[Nikkei Asia ngày 09/9/2026]
Tham vọng trở thành trung tâm tài chính của Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý lâu đời của châu Á.
Quốc gia này cần học hỏi từ cuộc khủng hoảng năm 1997 của Thái Lan khi hướng tới mục tiêu xây dựng một trung tâm toàn cầu.
---
Quyết định xây dựng trung tâm tài chính quốc tế trải dài từ Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đến Đà Nẵng của Việt Nam thường được xem là động thái bắt kịp. Singapore có các ngân hàng. Hồng Kông có thị trường vốn. Dubai có các nhà đầu tư toàn cầu. Tại sao lại để lợi nhuận tài chính từ nền kinh tế đang bùng nổ của Việt Nam bị chiếm đoạt ở nơi khác?
Nếu lập luận đằng sau Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) nghe có vẻ quen thuộc, đó là vì nó đúng là như vậy.
Vào đầu những năm 1990, Thái Lan đã có những động thái tương tự. Đó là một cường quốc sản xuất, nhưng hoạt động trung gian tài chính của khu vực vẫn phụ thuộc vào Singapore và Hồng Kông. Trung tâm Ngân hàng Quốc tế Bangkok (BIBF), được thành lập năm 1993, được thiết kế rõ ràng để giành lại hoạt động kinh doanh đó. Công bằng mà nói, không có gì phi lý về BIBF vì bản thân hoạt động trung gian tài chính là một ngành đáng để nắm bắt.
Vấn đề là hệ thống tài chính có xu hướng phát triển theo hướng riêng của nó. BIBF có hai mục tiêu chính - cho phép các công ty Thái Lan tiếp cận nguồn đô la giá rẻ từ nước ngoài, và biến Bangkok thành một bên cho vay đối với phần còn lại của Đông Dương. Tuy nhiên, dòng vốn nước ngoài ngày càng vượt trội so với hoạt động cho vay trong khu vực vì các ngân hàng và tập đoàn Thái Lan nhận thấy việc vay đô la là điều không thể cưỡng lại khi đồng baht dường như được neo giữ vĩnh viễn.
Điều nhanh chóng xảy ra sau đó là sự bùng nổ tín dụng, bong bóng bất động sản và bảng cân đối kế toán mong manh. Như các nhà phân tích quen thuộc với cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 sẽ nhớ lại, tài chính tự do hóa, thanh khoản dồi dào và một nền kinh tế cần tín dụng có thể tương tác theo những cách khó lường.
Tham vọng lớn lao hiện nay của Việt Nam gần như giống hệt với Thái Lan. Mục tiêu bao quát của VIFC là nắm bắt thị phần lớn hơn trong tài chính toàn cầu để thúc đẩy tăng trưởng quốc gia. TP.HCM sẽ đóng vai trò là trung tâm tổng hợp trong khi Đà Nẵng là nơi đặt trụ sở của các công ty fintech và thực hiện các vai trò thử nghiệm khác.
Điểm khác biệt giữa Việt Nam và Thái Lan nằm ở cấu trúc thể chế. Sự thúc đẩy của Thái Lan gắn liền với việc tự do hóa tài khoản vốn sâu rộng. Việt Nam thận trọng hơn ở điểm này. Nước này duy trì kiểm soát chặt chẽ hơn đối với dòng vốn xuyên biên giới và tỷ giá hối đoái được quản lý thay vì tỷ giá gần như neo giữ như trước năm 1997 của Thái Lan, tạo cho nước này nhiều không gian hơn để điều chỉnh trình tự mở cửa.
Điểm mấu chốt là một trung tâm tài chính không nhất thiết phải nguy hiểm. Vay nợ nước ngoài cũng không phải là vấn đề khi nó được dùng để tài trợ cho các khoản đầu tư sản xuất chứ không phải các thương vụ đầu cơ. Bài học từ Thái Lan, và từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á rộng lớn hơn, không phải là "đừng bao giờ vay nợ nước ngoài". Thay vào đó, nó là việc hiểu rõ những loại tài chính được tự do hóa tạo ra cho bảng cân đối kế toán như thế nào, và xác định những rủi ro đi kèm.
Một mô hình hữu ích hơn nằm ở phía bắc. Trung Quốc đã quốc tế hóa Thượng Hải trong nhiều thập kỷ mà không cần mở cửa tài khoản vốn. Tiền nước ngoài được chào đón, nhưng các kênh và tốc độ dòng vốn vẫn được nhà nước giám sát chặt chẽ. Việt Nam dường như đang cố gắng làm điều tương tự, ngay cả khi các quan chức không diễn đạt theo cách đó. Thay vào đó, họ chỉ ra các ví dụ như cách tiếp cận quản lý theo luật chung của Dubai và Abu Dhabi, và nhấn mạnh việc kết hợp kinh nghiệm quốc tế với điều kiện địa phương.
