Live Đao lồng đụ Tây không xong, đụ Tàu không nổi, vì chim bé không cửng

kawachi

Con Chym bản Đôn
ĐÚ TÂY KHÔNG XONG, ĐÚ TÀU KHÔNG NỔI: VÌ CÁI NỀN VẪN LÀ BẦN NÔNG.

IMG-1086.jpg


Nhiều người cứ tưởng Việt Nam đang chọn giữa mô hình Tây và mô hình Tàu. Nhưng vấn đề không nằm ở việc thích mô hình nào. Vấn đề là mô hình nào cũng cần một cái nền xã hội tương ứng để vận hành.

Tây có nền tư bản, pháp quyền, hợp đồng, cá nhân tự chủ, xã hội dân sự, tích lũy dài hạn.

Tàu có nền gia tộc, thiên triều, nhà nước lớn, trật tự thứ bậc, kỷ luật quyền lực, năng lực nghiền phe nhóm nội bộ.

Việt Nam có nền làng xã, lúa nước, ruộng đất nhỏ, họ hàng, sinh tồn gần, khôn vặt, giữ miếng ăn, giữ đất, giữ quan hệ, và phản xạ phòng thủ cái sát sườn.

Vậy nên đú Tây thì sợ tư bản, sợ cá nhân, sợ phản biện, sợ xã hội dân sự. Đú Tàu thì không đủ kỷ luật, không đủ bộ máy, không đủ năng lực thanh trừng tham nhũng tận gốc. Cuối cùng chỉ còn một thứ nửa mùa: mượn khẩu hiệu Tây để trang trí, mượn công cụ Tàu để kiểm soát, nhưng bên dưới vẫn vận hành bằng tâm lý tiểu nông.

Nhiều anh chị thích nói chuyện mô hình lắm.

Nào là học phương Tây.

Nào là tham khảo Trung Quốc.

Nào là Singapore.

Nào là Hàn Quốc, Nhật Bản, Bắc Âu.

Nghe rất sang.

Nhưng câu hỏi đầu tiên phải là: cái nền người của mình có đủ để vận hành mô hình đó không?

Không phải cứ đọc vài cuốn sách phương Tây là thành Tây.

Không phải cứ có láng giềng Trung Quốc, cùng vài khẩu hiệu xã hội chủ nghĩa, ******** chủ nghĩa, là đú được Tàu.

Không phải cứ sạch đường, phạt mạnh, camera nhiều là thành Singapore.

Mô hình không sống bằng slide. Mô hình sống bằng nội hàm xã hội. Nội hàm không đủ thì mọi mô hình nhập khẩu đều thành cosplay.

2. Văn minh Tây: không phải vài chữ “tự do”, mà là tư bản trưởng thành

Tây hiện đại không phải chỉ là “khai phóng”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do cá nhân”, "đa đảng đa nguyên", "tam quyền phân lập". Nền vận hành thật của nó là tư bản.

Tư bản không chỉ là tiền. Nó là một cơ chế xã hội: sở hữu tư nhân, hợp đồng, thị trường, cạnh tranh, tích lũy, tái đầu tư, pháp quyền, doanh nghiệp, thuế, ngân hàng, đại học, báo chí, xã hội dân sự, cá nhân chịu trách nhiệm.

IMF định nghĩa nền kinh tế tư bản quanh sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, lao động tiền lương và lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu vốn; dùng fact này làm cọc neo.

Tây phát triển mạnh vì tư bản kích thích năng lượng xã hội: người ta cạnh tranh, tích lũy, sáng tạo, mở doanh nghiệp, phá mô hình cũ, tạo mô hình mới.

Dĩ nhiên tư bản có mặt tối: bất bình đẳng, bóc lột, tha hóa, khủng hoảng, thao túng thị trường. Nhưng không thể phủ nhận: nó là một động cơ phát triển cực mạnh.

Tóm:

Muốn đú Tây mà cứ dị ứng với chữ tư bản thì khác gì muốn lái xe nhưng sợ động cơ.

3. Việt Nam kẹt với mô hình Tây vì nền chính danh nhạy cảm với tư bản

Việt Nam vận hành bằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về thực tế, Việt Nam đã dùng thị trường, doanh nghiệp tư nhân, đầu tư, hội nhập, chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhưng về mặt diễn ngôn, nhiều người vẫn nhạy cảm với chữ tư bản.

