Có Hình Góc nhìn của người Pháp về văn hóa tâm linh An Nam: hủ tục liếm nước quan tài

Nhàsưchịchgáihư

Con chim biết nói
Israel
TỤC LIẾM NƯỚC QUAN TÀI

[Câu chuyện được lấy cảm hứng từ một số tư liệu và ghi chép lịch sử, tuy nhiên đã được hư cấu và biên tập lại để phục vụ mục đích giải trí.]

Hồi Ký của Étienne Moreau - Thư ký Y vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương năm 1902 – 1909 về hủ tục hiếm có ở An Nam qua cuốn sách “Kỹ Thuật Dân An Nam - Henri Joseph Oger – 1909”
………….

Tôi là Étienne Moreau, thư ký y vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương tại An Nam. Tôi là cộng sự và cũng là người bạn thân thiết với Ngài Henri Joseph Oger, nhân viên hành chính kiêm khảo cứu dân tộc học của chánh quyền Đông Dương, tác giả cuốn sách Technique du peuple Annamite, (Kỹ thuật dân An Nam) cuốn sách tội nghiệp chỉ được in 60 ấn bản sau này.

Gọi là cuốn sách tội nghiệp, là vì bản thân Oger đã dày công thực hiện 4.200 bản khắc với các thợ thủ công và họa sĩ An Nam theo yêu cầu của chánh quyền, nhưng khi muốn xuất bản thì chỉ có thể tự in nó ra với số lượng hạn chế, chủ yếu là do vấn đề kinh phí. Nhưng một số thông tin tôi nắm được là chánh quyền chỉ muốn giữ cuốn sách như một tài liệu phục vụ cho công cuộc thực dân hóa chứ không phải để lưu trữ văn hóa của những người An Nam.

Cũng phải thôi, Chúng tôi vốn đến từ Paris sáng đèn, ai lại quan tâm đến cái văn hóa tiều tụy không có chút văn minh ở Đông Dương này, …một nơi tối tăm, thiếu trật tự và chậm tiến.…nhưng…

..Nhưng tôi phải thừa nhận rằng, tôi chẳng hiểu gì về nơi này cả!

Mọi thứ bắt đầu từ việc tôi theo chân Ngài Oger để ghi chép tình hình dịch tễ tại Hà Nội. Chúng tôi được Monsieur Lễ, một người An Nam hiện đang giữ chức chánh văn phòng phủ thống sứ mời đến đám tang của cha ông, một cựu quan thượng thư triều Nguyễn, giờ đương chức Nghị Viên Hội Đồng Bảo Hộ. Một người An Nam hiếm hoi đủ địa vị để sai người mang thiệp mời có đóng triện Phủ Thống sứ.

Thực là một đám ma to của một viên chức lớn. Nhưng với tôi và Oger thì đây là một dịp quan sát văn hóa tốt….chí ít là tốt hơn nhiều những lần chui vào hốc hẻm các con phố của Hà Nội.

Chúng tôi đến nhà họ Lễ vào ngày thứ bảy của tang lễ.

Không phải vì đến trễ, mà vì gia đình chỉ bắt đầu tiếp khách từ hôm đó. Trước đó, theo lời một viên thông ngôn, thi thể vị cựu thượng thư được quàn tuyệt đối trong nhà tổ, cửa đóng then cài, không tiếp một ai ngoài họ hàng ruột thịt và các pháp sư bản xứ. Người ta nói có “sự cố nhỏ”, vài điều không tiện nhắc lại, đủ để khiến nghi thức bị đình trệ suốt gần một tuần.

Với tôi, bảy ngày đã là quá đáng.

Ở Paris, muốn cái xác nằm trên mặt đất thì người ta phải dùng Formalin, phải có phòng nhiệt độ thấp, khô. Còn ở đây, người ta để nó nằm giữa một căn nhà gỗ tối, trong khí hậu nhiệt đới, dưới những lớp vải liệm dày nặng, như thể họ vừa thương lượng với vi khuẩn để chúng khoan làm tổ trên xác của ông cụ.

