Luận về anh em Diệm Nhu : k cần kẻ địch mạnh để sụp đổ, chánh trị ngu dốt đẩy nhân dân về phía đối lập

Thằng @Nguyễn Quang 01 bên trên còn nói Bảo Đại trực tiếp tuyên chọn và có ảnh hưởng đến tướng lãnh quân đội của Nước QGVN cơ mà. Thế mà lúc Diệm phế Bảo Đại lại chẳng có tướng tá nào đứng ra bảo vệ cho ngài? Chắc vì ngài tiếp tục thấy hạnh phúc vì làm công dân quốc gia độc lập hơn là vua của nước nô lệ Pháp :))
Thế mày có biết Bảo Đại là phe thân Pháp. Sau trận Điện Biên Phủ thì Pháp đéo còn lực, nên Mỹ mới nhảy vào. Lúc này quyền lực của Bảo Đại đéo còn nữa (Phe Bảo Hoàng thất thế, Tôn Thất Đính, người tiễn bố Diệm mày lên gặp Chúa là phe Bảo Hoàng đấy). =))

Thằng Diệm nhà mày bợ dái đúng chủ, là cái lúc Mỹ muốn nhúng tay vào. Nên Diệm được cất nhắc từ 1 thằng ất ơ lưu vong thân Vatican, về tới VN lên làm Thủ Tướng (Trước đấy đéo làm chức vụ con cặc gì hết, chỉ làm quan nhà Nguyễn) của chính quyền Bảo Đại (đang bên Pháp). =))

Bố Diệm nhà mày đéo tài giỏi con cặc gì đâu, leo rank bằng đầu gối đấy =))
 
ae diệm nhu t thấy ngu ở chỗ. Làm chính trị ko phải cứ bắt giết hiếp các phe phái khác rồi tập quyền là hay. Tập quyền mà ko tạo ra được lý do để dân nghe theo thì ăn cc là đúng. Tiếp theo lại đi chọn hình ảnh thiên chúa giáo làm đại diện dù lúc đó chỉ chiếm có 5% dân số. Thay vì vậy kéo bảy viễn, hòa hảo, cao đài về lập chính hiệp, chỉa mũi dùi về phía cơm sườn có phải ngon hơn ko. Làm chính trị phải biết dung hòa lại ích các phe, thằng sống tới chót mới là th khôn nhất
Mày biết nhà chùa hay che giấu cán bộ ko

