Có Hình Người Việt Nam qua góc nhìn nhà Minh TQ

đi bốc vác đi, dm thiểu số đòi đồng hóa ngược, trừ khi đồ sát nhé thằng ml, dân cu li bày đặt nói chuyện
Vd là dân giao chỉ ta đã đồng hóa hán tộc sau 1k năm bị đô hộ
Tiếng hán gốc là tiếng giao chỉ , văn minh lúa nước tết nguyên đán trung thu cũng từ giao chỉ , chữ tượng hình của của vn ta phát minh
 
Vậy ý mày là dân Nghệ Tĩnh này, trong khi chiếm đa số áp đảo dân bản địa, lại bị lai đến nỗi đổi giọng?
Sao tư duy mày dốt vậy?
Bị đổi giọng đến mức đó chứng tỏ chỉ là thiểu số so với bản địa.
Như tao đã nói ở trên, dân miền Nam là pha trộn nhiều dân tộc.
Với các chính sách của nhà Nguyễn thì dân bản địa hoà vào tự đồng hoá thành Kinh tộc.
Ok chưa?
Cuộc hoà huyết vĩ đại của chúa Nguyễn là điều đéo bàn cãi nữa. TNT + Bake tù tội hoà huyết với Chăm,Chiêm, Ấn, Nhật, Cao Ly, Tây Ban Nha, Pháp… Nó thành 1 sắc dân đặc biệt đéo liên quan Lồn gì đến Bake nữa. Đặc trưng nhất của việc hoà huyết là dân Ngũ Quảng, cực giỏi nghề biển. Vốn là nghề của dân Chiêm.
 
Thì sao? Nói đúng đéo được nói to à? Nake cay à? Nói sai thì cắn nói đúng thì đánh trống lảng?
=))
Mày rặn thử hộ tao 3 lý do cực kì thuyết phục khiến họ phải cay khi họ vẫn bảo tồn được ngôn ngữ (cả nói lẫn viết), trang phục cổ truyền và tôn giáo đặc trưng của họ
=))
 
Mày rặn thử hộ tao 3 lý do cực kì thuyết phục khiến họ phải cay khi họ vẫn bảo tồn được ngôn ngữ (cả nói lẫn viết), trang phục cổ truyền và tôn giáo đặc trưng của họ
=))
Mày rặn thử hộ tao 3 lý do cực kì thuyết phục khiến họ phải cay khi họ vẫn bảo tồn được ngôn ngữ (cả nói lẫn viết), trang phục cổ truyền và tôn giáo đặc trưng của họ
=))
Bảo tồn cái Lồn. Giờ còn thg nake nào nói tiếng Chiêm ko tml :))
 

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
cái đậu mớ, thì ra là dân tộc tính rồi, đéo mẹ

Thời đó thì thằng đéo nào mà chả mọi. Thế giờ nhìn thanh thủy, bảo ngọc, thuỵ vân có nứng ko :vozvn (13):
Kèn đâu Na, cho cháu nó ngay @Hoàng Tử DiNa
 
  • Vodka
Reactions: TUG

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
Cái này giống tính Bake nè.
Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
 
Bảo tồn cái lồn. Giờ còn thg nake nào nói tiếng Chiêm ko tml :))
Phương ngữ Nam Kỳ ngay cả ở miền Đông cũng có cả rổ từ có gốc Chăm nhé con zai
:))

*Danh từ riêng chỉ địa danh

Thủ Đức
: Nguồn gốc là từ Chăm Kahuw-đăk hoặc vùng đất liên quan đến dòng nước (chữ Đăk/Iak nghĩa là nước, sông).

Cần Giờ: Nguồn gốc là từ Chăm cổ Kan-gơw, dùng để chỉ rặng bần hoặc vùng ngập mặn ven biển.
Bà Rịa: Bắt nguồn từ tên của người phụ nữ Chăm có công khai phá hoặc vùng đất Chơ-rêa cổ của người bản địa.

Lái Thiêu (Bình Dương cũ): Chữ Thiêu được một số nhà ngôn ngữ học nhận định bắt nguồn từ gốc Thun hoặc Thia trong tiếng Chăm chỉ một vùng gò cao hoặc bến sông cổ.

*Các từ dân dã đời sống

Tía - Dú
: Cặp từ chỉ cha - mẹ từng được sử dụng rộng rãi ở Đông Nam Bộ trước đây. Trong đó, chữ Dú (mẹ) bắt nguồn trực tiếp từ chữ Du/Aduon (mẹ/bà) của người Chăm.