Tôi đã nói nhỏ với Oger khi bước qua cổng:

“Hoặc họ sẽ chôn ngay trong vài hôm tới… hoặc chúng ta sắp phải ngửi một thứ mùi khủng khiếp.

Tôi đã lầm.
Chiều hôm ấy, trong buổi trà đầu tiên với Monsieur Lễ, người con trai trưởng với dáng gầy, gương mặt khắc khổ, mắt trũng sâu vì nhiều đêm không ngủ, đã thông báo với sự bình thản đáng sợ rằng:

Thi thể sẽ được quàn đủ….. mười bốn ngày.

Điều đó đồng nghĩa với việc tôi và Oger, vì đã nhận lời quan sát tang lễ theo lời mời chính thức của Phủ Thống sứ, sẽ phải ở lại thêm….. đúng bảy ngày nữa.

Oger chỉ khẽ nhướng mày.

Tôi thì phải rất cố gắng mới giữ được vẻ mặt trung lập của một viên chức thuộc địa.

Bảy ngày để nhìn một cơ thể phân hủy chậm rãi, trong danh nghĩa “hiếu đạo”, “bang giao”.

Tôi cho rằng, đó là một sự lãng phí thời gian không thể bào chữa.

Nhưng đất An Nam này, như tôi dần hiểu, luôn có cách khiến sự lãng phí ấy trở thành một bài học.

Chúng tôi được sắp xếp một phòng nghỉ và mỗi ngày đều phải nghe tiếng trống kèn và tiếng khóc ai oán.
 
Sửa lần cuối:
Ngày thứ mười.
Buổi sáng hôm đó, không khí trong nhà tang đặc quánh một mùi ngọt gắt khó tả, thứ mùi không hoàn toàn là thối rữa, mà giống như hỗn hợp của nhựa cây, hương đốt quá liều, và một thứ ẩm nóng âm ỉ phát ra từ chính lòng đất.

Quan tài được đặt giữa gian chính, phủ lụa vàng, chung quanh là bát hương, đèn dầu và những mâm cúng nguội lạnh. Tôi nhận thấy vài vết sẫm màu đã loang ra ở phần đáy hòm, dù gia nhân cố che bằng vải điều.

Oger đứng cạnh tôi, khi tôi đặt lẵng hoa bên cạnh quan tài và đang phân vân không biết phải cầu nguyện thế nào cho phải phép. (Ý tôi là cầu nguyện với Chúa hay với Thần linh của họ)

Nhưng rồi có tiếng hô lớn của một vị pháp sư địa phương, tất cả gia nhân đều đóng cửa lại, mọi khách khứa đều được mời ra ngoài, ngoại trừ chúng tôi. (vì Oger đã nhờ Monsieur Lễ cho phép quan sát mọi nghi lễ)

Tôi thì chỉ muốn mở cửa sổ, nhưng mọi khung cửa đều bị che kín.

Rồi nghi thức bắt đầu.

Một hồi trống hiệu…Monsieur Lễ được dìu ra giữa gian phòng

Anh ta đã thay áo tang mới, trắng toát, rộng thùng thình trên thân thể gầy guộc. Gương mặt xám nhợt, môi khô nứt, ánh mắt không còn tiêu điểm rõ ràng, như thể đã nhìn quá lâu vào bóng đèn.

Ông thầy cúng già ra hiệu. Hai gia nhân quỳ xuống, cẩn thận vén phần vải che đáy quan tài.

Tôi thấy.

Một vệt chất lỏng sẫm màu, đặc quánh, chảy ra từ một khe gỗ nhỏ, rỉ từng giọt chậm chạp xuống chiếc khay đồng đặt sẵn bên dưới.

Mắt tôi giật giật như thể chứng kiến một thứ gì đó vô cùng tởm lợm, Oger cũng thế nhưng cái tay ghi chép của anh ta vẫn hoạt động như thể không có gì xảy ra cả.

Cái chất lỏng ấy mang một màu nâu đen lờ đờ, như dầu máy cũ.

Mùi của nó… khiến dạ dày tôi co thắt. Tôi lùi lại nửa bước theo bản năng.

Monsieur Lễ quỳ xuống, có lẽ anh ta sẽ thành tâm lau cái vết nước đấy đi gọi là cử chỉ cuối cùng cho ông cụ..