Nguồn Tạp chí ******** bản tiếng Anh cũng mô tả Việt Nam phát triển kinh tế thị trường, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng, nhưng nhấn mạnh không đồng nghĩa chọn con đường tư bản chủ nghĩa.

Miệng thì muốn hiện đại hóa.

Tay thì cần thị trường.

Chân thì bước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Túi thì cần FDI, doanh nghiệp, xuất khẩu.

Nhưng đầu thì vẫn ngại phân tích tư bản như một cơ chế phát triển.

Tóm:

Đú Tây không xong vì cứ chạm tới cái nền thật của Tây là tư bản, các anh chị lại bắt đầu đỏ mặt, ho khan, rồi đi tìm một cụm từ an toàn hơn để gọi nó.

4. Văn minh Tàu: không chỉ là ********, mà là gia tộc, thiên triều, trật tự và quyền lực trung tâm

Trung Quốc hiện đại có ********, nhưng căn tính văn minh sâu hơn nhiều. Nó có tầng gia tộc, thân tộc, trật tự thứ bậc, thiên hạ, thiên triều, trung tâm-vệ tinh, đẳng cấp, quyền lực nhà nước lớn.

Nghiên cứu về Trung Quốc tiền hiện đại cho thấy kin groups/nhóm thân tộc có vai trò lớn trong địa vị xã hội và bất bình đẳng; các nghiên cứu về kinship Trung Hoa cũng xem thân tộc là vấn đề xã hội, chính trị, triết học.

Tu tiên não tàn không chỉ là văn học nhảm. Nó còn đất sống vì nó mọc trên một nền tưởng tượng xã hội có thật: môn phái, sư phụ, gia tộc, huyết mạch, căn cơ, thiên mệnh, cảnh giới, mạnh được yếu thua, trung tâm quyền lực, leo tầng, vượt kiếp, đắc đạo.

Fantasy không mọc trong chân không. Nó sống được vì nó chạm đúng nền văn hóa.

Tóm:

Tàu có thể thay triều đại, thay chủ nghĩa, thay khẩu hiệu, nhưng cái trí tưởng tượng thiên triều - gia tộc - cảnh giới - quyền lực trung tâm chưa bao giờ chết hẳn.

5. Đú Tàu không phải cứ chấm điểm công dân là xong

Phần này đưa ý user mới.

Hiện nay có người thích đú quản trị kiểu Trung Quốc: dữ liệu lớn, camera, định danh số, chấm điểm công dân, tín nhiệm xã hội, quản trị hành vi.

Nhưng không phải cứ Trung Quốc là láng giềng, cùng vài chữ xã hội chủ nghĩa, ******** chủ nghĩa, là copy được.

Hệ thống tín nhiệm xã hội Trung Quốc không phải một “điểm công dân duy nhất” như meme, mà là một hệ công cụ quản trị dữ liệu phân mảnh, đang hướng tới tích hợp; MERICS gọi nó là một phần trong nỗ lực của nhà nước Trung Quốc hướng tới cai trị hiệu quả bằng dữ liệu.

Muốn đú Tàu thì phải có nền Tàu: nhà nước lớn, kỷ luật tổ chức, năng lực kiểm soát quan lại, năng lực đánh phe nhóm, năng lực nghiền mạng lưới lợi ích bên trong.

Không phải mua camera là bằng Tàu.

Không phải lập app là bằng Tàu.

Không phải gắn điểm công dân là bằng được Tàu.

Tóm:

Copy công cụ kiểm soát của Tàu mà không copy năng lực kỷ luật quyền lực của Tàu thì không tạo ra quản trị hiện đại. Nó chỉ tạo ra cường hào số hóa.

6. Phải mạnh tay với tham nhũng, đừng mõm.

Nếu là tôi ngồi ghế quyết sách, muốn chơi mô hình kiểm soát kiểu Tàu thật, thì tôi không chơi nửa mùa. Tôi sẽ hiểu rằng muốn trao thêm quyền lực dữ liệu cho bộ máy, trước hết phải làm sạch bộ máy tới mức tàn nhẫn. Không phải chống tham nhũng kiểu gãi ghẻ, không phải bắt vài con tốt rồi để nguyên bàn cờ, không phải xử vài vụ cho đẹp báo cáo. Phải đánh tới tận dây lợi ích, sân sau, họ hàng chính sách, công ty bình phong, đất đai, ngân sách, quan hệ bảo kê, nhóm thân hữu.