Cà chớn / Cà lửng: Các từ có tiền tố "cà" chỉ trạng thái, tính cách dở dở ương ương bắt nguồn từ cách ghép tiền tố nhược hóa tăk- / kăk- trong ngữ hệ Nam Đảo (tiếng Chăm).

Chà Và: Dùng để gọi những người có gốc gác Nam Đảo/Ấn Độ tại các khu chợ cổ Sài Gòn - Chợ Lớn (bắt nguồn từ chữ Java.

Ngoài ra còn một số từ vựng có gốc tiếng Chăm từ Trung & Nam Kỳ đã trở thành một từ ngữ tiếng Việt phổ thông

Măng cụt: Bắt nguồn từ chữ manggut (hoặc manggistan từ gốc Mã Lai/Nam Đảo qua tiếng Chăm).

Cá lòng tong: Loài cá nước ngọt nhỏ, bắt nguồn từ gốc từ ratǒng/ritǒng. Từ này xuất hiện rộng rãi trong đời sống, phim ảnh và các thực đơn món ăn trên toàn quốc.

Chè xanh: Từ chè (để chỉ cây trà) được nhiều nhà ngôn ngữ học xác định có liên quan chặt chẽ đến gốc từ Nam Đảo/Chăm cổ, vốn dùng để chỉ các loại lá nấu nước uống sau này lan tỏa ra Bắc Kỳ thành từ toàn dân bên cạnh từ "trà"

Cù lao: Bắt nguồn từ chữ pulo hoặc pulau (nghĩa là đảo/hòn đảo trong ngữ hệ Nam Đảo và tiếng Chăm). Ban đầu chỉ dùng ở miền Trung và miền Nam để chỉ dải đất nổi lên giữa sông/biển, bây giờ từ này nằm trong sách giáo khoa địa lý và được toàn dân sử dụng rộng rãi.

Ghe / Xuồng: Các từ này có dấu ấn rất sâu đậm của ngữ hệ Nam Đảo (Chăm cổ). Ban đầu Bắc Kỳ chủ yếu dùng từ thuyền hoặc đò. Qua quá trình giao thương đường biển và đường sông, từ ghe, xuồng đã dịch chuyển ra Bắc Kỳ và có mặt trong vốn từ của mọi người Việt.
 
Phương ngữ Nam Kỳ ngay cả ở miền Đông cũng có cả rổ từ có gốc Chăm nhé con zai
:))

*Danh từ riêng chỉ địa danh

Thủ Đức
: Nguồn gốc là từ Chăm Kahuw-đăk hoặc vùng đất liên quan đến dòng nước (chữ Đăk/Iak nghĩa là nước, sông).

Cần Giờ: Nguồn gốc là từ Chăm cổ Kan-gơw, dùng để chỉ rặng bần hoặc vùng ngập mặn ven biển.
Bà Rịa: Bắt nguồn từ tên của người phụ nữ Chăm có công khai phá hoặc vùng đất Chơ-rêa cổ của người bản địa.

Lái Thiêu (Bình Dương cũ): Chữ Thiêu được một số nhà ngôn ngữ học nhận định bắt nguồn từ gốc Thun hoặc Thia trong tiếng Chăm chỉ một vùng gò cao hoặc bến sông cổ.

*Các từ dân dã đời sống

Tía - Dú
: Cặp từ chỉ cha - mẹ từng được sử dụng rộng rãi ở Đông Nam Bộ trước đây. Trong đó, chữ Dú (mẹ) bắt nguồn trực tiếp từ chữ Du/Aduon (mẹ/bà) của người Chăm.

Cà chớn / Cà lửng: Các từ có tiền tố "cà" chỉ trạng thái, tính cách dở dở ương ương bắt nguồn từ cách ghép tiền tố nhược hóa tăk- / kăk- trong ngữ hệ Nam Đảo (tiếng Chăm).

Chà Và: Dùng để gọi những người có gốc gác Nam Đảo/Ấn Độ tại các khu chợ cổ Sài Gòn - Chợ Lớn (bắt nguồn từ chữ Java.

Ngoài ra còn một số từ vựng có gốc tiếng Chăm từ Trung & Nam Kỳ đã trở thành một từ ngữ tiếng Việt phổ thông

Măng cụt: Bắt nguồn từ chữ manggut (hoặc manggistan từ gốc Mã Lai/Nam Đảo qua tiếng Chăm).