…Không!

Anh ta cúi sát mặt vào đáy quan tài.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi vẫn nghĩ đây chỉ là một hình thức tượng trưng, một cử chỉ giả tạo để trấn an đám đông.

Nhưng không!

Anh ta mở miệng chậm rãi.

Rồi lè lưỡi ra.

Một hành động quá đơn giản… và quá…. không thể chấp nhận.

Đầu lưỡi chạm vào vệt chất lỏng ấy.

Một lần……Rồi lần nữa…….Rõ ràng! Ngài chánh văn phòng phủ thống sứ đang cố ý làm một điều vô cùng tởm lợm.

Tôi nghe thấy Oger hít mạnh một hơi, như thể bị ai đó bóp lấy cổ họng.

Trong đầu tôi, mọi khái niệm về y học, về vi trùng học, về…văn hóa…văn minh tiến bộ nó đang sụp đổ lộn xộn… Monsieur Lễ đang làm cái điều chắc chắn sẽ bị nhốt vào nhà thương điên nếu anh ta ở Pháp.

Đó không phải hiếu đạo. Hoặc có chăng tôi vẫn chưa hiểu cách người dân An Nam bày tỏ lòng trung hiếu của mình.

Trước mắt tôi đây là một thí nghiệm điên rồ được thực hiện bằng sự liều mạng và cả sự hiểu biết tối thiểu về thứ đang được đưa vào miệng.

Khi Monsieur Lễ đứng dậy, môi anh ta dính một vệt sẫm nhỏ.

Đám đông cúi đầu.

Mấy phu nhân An Nam thì nằm rạp xuống đất mà gào khóc.

Còn tôi… chỉ cảm thấy một cơn lạnh bò dọc sống lưng, tôi thấy tởm lợm là một chuyện nhưng mặt khác tôi nhận ra cái ranh giới kiến thức y học của tôi mỏng manh đến mức nào khi bị ném vào một thế giới không thừa nhận nó.

Oger khẽ nói, rất khẽ, như sợ làm kinh động không khí:

Monsieur Lễ điên rồi….

Tôi không trả lời.

Chúng tôi lặng lẽ rút ra ngoài, chịu khó đi qua qu/an tài để thoát ra bằng cửa gian sau, cái mùi và hình ảnh liếm nước qu/an tài còn đang tái hiện chân thực trong con mắt mở to của Oger.
 
Viên thông ngôn được gọi đến ngay trong đêm.

Hắn là một người đàn ông trung niên, gầy, cổ dài, mặc áo the đen đã sờn, trên trán còn vương tro nhang. Hắn cúi đầu chào chúng tôi rất thấp, ánh mắt lảng tránh như thể chỉ riêng việc đứng trong cùng một gian phòng với hai người ngoại quốc giữa một đám ta/ng đã là điều bất kính.

Oger không vòng vo.

Anh đặt cuốn sổ xuống bàn, tháo kính, nhìn thẳng vào hắn.

“Tôi cần lời giải thích, cho hành động của Monsieur Lễ ”

Viên thông ngôn liếm môi, mất vài giây để tìm từ ngữ bằng thứ tiếng Pháp vụng về:

“Thưa ông… đó là… chuộc lỗi.”

“Chuộc lỗi cho ai?” – tôi hỏi.

“Cho người ch/ết.”

Oger khoanh tay.

“Cụ thể.”

Người đàn ông hạ giọng:

“Nếu quan tài chảy nước… nghĩa là linh hồn người ch/ết chưa đi được. Có…có việc còn còn… ở trần gian.”

Tôi bật cười khẽ, không kìm được:

“… thì liên quan gì đến chất lỏng từ một cơ thể đang phân hủy?”

Hắn không hiểu chữ phân hủy, nhưng hiểu giọng điệu của tôi.

Hắn cúi thấp hơn:

“Theo phong tục… người con trai trưởng phải… dùng miệng… nhận phần nhơ bẩn ấy. Làm vậy để tạ tội. Để chứng minh mình hiếu thảo. Khi nào quan tài không chảy nữa… thì mới chôn được.”

