Có Hình Người Việt Nam qua góc nhìn nhà Minh TQ

TUG

Con chim biết nói
Vatican-City

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
 

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
Tổ tiên của Páo @TUG
 

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
Lúc đó dân An Nam có ăn Pịa ko nhỉ
 

Sách “Tam Tài Đồ Hội” (三才圖會) là một bộ từ điển bách khoa toàn thư do hai cha con Vương Kỳ (王圻) và Vương Tư Nghĩa (王思义) xuất bản trong giai đoạn từ năm 1607-1609 tức thời Vạn Lịch Đế nhà Minh. Sách gồm 106 tập, chia làm 14 phần, 3 phần đầu do cha là Vương Kỳ viết, 11 phần sau do con trai là Vương Tư Nghĩa viết. Nội dung sách rất rộng và phong phú, thể hiện thế giới quan của một bộ phận người Minh về thế giới xung quanh lúc bấy giờ.
Trong tập 37-có một đoạn miêu tả về người Việt Nam như sau:
“Giao Chỉ, còn gọi là An Nam. Dân nước ấy là dị chủng do giống vượn núi chó rừng sinh ra.
Tính gian xảo. Tóc ngắn, chân trần, mắt sâu, miệng vẩu, xấu xí; kẻ cao lớn thì là di mọi. Ra hình người thì là hậu nhân Mã Viện.
Tục nước đó, cha con không chung nhà, nấu không chung bếp, cưới nhau không qua mai mối. Trai gái lấy nhau, lấy trầu cau làm tin, rồi theo nhau về nhà. Nhược bằng, vợ người này tư thông người kia, thì (vợ) bỏ chồng cũ, chồng cũ lấy vợ mới.

Nước ấy cạnh Chiêm Thành, dân nước ấy làm lao dịch cho Chiêm Thành, hàng năm nộp thuế. Đàn ông thích làm trộm cướp, đàn bà thích sự dâm loàn.
Từ Hán, Trung Quốc cai trị xứ đó, đặt quận huyện, lập Giao Châu thứ sử đứng đầu. Từ thời Đông Hán, Phục Ba tướng quân Mã Viện đã bình định, tới Ngũ Đại thì Ngô Xương Văn tự xưng vương. Các đời sau bắt chước theo. Qua bao đời tính mọi không đổi
Dm, cái câu chốt chí mạng thật, nhưng quá quá đúng.
 
Mã viện thống lĩnh tây lương thiết kỵ cày nát lước nam, trong tây lương thiết kỵ cũng có nhiều binh sĩ người khương, tao nghĩ dân vịt cũng có gốc gác từ người khương vì bọn khương đi đâu cũng cướp hiếp. Cháu của mã viện là mã siêu là công thần nhà thục. Lưu hoàng thúc phải có trách nhiệm với lước nam ta
 
thời đó đông nam á thằng éo nào chả mọi, như nhau cả thôi, mấy thằng tàu thì tùy vùng cũng khác éo gì nhau, mọi rợ cả,
 
Hai cha con này chắc cũng nghe truyền miệng rồi ra sách chứ hay ho gì
Cần phải có cái nhìn khách quan hơn từ giới tri thức đã tiếp xúc, hoặc cai trị dân An Nam
Có thể tham khảo cuốn "Tâm lý dân tộc An Nam", đây là cuốn sách để phục vụ cho việc “hiểu dân tộc để cai trị hiệu quả”. Quan điểm của Paul Giran (1904) mặc dù có nhiều góc nhìn một chiều, phục vụ mục đích thuộc địa nhưng t thấy đúng

Ngoại hình:
  • Chiều cao trung bình: Khoảng 160 cm ở nam giới và 150 cm ở nữ giới.
  • Trọng lượng cơ thể: Trung bình khoảng 55 kg ở nam giới và 45 kg ở nữ giới
  • Đầu và khuôn mặt: Đầu rộng ngắn; trán thấp và dô ra; gò má cao; mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng; lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen; mũi bẹt phần phía dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa; môi dày.
  • Cơ lực không mạnh: cần nhiều người An Nam để làm việc nặng mà người Âu làm dễ dàng

