệu, tuy nhiên càng về sau, vai trò của Selene càng bị thu hẹp lại và chỉ đơn thuần được coi là vị nữ thần điều khiển cỗ xe Mặt Trăng.
Mang hình dáng của biểu tượng ngày Valentine, tinh vân IC 1805 còn có cái tên khác là Tinh vân Trái Tim. IC 1805 cách chúng ta khoảng 7500 năm ánh sáng về phía cánh tay xoắn ốc Perseus của thiên hà chúng ta.
Song hành bên cạnh, IC 1807 cũng không kém phần rực rỡ với tên gọi Tinh vân Linh Hồn. Rộng khoảng 25 năm ánh sáng và khoảng cách ước tính khoảng 6,500 năm ánh sáng, khu vực phức hợp hình thành sao nằm trong vòng tay xoắn ốc Perseus của Dải Thiên hà Milky Way, được nhìn thấy trên bầu trời Trái Đất trong hướng chòm sao Thiên Hậu (Cassiopeia).
Cả hai tinh vân tỏa sáng rực rỡ dưới ánh sáng đỏ tràn đầy năng lượng của Hydro. Ngoài ra, trong khung hình ba màu còn có ánh sáng phát ra từ lưu huỳnh, thể hiện bằng màu vàng, và oxy thể hiện bằng màu xanh lam. Một số cụm sao mở nhỏ nằm gần các trung tâm tinh vân. Các tinh vân trải dài khoảng 300 năm ánh sáng, và ánh sáng mất khoảng 6,000 năm để đến Trái đất từ đây. Các nghiên cứu về các ngôi sao và cụm sao trong Tinh vân Trái tim và Linh hồn thường tập trung vào cách các ngôi sao khổng lồ hình thành và cách chúng ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Triton là vệ tinh tự nhiên lớn nhất và là vệ tinh đầu tiên của Hải Vương Tinh được phát hiện.
Vệ tinh này được đặt tên theo vị thần biển Triton trong thần thoại Hy Lạp, con trai của thần Poseidon và nữ thần biển Amphitrite (Ἀμφιτρίτη). Ông là vị thần của những ngọn sóng, người đưa tin của biển cả và bảo hộ người đi biển với cơ thể của con người và chiếc đuôi cùng vây của loài cá.
Triton thường cầm một chiếc tù và lớn, được làm từ vỏ ốc xà cừ và có nhiệm vụ đi theo tháp tùng đi theo thần Poseidon mỗi lúc ngài vi hành trên cỗ xe thần mã khắp biển khơi.
Khối lượng trung bình của các Mặt Trăng bao quanh Hải Vương Tinh tập trung 99,5% ở Triton. Triton quay quanh Hải Vương Tinh sai hướng, chống lại hướng tự quay của Hải Vương Tinh.
Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng Trition vốn dĩ là một hành tinh lùn bị Hải Vương Tinh "bắt giữ" khi Hệ Mặt Trời còn trẻ và hỗn loạn. Triton có thể đã từng là một phần của hệ thống kép (như trường hợp của Pluto và Charon) trước khi Hải Vương Tinh di cư đến rìa bên ngoài của Thái Dương Hệ.
Lực hấp dẫn của Hải Vương Tinh khi đó đã can thiệp vào hệ thống đôi này và gửi thiên thể kia vào không gian, trong khi Triton lại bị ép vào trong quỹ đạo của nó.
Điều này đã phá vỡ quỹ đạo các Mặt Trăng khác của Hải Vương Tinh một cách dữ dội, đẩy chúng khỏi Hải Vương Tinh hoặc khiến chúng va chạm với bề mặt hành tinh này.
Điều này lý giải lý do tại sao mà Mặt Trăng của Hải Vương Tinh đa phần đều mang hình dạng kỳ dị và bị lực hút của Triton lấn áp một cách thái quá.
Thế nhưng, tình trạng này sẽ kết thúc vào một ngày nào đó vì hiện tại, quỹ đạo quay của Triton đang bị Hải Vương Tinh kìm hãm dần.
Số phận của vệ tinh này sau cùng chỉ còn 2 lựa chọn: một là "đâm sầm" vào hành tinh số 7 hoặc hai là bị nghiền nát bởi lực hấp dẫn của Hải Vương Tinh và trở thành hệ thống vành đai không lồ giống như Thổ Tinh.
Các Mặt Trăng khác của Hải Vương Tinh được đặt tên theo nhũ danh của các vị thần cai quản biển cả, nguồn nước trong thần thoại Hy Lạp và La Mã như: Naiad, Thalassa, Despina, Galatea, Larissa, Hippocamp, Proteus... tương tự như vệ tinh của Thổ Tinh (tên được đặt theo nhũ danh của các Titan họ hàng của Saturn/Cronus) hay vệ tinh của Mộc Tinh (được đặt theo tên của những người vợ, tình nhân và con gái của Jupiter/Zues).