Oger nhíu mày:

“Và nếu nó… tiếp tục chảy?”

Viên thông ngôn im lặng một nhịp.

“…thì người ta tin rằng… người con là bất hiếu. Làm cha chết vẫn chưa can lòng.”

Tôi đứng bật dậy.

“Thật nực cười.”

“Cái vùng đất này biến một hiện tượng sinh học tầm thường thành niềm tin mạnh đến vậy à?”

Viên thông ngôn lúng túng, lùi nửa bước.

Oger lạnh lùng tiếp lời:

“Ở châu Âu, nếu một t/hi thể rỉ nước, chúng tôi thay áo liệm. Khử trùng. Khâu kín. Chôn cất. Không ai yêu cầu con trai phải… uống lấy cái nước rỉ ra từ cỗ qu/an tài cả.”

“Các anh đang gi/ết ông ta.”

Viên thông ngôn run giọng:

“Không, thưa ông… là cứu…dòng họ”

Tôi cắt ngang:

“Cứu bằng vi khuẩn hoại tử, bằng độc tố x/ác chết và mê tín?”

Tôi cười khan:

“Nếu thứ đó chảy thêm vài ngày nữa, có lẽ các anh cần một bác sĩ ký giấy chứng tử cho Monsieur Lễ.”

Oger khép sổ lại.

Giọng anh mệt mỏi:
“Và chính vì trò man rợ này mà ta/ng lễ bị kéo dài?”

“Vâng… nếu chưa làm lễ… thì không thể tiếp khách… không thể chôn cất…”

“Đúng vậy và các người sẽ mất thêm 14 ngày nữa để chôn luôn chánh văn phòng phủ thống sứ”

Cuộc nói chuyện kết thúc trong tiếng kèn ma não nề.

Sáng hôm sau, chúng tôi lại được gia nhân mời đến nhà tổ để chứng kiến di quan, sớm hơn 2 ngày so với kê hoạch. Cả hai chúng tôi chưa hiểu rõ điều gì đã xảy ra nhưng Oger có vẻ vui mừng. cũng phải thôi, chúng tôi đã không thể ăn ngon hai ngày nay với cái hình ảnh liếm nước qu/an tài ấy.

Tuy nhiên, lúc chúng tôi đến thì khu vực quàn x/ác đã được xông hương hẳn hoi, cửa mở toang và nhiều phái đoàn đến viếng.

Viên thông dịch nhìn chúng tôi với ánh mắt đắc chí, có lẽ anh ta đang tự hào cái phong tục man di của mình.

Nhưng quả đúng vậy, qu/an tài quả thực không bị rỉ nước nữa, trông ai cũng thở phào nhẹ nhõm, hàng chục người tới khiêng qu/an tài gỗ có lẽ nặng cả tấn, họ vật vã di chuyển ra ngoài…có lẽ mọi chuyện đã kết thúc.

Nhưng không! Trong lúc dùng bữa trưa cuối cùng, Monsieur Lễ vốn đang mệt mỏi tiếp khách thì ngã ra co giật dữ dội, anh ta nói ú ớ cái gì đó khiến người ta kinh hãi. Mắt anh ta trợn tròng và ngất đi.

Cơn co giật của Monsieur Lễ chưa dứt hẳn thì trong nhà đã nổi lên một thứ hỗn loạn kỳ quái.

Họ không đi tìm bất kì đốc tờ nào cả mà họ đi tìm pháp sư.

Những gia nhân chạy dọc hành lang như bầy chuột bị hun khói, miệng lẩm bẩm những cái tên tôi không phân biệt được: thầy Tư, thầy Cả, pháp sư đất Kinh Bắc, người giữ bùa trấn âm phần… Một bà lão tóc bạc quỳ sụp ngay trước bậc cửa phòng, dập đầu xuống nền gạch, miệng tru tréo rằng “vo/ng dữ nhập”, rằng linh hồn người cha chưa siêu thoát đang mượn thân con để xả cơn giận”

Không một ai nhắc đến Tây y ngay cả khi người phụ trách Y vụ đứng ngay đây.