Tính cách: tao thấy có khen, nhưng chê nhiều hơn
a) Khen: Hòa bình, cần cù, tiết kiệm, thông minh, cẩn thận, không bỏ qua cơ hội, giỏi bắt chước, bền bỉ trong lao động (đặc biệt chịu nóng tốt nhờ yếu tố Mã Lai), siêng năng (nhưng uể oải nếu không có nhu cầu cấp thiết)
b) Chê:
  • Bảo thủ, thiếu sáng kiến, thiếu sáng tạo, tầm nhìn ngắn, nhu cầu đơn điệu.
  • Lười nhác / chây ỳ (lao động uể oải, chỉ làm đủ ăn, không đổi mới).
  • Dửng dưng, vô cảm, lãnh đạm: Ít đồng cảm với nỗi đau người khác, tàn nhẫn lạnh lùng (có thể thực hiện tra tấn, hình phạt man rợ mà không bị lay động).
  • Dễ nổi nóng, hung bạo (tính bạo lực trong chinh phạt, hình phạt).
  • Thiếu ý chí nghị lực mạnh, tinh thần “bầy đàn”, dễ bị dẫn dắt, dễ yêu thương cả người cai trị.
  • Trí tưởng tượng nghèo nàn, trí tuệ trung bình, thực tế gò bó.
Cái dửng dưng là cái tao thấy chuẩn nhất
 
Hai cha con này chắc cũng nghe truyền miệng rồi ra sách chứ hay ho gì
Cần phải có cái nhìn khách quan hơn từ giới tri thức đã tiếp xúc, hoặc cai trị dân An Nam
Có thể tham khảo cuốn "Tâm lý dân tộc An Nam", đây là cuốn sách để phục vụ cho việc “hiểu dân tộc để cai trị hiệu quả”. Quan điểm của Paul Giran (1904) mặc dù có nhiều góc nhìn một chiều, phục vụ mục đích thuộc địa nhưng t thấy đúng

Ngoại hình:
  • Chiều cao trung bình: Khoảng 160 cm ở nam giới và 150 cm ở nữ giới.
  • Trọng lượng cơ thể: Trung bình khoảng 55 kg ở nam giới và 45 kg ở nữ giới
  • Đầu và khuôn mặt: Đầu rộng ngắn; trán thấp và dô ra; gò má cao; mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng; lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen; mũi bẹt phần phía dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa; môi dày.
  • Cơ lực không mạnh: cần nhiều người An Nam để làm việc nặng mà người Âu làm dễ dàng

Tính cách: tao thấy có khen, nhưng chê nhiều hơn
a) Khen: Hòa bình, cần cù, tiết kiệm, thông minh, cẩn thận, không bỏ qua cơ hội, giỏi bắt chước, bền bỉ trong lao động (đặc biệt chịu nóng tốt nhờ yếu tố Mã Lai), siêng năng (nhưng uể oải nếu không có nhu cầu cấp thiết)
b) Chê:
  • Bảo thủ, thiếu sáng kiến, thiếu sáng tạo, tầm nhìn ngắn, nhu cầu đơn điệu.
  • Lười nhác / chây ỳ (lao động uể oải, chỉ làm đủ ăn, không đổi mới).
  • Dửng dưng, vô cảm, lãnh đạm: Ít đồng cảm với nỗi đau người khác, tàn nhẫn lạnh lùng (có thể thực hiện tra tấn, hình phạt man rợ mà không bị lay động).
  • Dễ nổi nóng, hung bạo (tính bạo lực trong chinh phạt, hình phạt).
  • Thiếu ý chí nghị lực mạnh, tinh thần “bầy đàn”, dễ bị dẫn dắt, dễ yêu thương cả người cai trị.
  • Trí tưởng tượng nghèo nàn, trí tuệ trung bình, thực tế gò bó.
Cái dửng dưng là cái tao thấy chuẩn nhất
Tao xấu hổ quá
 

Có thể bạn quan tâm

Top