Cá lòng tong: Loài cá nước ngọt nhỏ, bắt nguồn từ gốc từ ratǒng/ritǒng. Từ này xuất hiện rộng rãi trong đời sống, phim ảnh và các thực đơn món ăn trên toàn quốc.

Chè xanh: Từ chè (để chỉ cây trà) được nhiều nhà ngôn ngữ học xác định có liên quan chặt chẽ đến gốc từ Nam Đảo/Chăm cổ, vốn dùng để chỉ các loại lá nấu nước uống sau này lan tỏa ra Bắc Kỳ thành từ toàn dân bên cạnh từ "trà"

Cù lao: Bắt nguồn từ chữ pulo hoặc pulau (nghĩa là đảo/hòn đảo trong ngữ hệ Nam Đảo và tiếng Chăm). Ban đầu chỉ dùng ở miền Trung và miền Nam để chỉ dải đất nổi lên giữa sông/biển, bây giờ từ này nằm trong sách giáo khoa địa lý và được toàn dân sử dụng rộng rãi.

Ghe / Xuồng: Các từ này có dấu ấn rất sâu đậm của ngữ hệ Nam Đảo (Chăm cổ). Ban đầu Bắc Kỳ chủ yếu dùng từ thuyền hoặc đò. Qua quá trình giao thương đường biển và đường sông, từ ghe, xuồng đã dịch chuyển ra Bắc Kỳ và có mặt trong vốn từ của mọi người Việt.
Vãi Lồn dùng chatgpt thủ dâm được mấy từ ngạo nghễ vkl :)) trong khi chữ viết bị Đại Việt đồng hoá sạch thì đéo thấy nói gì

Giờ t nói nake bị bake bắt nạt đó. Sai chỗ nào thì còm tiếp ko thì tắt văn đi
 
Vãi lồn dùng chatgpt thủ dâm được mấy từ ngạo nghễ vkl :)) trong khi chữ viết bị Đại Việt đồng hoá sạch thì đéo thấy nói gì

Giờ t nói nake bị bake bắt nạt đó. Sai chỗ nào thì còm tiếp ko thì tắt văn đi
m cãi nhau với thằng mọi miên chiêm thành làm gì cho mất thời gian m, nó nhận nó gốc chiêm thành thì cứ cho nó nhận đi, cãi với thằng ngu thì khiến bản thân m ngu theo nói thôi hehehe,như kiểu m học giỏi đi chơi cùng đám học dốt thì về học hành lol gì nữa, thằng này qua cãi nhau với t t chửi luôn r, éo cãi gì nữa éo quan tâm nó làm gì,,
 
Vd là dân giao chỉ ta đã đồng hóa hán tộc sau 1k năm bị đô hộ
Tiếng hán gốc là tiếng giao chỉ , văn minh lúa nước tết nguyên đán trung thu cũng từ giao chỉ , chữ tượng hình của của vn ta phát minh
kaka, tấm gương ít đồng hóa được nhiều là mỹ mặt lol đấy, nó đồng hóa đến nỗi người da đỏ h còn trong viện bảo tàng thôi
:))
 
Cuộc hoà huyết vĩ đại của chúa Nguyễn là điều đéo bàn cãi nữa. TNT + Bake tù tội hoà huyết với Chăm,Chiêm, Ấn, Nhật, Cao Ly, Tây Ban Nha, Pháp… Nó thành 1 sắc dân đặc biệt đéo liên quan lồn gì đến Bake nữa. Đặc trưng nhất của việc hoà huyết là dân Ngũ Quảng, cực giỏi nghề biển. Vốn là nghề của dân Chiêm.
nó éo phải hòa huyết, nói thẳng nó là áp đặt, đồ sát, chứ hòa huyết thì éo thể nào ko giữ bản sắc và dân thì còn 1 nhúm h thành dân tộc thiểu số, dm nó đồ sát nó áp đặt đuổi cùng diệt tận, ko chịu dc thì cút chứ hòa huyết cái gì,còn bảo dân ngũ quảng giỏi nghề biển, thì dm m mạnh m là thằng chiếm thành, m lùa dân vào chiếm đất, bắt bọn kia làm nô lệ, bắt những thợ thuyền giỏi và bắt truyền nghề thì dân mình tự giỏi thôi,
 

Có thể bạn quan tâm

Top