Tôi đứng đó, trong bộ áo nhân viên y vụ của Phủ Toàn quyền, cảm giác như một món đồ nội thất vô dụng đặt nhầm vào một nghi thức man rợ. Khi cơn co giật thứ hai khiến toàn thân Monsieur Lễ cứng đờ như một khúc gỗ bị phơi nắng quá lâu, tôi buộc phải lên tiếng.

“Ông ta có thể đã nhiễm uốn ván,” tôi nói bằng thứ tiếng An Nam vụng về, phải nhờ thông ngôn lặp lại. “Hàm co cứng, cơ giật không kiểm soát, phản xạ đau dữ dội. Nếu không được tiêm huyết thanh, ông ta sẽ chết. Đây là nhiễm khuẩn từ cái xá/c của ông cụ.”

Lời tôi rơi xuống căn phòng như một hòn sỏi ném vào đống tro nguội.

Chẳng ai tin cả.

Những ánh mắt nhìn tôi không phải thù địch, mà là thương hại, thứ thương hại dành cho kẻ mù đứng trước bàn thờ. Người vợ của Monsieur Lễ thì thầm rằng chồng bà đã xúc phạm người chết, đã làm ô uế thân x/ác phụ thân, nên vo/ng linh nổi giận. Một người cậu họ khẳng định đã thấy bóng đen đứng ở chân giường từ lúc rạng sáng. Tin đồn sinh sôi nhanh hơn bất kỳ loại vi khuẩn nào tôi từng quan sát dưới kính hiển vi.

Đến lúc ấy, tôi hiểu rằng khoa học không có chỗ trong căn nhà này.

Nhưng chính trị thì có.

Tối hôm đó, khi gia nhân bận rộn treo bùa và rải gạo muối dọc hành lang, tôi kéo Oger sang một góc sân, nơi mùi nhang khói còn chưa lan tới.

“Tôi không quan tâm hắn tin vào quỷ hay vào Chúa,” tôi nói khẽ, “nhưng hắn là chánh văn phòng Phủ Thống sứ.”

Oger gật đầu. Ông ta đã hiểu ngay điều tôi không cần nói tiếp.

Monsieur Lễ không chỉ là một người con hiếu thảo bệnh hoạn. Hắn là công cụ để lệnh của người Pháp chảy vào bộ máy bản xứ, là bàn tay sắp xếp giấy tờ, ngân sách, nhân sự, Hắn quá hữu dụng để chết một cách lố bịch thế này.

Nếu hắn chết vì “vo/ng nhập”, tin đồn ấy sẽ lan ra ngoài hàng rào căn nhà này, vượt qua phố phường, vào chợ, vào đình làng, vào tai những kẻ vốn đã tin rằng chúng tôi chỉ là lũ ngoại bang yếu đuối trước thế giới vô hình của họ.

Điều đó sẽ là một tai tiếng cực lớn, như cách Oger gọi.

Còn tôi gọi thẳng hơn: một sự sỉ nhục Quốc Mẫu.

Ngay trong đêm, tôi gửi điện khẩn về Phủ Thống sứ, yêu cầu cung cấp huyết thanh kháng uốn ván mới nhất từ kho quân y Hải Phòng, cùng morphine và phenol để sát trùng. Tôi ký tên mình dưới văn bản như ký vào một lệnh cưỡng chế.

Sáng hôm sau, khi tôi trở lại phòng bệnh, trước cửa đã dựng một bàn lễ mới: đầu lợn luộc, rượu trắng, bùa vàng và một thanh kiếm gỗ đào.

Pháp sư đã tới.

Gia đình chấp nhận thuốc của tôi, nhưng không phải vì tin tôi.

Họ chấp nhận vì con dấu của Phủ Thống sứ đóng đỏ trên tờ lệnh hỏa tốc (và một dòng ghi chú rõ ràng mang tính de dọa)

Tôi tiêm cho Monsieur Lễ trong khi bên kia bức bình phong, pháp sư gõ mõ, lắc chuông và gọi tên những linh hồn lạ.

Khoa học và mê tín cùng tồn tại trong một căn phòng.

Nhưng chỉ một trong hai được tin tưởng. Và đáng sợ thay, thứ nào cũng có thực.