Dù là Thượng Hải hay không, các trung tâm tài chính không phải là đồ nội thất. Tuy nhiên, chúng cần cung cấp cho nền kinh tế những gì nó cần.
Điều này đặt ra một giả định đáng được xem xét kỹ lưỡng. Việt Nam muốn có một trung tâm tài chính vì thiếu vốn, đó là điều chúng ta được biết. Nhưng điều này không hoàn toàn đúng. Việt Nam đã đầu tư với tỷ lệ khá cao và có nguồn tiết kiệm trong nước đáng kể. Vấn đề dai dẳng hơn của nước này là việc phân bổ vốn kém hiệu quả.
Một dấu hiệu rõ ràng là tỷ lệ vốn đầu tư trên sản lượng tăng thêm của Việt Nam – thước đo lượng vốn đầu tư cần thiết để tạo ra thêm một đơn vị tăng trưởng. Các báo cáo cho thấy tỷ lệ này đã tăng từ 7,6 trong giai đoạn 2016-2020 lên 8,5 trong giai đoạn 2021-2024. Nói cách khác, sản lượng tăng thêm lẽ ra phải đến từ việc đầu tư nhiều hơn lại không được như kỳ vọng.
Vì vậy, nếu Việt Nam chỉ cần thêm vốn, thì câu trả lời là thu hút thêm vốn. Nhưng nếu vốn được phân bổ chưa tối ưu, thì câu trả lời là cần có sự trung gian tốt hơn. Điều này bao gồm định giá rủi ro, thị trường vốn sâu rộng hơn, công khai thông tin, luật thế chấp và những vấn đề tương tự. Theo cách hiểu này, VIFC không phải là một máy rút tiền tự động (ATM). Nó là một phương tiện để cải thiện việc phân bổ vốn.
Tất nhiên, Việt Nam nhìn chung biết cần cải cách những gì. Họ chỉ thích làm điều đó một cách dần dần, khi điều kiện cho phép. Việc chỉ đạo bộ máy hành chính tự cải cách chỉ mang lại kết quả hạn chế. Nhưng nếu đưa các nhà quản lý tài sản quốc tế và các ngân hàng thương mại vào, thì một nhóm cử tri mới sẽ xuất hiện. Cuộc trò chuyện chuyển từ chủ đề "Bộ Tài chính nên tự cải cách" sang chủ đề "các nhà đầu tư quốc tế cho rằng những cải cách này là cần thiết".
Đó là chiến lược của Việt Nam: sử dụng hội nhập bên ngoài để tạo áp lực nội bộ. Sau đó, vạch ra ranh giới cho cuộc thử nghiệm. Trong bối cảnh VIFC, điều đó có nghĩa là biến TP.HCM thành cửa ngõ chính trong khi sử dụng Đà Nẵng làm nền tảng thử nghiệm. Quan trọng không kém, hãy theo dõi những điểm nghẽn xuất hiện, khắc phục chúng và mở rộng những gì hiệu quả ra toàn bộ nền kinh tế.
Nhưng chiến lược này cũng có nghịch lý riêng. Một trung tâm được xây dựng để cải thiện phân bổ vốn cũng có thể dễ dàng làm cho việc phân bổ kém hiệu quả trở nên tinh vi hơn. Các quan chức có thể bị quá tải khi các tập đoàn tìm kiếm nguồn vốn rẻ hơn, các nhà phát triển theo đuổi đòn bẩy và các nhà giao dịch khai thác những kẽ hở trong quy định.
Ranh giới giữa tài chính "quốc tế" và "nội địa" cũng có thể trở nên mờ nhạt rất nhanh, điều mà người Thái đã trải nghiệm vào những năm 1990. Các nhà quản lý Thái Lan đã phát hiện ra, một cách đáng tiếc, rằng chế độ tỷ giá hối đoái, các ưu đãi và hệ thống tín dụng trong nước tương tác theo những cách mà họ không thể lường trước hoặc quản lý được.
May mắn thay, Việt Nam có nhiều biện pháp kiểm soát và không gian chính sách hơn Thái Lan thời điểm đó. Nhưng kiểm soát trên giấy tờ không phải là kiểm soát trong thực tế.
Nói một cách thực tế hơn, bài kiểm tra thực sự không phải là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn đầu tư nước ngoài, có bao nhiêu ngân hàng hay bao nhiêu hoạt động kinh doanh được chuyển hướng từ các địa điểm khác. Mà chính là liệu Việt Nam có thu được nhiều sản lượng hơn từ nguồn vốn hiện có hay không. Nếu làm đúng điều đó, hội nhập sẽ dẫn đến năng suất bền vững. Nếu làm sai, Việt Nam sẽ xây dựng một đường ống lớn hơn mà không cải thiện được dòng chảy qua đó.
#blogok
---
(Theo Nikkei Asia)