Phương ngữ Nam Kỳ ngay cả ở miền Đông cũng có cả rổ từ có gốc Chăm nhé con zai
*Danh từ riêng chỉ địa danh
Thủ Đức: Nguồn gốc là từ Chăm Kahuw-đăk hoặc vùng đất liên quan đến dòng nước (chữ
Đăk/Iak nghĩa là nước, sông).
Cần Giờ: Nguồn gốc là từ Chăm cổ Kan-gơw, dùng để chỉ rặng bần hoặc vùng ngập mặn ven biển.
Bà Rịa: Bắt nguồn từ tên của người phụ nữ Chăm có công khai phá hoặc vùng đất Chơ-rêa cổ của người bản địa.
Lái Thiêu (Bình Dương cũ): Chữ Thiêu được một số nhà ngôn ngữ học nhận định bắt nguồn từ gốc Thun hoặc Thia trong tiếng Chăm chỉ một vùng gò cao hoặc bến sông cổ.
*Các từ dân dã đời sống
Tía - Dú: Cặp từ chỉ cha - mẹ từng được sử dụng rộng rãi ở Đông Nam Bộ trước đây. Trong đó, chữ Dú (mẹ) bắt nguồn trực tiếp từ chữ Du/Aduon (mẹ/bà) của người Chăm.
Cà chớn / Cà lửng: Các từ có tiền tố "cà" chỉ trạng thái, tính cách dở dở ương ương bắt nguồn từ cách ghép tiền tố nhược hóa tăk- / kăk- trong ngữ hệ Nam Đảo (tiếng Chăm).
Chà Và: Dùng để gọi những người có gốc gác Nam Đảo/Ấn Độ tại các khu chợ cổ Sài Gòn - Chợ Lớn (bắt nguồn từ chữ Java.
Ngoài ra còn một số từ vựng có gốc tiếng Chăm từ Trung & Nam Kỳ đã trở thành một từ ngữ tiếng Việt phổ thông
Măng cụt: Bắt nguồn từ chữ
manggut (hoặc
manggistan từ gốc Mã Lai/Nam Đảo qua tiếng Chăm).
Cá lòng tong: Loài cá nước ngọt nhỏ, bắt nguồn từ
gốc từ ratǒng/ritǒng. Từ này xuất hiện rộng rãi trong đời sống, phim ảnh và các thực đơn món ăn trên toàn quốc.
Chè xanh: Từ chè (để chỉ cây trà) được nhiều nhà ngôn ngữ học xác định có liên quan chặt chẽ đến gốc từ Nam Đảo/Chăm cổ, vốn dùng để chỉ các loại lá nấu nước uống sau này lan tỏa ra Bắc Kỳ thành từ toàn dân bên cạnh từ "trà"
Cù lao: Bắt nguồn từ chữ
pulo hoặc
pulau (nghĩa là đảo/hòn đảo trong ngữ hệ Nam Đảo và tiếng Chăm). Ban đầu chỉ dùng ở miền Trung và miền Nam để chỉ dải đất nổi lên giữa sông/biển, bây giờ từ này nằm trong sách giáo khoa địa lý và được toàn dân sử dụng rộng rãi.
Ghe / Xuồng: Các từ này có dấu ấn rất sâu đậm của ngữ hệ Nam Đảo (Chăm cổ). Ban đầu Bắc Kỳ chủ yếu dùng từ thuyền hoặc đò. Qua quá trình giao thương đường biển và đường sông, từ ghe, xuồng đã dịch chuyển ra Bắc Kỳ và có mặt trong vốn từ của mọi người Việt.