Buổi lễ được tổ chức trong sân trong của nhà họ Lễ, một khoảng đất hình vuông bị bốn dãy nhà gỗ cao vây kín, ánh nắng chỉ rơi xuống được đúng một khoảnh nhỏ ở giữa, như một miếng kim loại nung đỏ đặt dưới đáy giếng. Chỉ có mười ba người được phép hiện diện: một pháp sư chính mặc áo nâu sậm tay cầm chuông đồng; hai phụ lễ trẻ, trần chân, cầm trống và bó nhang lớn; bốn người thân trực hệ của Monsieur Lễ gồm mẹ, vợ, một người cô và một người chú họ; hai gia nhân lực lưỡng để giữ thân thể nếu cần; viên thông ngôn; tôi; và Oger. Không một ai khác.

Monsieur Lễ được đặt nằm trên một chiếc phản gỗ thấp giữa sân, đúng vào vùng nắng. Áo ông ta đã được cởi bỏ một nửa, để lộ lồng ngực gầy gò phập phồng yếu ớt. Mùi phenol và mồ hôi trộn lẫn trong không khí nóng nực. Mũi tiêm của tôi đã làm việc của nó: ông ta bất động, đôi mắt khép hờ, hàm thôi co cứng, thân thể rũ xuống như một con rối bị cắt dây. Với tôi, đó là dấu hiệu tích cực hiếm hoi, nhưng với họ ông ta đang bị vo/ng nhập.

Pháp sư bước ra giữa sân, đứng đối diện với Monsieur Lễ và rung chuông: một tiếng, rồi hai. Âm thanh kim loại khô khốc vang lên, bật vào vách gỗ, dội ngược trở lại, chồng lên chính nó. Hai phụ lễ bắt đầu đánh trống, lúc đầu chậm, rồi nhanh dần. Những câu kinh bật ra từ cổ họng pháp sư như tiếng đá cọ vào nhau dưới nước, rời rạc, đứt quãng, không theo bất kỳ ngữ điệu nào tôi từng nghe.

Và rồi Monsieur Lễ giật nhẹ, ngón tay co lại. Tôi nghiêng người về phía trước theo bản năng nghề nghiệp, lẩm bẩm: “Phản xạ thần kinh…”. Nhưng ngay sau đó cánh tay ông ta giật mạnh, lưng cong lên, gót chân đập xuống mặt phản một tiếng khô khốc. “Thuốc đã quá muộn…” tôi thốt ra, song không ai nghe. Trống dồn dập hơn, chuông rung loạn, kinh được đọc to và gấp gáp, như thể người ta đang cố hét át tiếng th/ịt và xư/ơng đang chống cự lại cái chết.

Monsieur Lễ co giật dữ dội, cả người cong lên thành một vòng cung quái dị, chỉ còn gáy và gót chân chạm gỗ. Miệng há ra nhưng không thành tiếng, nước dãi trào ra trắng đục. Người vợ gào khóc, quỳ rạp xuống đất; người mẹ thì đập đầu vào nền gạch, lặp đi lặp lại một câu mà tôi không hiểu. Tôi bước lên một bước thì viên thông ngôn chộp lấy cánh tay tôi, siết chặt, thì thào với gương mặt trắng bệch: “Không được! Ngài mà chạm vô… là giết ông ấy.” Tôi gằn giọng: “Ông ta đang chết!” Hắn lắc đầu như một kẻ đã nhìn thấy trước kết cục từ lâu. “đừng can dự vào…tôi xin Ngài”

Ngay lúc đó, một cơn gió thổi qua sân. Không giống gió nóng thông thường của buổi trưa, nó là một luồng lạnh khô đột ngột, như thể ai đó vừa mở cửa một hầm mộ dưới lòng đất. Nhang tắt phụt, lửa đèn dầu rung mạnh, trống khựng lại trong nửa nhịp. Thân thể Monsieur Lễ cứng đờ hoàn toàn, cong người trong tư thế phi nhân như một bức tượng bị đúc vội, rồi từ từ sụp xuống, mềm oặt, như một cái áo rỗng bị ném xuống đất.