Nói thẳng: phải ở mức chu di tam tộc. Không phải vì thích máu, mà vì nếu không dám đánh tới tận gốc mạng lưới thân hữu, thì mọi công cụ kiểm soát xã hội chỉ trở thành đồ chơi mới trong tay đám sâu mọt cũ.

Ở đây “chu di tam tộc” là cách nói cực đoan để chỉ mức triệt để của thanh lọc quyền lực. Vì thực tế nếu bộ máy vẫn mục, thì càng thêm dữ liệu, càng thêm điểm số, càng thêm công cụ quản lý, xã hội chỉ càng bị trói bởi một tầng cường hào số hóa.

Một bộ máy chưa tự kiểm soát nổi lòng tham của mình thì đừng mơ chấm điểm đạo đức của dân.

7. Muốn đú Singapore thì nhìn cái lõi

Singapore không thành công vì chửi dân, khóa mõm dân bằng số tiền tương đương 7.5 triệu, cũng không thành công vì phạt tiền đơn giản. Nó xây cơ quan chống tham nhũng có răng nanh thật. CPIB nói ý chí chính trị chống tham nhũng được xác lập khi PAP lên cầm quyền năm 1959 dưới Lý Quang Diệu, với mục tiêu xây chính phủ liêm chính và trọng dụng năng lực.

Case Teh Cheang Wan: Bộ trưởng Phát triển Quốc gia bị CPIB điều tra năm 1986 và chết trong quá trình điều tra; CPIB mô tả đây là vụ công chúng quan tâm lớn vì liên quan quan chức cấp bộ trưởng, và công chúng hài lòng với tính công bằng của CPIB.

Lý Quang Diệu không “chu di tam tộc”. Ông ta làm thứ đáng sợ hơn với giới quyền lực: biến chức vụ thành thứ không cứu được anh khỏi điều tra.

Muốn đú Singapore thì không chỉ đú đường sạch, phạt nặng, đô thị gọn, hành chính hiệu quả. Phải đú cái lõi: quan chức ăn là đánh, bộ trưởng ăn cũng đánh, người nhà quyền lực cũng không thành vùng cấm.

Muốn chống tham nhũng, thì không thể chỉ mõm bằng chính sách, phải để cho dân được quyền lên tiếng, dân nói sai ở đâu thì thuyết phục bằng chứng cứ, bằng lập luận, chứ không phải khóa mõm dân như rọ mõm chó, quen tay thì có ngày chó cắn.

Tóm:

Singapore sạch không phải vì dân tự nhiên ngoan. Singapore sạch vì quyền lực bị dạy rằng ăn là chết chính trị.

8. Việt Nam: nền sâu là làng xã, lúa nước, tiểu nông, đất đai, sinh tồn gần

Người nông dân nuôi dân tộc này, giữ đất, giữ làng, giữ sinh kế qua chiến tranh và nghèo đói. Cái cần phê phán không phải người nông dân, mà là tư duy tiểu nông khi leo lên quản trị quốc gia, giáo dục, khoa học, đô thị, công nghệ, địa chính trị.

Việt Nam có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời; xã hội Việt Nam truyền thống xoay quanh nhà nước trung ương và làng; sản xuất lúa hiện đại vẫn có nông hộ nhỏ và manh mún đất đai.

Nguồn về làng xã và đất đai Việt Nam mô tả ruộng tư truyền thống phân tán, nhỏ lẻ; nghiên cứu gần đây vẫn nhắc tới land fragmentation trong sản xuất lúa.

Căn tính tiểu nông là: nghĩ ngắn, lo gần, giữ cái sát sườn, thủ miếng ăn, thủ mảnh đất, thủ quan hệ, thủ họ hàng, sống bằng xoay xở, kém xây hệ dài hạn.

Cái nền này từng giúp Việt Nam sống sót cực giỏi.

Nhưng khi bước vào hiện đại hóa, nó thành trần thấp.

Tóm:

Cái nền tiểu nông giúp người Việt không dễ chết, nhưng cũng khiến người Việt rất khó lớn.

9. Hồ Chí Minh: người kéo năng lượng làng xã vào đại tự sự quốc gia

May mắn lịch sử của Việt Nam là có Hồ Chí Minh và thế hệ cách mạng kéo năng lượng làng xã, nông dân, chống ngoại xâm, giữ đất, giữ nước vào một đại tự sự quốc gia hiện đại.