Pháp sư dừng chuông, đứng thở dốc, mồ hôi chảy thành dòng trên thái dương. “Đi rồi,” ông ta nói khẽ. Không ai trong số những người ở đây dám hỏi thứ gì đã “đi rồi”

Gia đình lao vào, khóc, lay gọi, đỡ thân thể ông Lễ.

Oger vẫn đứng một góc, cây bút chì di chuyển đều đều trên cuốn sổ, gương mặt không biểu lộ gì ngoài một vẻ tập trung lạnh lẽo gần như vô đạo đức.

Tôi lùi lại một bước.

Và rồi tôi thấy cô gái đứng trong bóng tối của gian nhà tổ, phía đối diện tôi. Cô mặc đồ ta/ng trắng từ đầu đến chân, thân hình rất mảnh, rất gầy, hai tay buông thõng, đang nhìn tôi không chớp mắt. Ban đầu tôi nghĩ đó là con cháu trong nhà – một điều bình thường – nhưng rồi tôi nhận ra từ sáng tới giờ không một ai ở đây mặc đồ ta/ng: tất cả đều mặc áo sẫm, áo thường hoặc lễ phục.

Và đôi mắt ấy không phải là màu đen láy mà trông như như hai lỗ kho/an sâu vào khuôn m/ặt, nó không có sự sống, chỉ là hai khoảng trống hút lấy ánh nhìn sợ hãi của tôi.

Tôi không cử động được. Một ý nghĩ, không đến từ kiến thức y khoa mà đến từ một bản năng cổ xưa hơn tồn tại trong tôi…nó nói với tôi rằng cái thứ đứng trong gian nhà ấy không thuộc nền văn minh khai sáng, mà đến từ bí ẩn của một vùng đất cổ xưa mà chúng tôi đang cố gắng chiếm lấy.

Cô gái biến mất ngay sau cú dụi mắt của tôi.

Kết quả, ít nhất trên bề mặt, là thuận lợi. Cơn co giật của Monsieur Lễ không tái phát sau đêm ấy. Nhiệt độ hạ dần. Vết cứng hàm lỏng ra. Ba ngày sau, ông ta có thể nuốt cháo loãng; đến ngày thứ năm thì ngồi dậy được, tuy còn yếu và tránh ánh nắng như một kẻ vừa bước ra khỏi hầm mỏ. Gia đình tuyên bố vo/ng đã rời đi, nghiệp đã được hóa giải, dòng họ thoát nạn. Pháp sư được hậu đãi.

Chẳng ai nhắc đến liều thuốc kịp thời của Thống Sứ, nhưng chúng tôi nhận định rằng: không nên đào sâu khi mọi thứ đã trở nên yên ổn.

Oger vẫn miệt mài viết tiếp về phong tục của An Nam, riêng tôi thì không muốn tham gia vào việc này nữa.

“Tôi chỉ làm việc của tôi thôi” Oger trả lời khi tôi bày tỏ ý định không tham gia cùng anh ta nữa.

“Nhưng tôi đã thấy một thứ kỳ lạ, có lẽ tôi bị say nắng hoặc do căng thẳng nhưng ít nhất tôi có trách nhiệm nói cho anh biết thứ tôi đã thấy” tôi nói, mà không dám đề cập thẳng vấn đề.

Oger mở to mắt hệt như lúc anh ta thấy Monsieur Lễ liếm quan tài.

“anh đang định nói đến cô gái mặc đồ ta/ng à” tôi tưởng chỉ có tôi thấy thôi chứ!

“anh cũng thấy à” vậy ra chỉ là một cô gái mà ai cũng thấy.

“đúng vậy, tôi thấy cô ta khá kì lạ, tôi cũng đã hỏi một số gia nhân và vợ của Monsieur Lễ. Họ thề với tôi là không có ai khác tham gia buổi lễ cả và bên ngoài được canh phòng rất cẩn mật”

Cuộc trò chuyện rơi vào khoảng không im lặng. Chỉ có tôi và Oger nhìn nhau, câm lặng ngay giữa vùng đất An Nam bí ẩn này.

RL4WDn3GH9v.jpg

Văn hóa ngàn năm chuẩn vị của xứ bắc :vozvn (20):
 

Có thể bạn quan tâm

Top