Nhưng thắng chiến tranh, giành độc lập, dựng quốc gia không có nghĩa là căn tính tiểu nông tự biến mất.

Nó vẫn ở đó.

Khi có ngoại xâm, nó có thể trở thành năng lượng giữ nước.

Khi vào phát triển, nó có thể biến thành cục bộ, thân hữu, ngắn hạn, sợ mất phần, sợ thay đổi, không chịu xây luật chơi chung.

Tóm:

Hồ Chí Minh kéo được dân tộc này ra khỏi trạng thái tan tác lịch sử, nhưng không có nghĩa ông có thể một mình gột sạch căn tính tiểu nông tích tụ qua hàng thế kỷ.

10. Khi căn tính bần nông nắm quyền lực

Tư duy tiểu nông ở người dân thường thì là phản xạ sinh tồn
Nhưng tư duy tiểu nông khi nắm quyền lực thì nguy hiểm.

Nó tạo ra:

giữ ghế thay vì xây hệ,
giữ phần thay vì tối ưu tổng thể,
giữ quan hệ thay vì trọng năng lực,
sợ người giỏi vì người giỏi khó bảo,
sợ tư duy độc lập vì độc lập làm hỏng trật tự quen,
sợ pháp quyền vì pháp quyền không nể quan hệ,
sợ tư bản vì tư bản tạo lực ngoài nhà nước,
sợ khai phóng vì khai phóng tạo con người biết hỏi,
sợ kỹ trị thật vì kỹ trị thật đòi số liệu và trách nhiệm.

Tóm:

Bần nông khi nghèo thì đáng thương. Bần nông khi có quyền thì thành tai họa quản trị.

11. Khiêm tốn giả tạo

Khiêm tốn thật là biết người biết mình. Biết mình yếu ở đâu, nền thiếu cái gì, mô hình nào không đủ điều kiện vận hành, rồi học để nâng hệ.

Khiêm tốn giả tạo là biết rồi im, biết rồi hạ thấp, biết rồi co rúm, biết rồi rao giảng đạo lý để che bất lực.

Khiêm tốn thật tạo ra học hỏi. Khiêm tốn giả tạo tạo ra sự co rúm được đạo đức hóa.

Các anh chị không khiêm tốn. Các anh chị chỉ sợ. Sợ Tây nên mượn chữ “bản sắc”.

Sợ Tàu nên mượn chữ “phù hợp”.

Sợ tư bản nên mượn chữ “định hướng”.

Sợ khai phóng nên mượn chữ “truyền thống”.

Sợ thay đổi nên mượn chữ “ổn định”.

12. Không dám nhìn căn tính thì mọi mô hình đều cosplay

Muốn học Tây, phải dám hiểu tư bản, cá nhân, pháp quyền, hợp đồng, xã hội dân sự.

Muốn học Tàu, phải dám hiểu gia tộc, thiên triều, nhà nước lớn, kỷ luật quyền lực, thanh lọc nội bộ.

Muốn học Singapore, phải dám hiểu chống tham nhũng không vùng cấm, trả giá chính trị thật, bộ máy công vụ liêm chính thật.

Còn Việt Nam muốn đi tiếp thì phải dám nhìn vào căn tính của mình: làng xã, tiểu nông, ngắn hạn, cục bộ, giữ đất, giữ phần, giữ quan hệ, khôn vặt, sống sót giỏi nhưng xây hệ kém.

Không phải Việt Nam không thể học Tây hay học Tàu. Việt Nam chỉ không thể học bất kỳ ai nếu còn không dám học chính mình. Mọi mô hình lớn đều bắt đầu từ một việc rất thô: nhìn thẳng vào cái nền người đang vận hành xã hội.

Nếu cái nền vẫn là bần nông mà cứ phủ lên đó vài lớp tư bản, vài lớp ********, vài lớp khai phóng, vài lớp kỹ trị, thì cuối cùng chỉ có một thứ ra đời: cosplay văn minh.

Tóm:

Đừng hỏi Việt Nam nên theo Tây bao nhiêu hay theo Tàu bao nhiêu. Hỏi trước xem cái hòn dái tinh thần của mình đã hết sun trước sự thật về chính mình chưa.

Tung Nguyen

Link: https://www.facebook.com/share/p/18CEkmCBgR/
 

Có thể bạn quan tâm

Top