Bảy viễn, hòa hảo, cao đài thì khác gì quân phiệt tự trị

Lúc đó tình thế rối ren cũng khó vl
 
Ngày 20/1/1955, Collins hoàn thành báo cáo về Ðông
Dương. Theo Collins, Ngô Đình Diệm là Thủ tướng
tốt nhất hiện có để lãnh đạo Việt Nam trong cuộc
chiến chống cộng nhưng ông hoàn toàn thất bại trong
việc thuyết phục Diệm mở rộng thành phần trong
Chính phủ của ông [ 10 , tr.54-57]. Ngày 27/1/1955,
Collins thuyết trình tại phiên họp thứ 234 của Hội
đồng An ninh Quốc gia dưới sự chủ trì của Eisen-
hower rằng cơ hội duy trì một miền Nam chống cộng
chỉ có 50%. Chính phủ Diệm trên thực tế chỉ còn là
Chính phủ của một người với hai cố vấn Ngô Đình
Nhu và Ngô Đình Luyện. Diệm thiếu khả năng hợp
tác với bất cứ ai ngoại trừ các anh em của mình.
Ông ấy đang cai trị với một Chính phủ chỉ biết tuân
lệnh, dù có thể không nhận ra điều đó. Theo Collins,
Việt Nam không thể chấp nhận mô hình gia đình trị
như vậy. Collins đề nghị thay Diệm bằng Trần Văn
Đỗ và Phan Huy Quát hay thậm chí đưa Bảo Đại về
nước để trực tiếp nắm quyền [ 10 , tr.174].
Trong một Công điện khác được gửi về Washington,
Collins nhận xét rằng Diệm không có khả năng tạo
sự đoàn kết cần thiết để ngăn chặn miền Nam rơi vào
tay ********. Diệm giống như một dạng Don Quiyote
đánh nhau với cối xay gió. Collins nhấn mạnh rằng
rất tiếc phải nói lên điều này nhưng đó là niềm tin
vững chắc của ông. Theo Collins, mặc dù Diệm có
vài ưu điểm nhưng thiếu đặc tính cá nhân của lãnh tụ
và khả năng hành pháp để đứng đầu một chính phủ
và đương đầu với Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ
Chí Minh. Diệm không tốt cho mục tiêu của Mỹ tại
Việt Nam, đó là cứu đất nước này khỏi ******** [ 10
, tr.218-221]. Ông nhấn mạnh rằng “Diệm đang đưa
Mỹ tới thảm họa ở Đông Nam Á” [ 11 , tr.74]. Ngày
12/4/1955, Collins lập lại yêu cầu Washington phải có
quyết định càng sớm càng tốt. Theo Collins, việc thay
Diệm cần thực hiện trước ngày 15/5/1955, tức ngày
dự trù bầu cử Quốc hội lâm thời và Diệm sẽ không
nên nhận nhiệm vụ nào trong Chính phủ mới.
Ngày 12/4/1955, Ngoại trưởng Dulles chỉ thị Ðại
sứ Mỹ tại Paris thông báo cho Bộ Ngoại giao Pháp và
Tướng Ely là Mỹ quyết định phải thay Diệm và yêu
cầu Pháp đề cử người thay. Cần khẳng định đây là do
ý của Pháp [ 10 , tr.244-245]. Ngày 16/4/1955, với sự
đồng ý của Eisenhower, Dulles chỉ thị Collins sau khi
nhận được đề nghị của Pháp, cần về Mỹ tường trình.
Nhưng do sự can thiệp của Thượng nghị sĩ Mansfield
và nhất là các cơ quan tình báo Mỹ, Eisenhower đổi ý
về kế hoạch “thay ngựa” vì chưa tìm được “ngựa khác”
có khả năng hơn [ 10 , tr.337-339].
Trong khi Collins
về Mỹ để báo cáo về kế hoạch thay Diệm thì từ Sài
Gòn Lansdale xin Washington tiếp tục hỗ trợ Diệm
vì Diệm là cơ hội tốt nhất, không có ai bằng Diệm và
không một lãnh tụ thân Pháp nào có thể thắng được Việt Minh. Ðề nghị của Lansdale được Hội đồng An
ninh Quốc gia Mỹ chấp thuận. Từ cuối tháng 4 - đầu
5/1955, Ngô Đình Diệm đã lần lượt thu phục phần lớn
các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và đập tan lực lượng
Bình Xuyên. Bên cạnh giúp Diệm xây dựng Nam Việt
Nam thành một quốc gia riêng biệt, chính quyền Mỹ
tìm cách thu hẹp dần vai trò của người Pháp ở Nam
Việt Nam.
Với sự trợ giúp của Mỹ, Diệm đã sống sót trong năm
1954 và tự mình củng cố quyền hành trong hai năm
tiếp theo. Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm phế truất
Quốc trưởng Bảo Đại thông qua một cuộc trưng cầu
dân ý được tổ chức rầm rộ ở miền Nam. Uy tín lẫn vị
thế của Ngô Đình Diệm tăng lên rất cao. Cuộc trưng
cầu dân ý đã đập tan mọi ảo tưởng rằng Ngô Đình
Diệm và gia đình ông đủ khả năng để thiết lập một chế
độ dân chủ ở miền Nam. Mục tiêu duy nhất mà Diệm
không thể hoàn tất vào năm 1955 là việc “thành lập
một Chính phủ chống cộng mạnh và được dân chúng
ủng hộ” [ 12 , tr.152]. Tuy nhiên, nhiều tờ báo bắt đầu
quay sang ủng hộ Diệm, người Mỹ biểu hiện sự tin
tưởng vào Diệm gần như tuyệt đối. Thượng nghị John
F. Kennedy bắt đầu ngợi thành công đánh kinh
ngạc của Diệm. Ông khẳng định: “Chúng ta đã khai
sinh ra nó (VNCH), làm cho nó sống, giúp đỡ để tạo dựng tuong lai của nó
 
Tháng 9/1960,
Đại sứ Durbrow báo cáo cho Washington về hai mối
nguy ở miền Nam Việt Nam: một bên là ******** ở
nông thôn, còn bên kia là những cuộc biểu tình hay
những cuộc đảo chính ở Sài Gòn mà ******** sẽ là
người hưởng lợi được từ cả hai bên. Bất mãn trong
mọi giới, đặc biệt là quân đội và giáo dân Ki-tô di cư.
Ông viết: “Mỹ cũng cần phải xác định rằng mục tiêu
hàng đầu của mình là lập nên một một chính phủ Việt
Nam mạnh và tích cực chống cộng, có khả năng liên kết được sự ủng hộ trung thực và nồng nhiệt của đại
bộ phận nhân dân Việt Nam có thể được... Nếu vì lý
do bất lực trong áp dụng những biện pháp chính trị,
tâm lý, kinh tế và an ninh thích hợp mà tình thế trong
nước của Diệm tiếp tục xấu đi thì sẽ có thể chính phủ
Mỹ phải tính đến những con đường khác và những
nhà lãnh đạo khác” [ 18 , tr.102].
Ngày 4/12/1960, trong một báo cáo khác về Việt Nam
sau đảo chính 11/11/ 1960, Đại sứ Durbrow nhận
định: tình hình ngày càng nguy hiểm hơn, Việt Cộng
đang gia tăng áp lực để “tiến hành nỗ lực chiến tranh
du kích trên quy mô lớn nhằm chiếm vùng nông thôn
và lật đổ chính phủ Diệm. Họ gia tăng cường độ hoạt
động một cách đều đặn trong năm nay” [ 19 , tr.20].
Quần chúng ngày càng bất mãn vì Diệm không đủ
khả năng ngăn chặn ******** và chính sách mạnh
tay đối với các thành phần chống đối. Theo Durbrow:
“Một điều rất rõ ràng là nếu ông ta (Ngô Đình Diệm)
muốn duy trì quyền lực thì phải đáp ứng được ít nhất
là hai thử thách bằng cách cải thiện những phương
thức điều hành cuộc chiến chống cộng và phải hành
động tích cực hơn, mạnh mẽ hơn để xây dựng được sự
ủng hộ của quần chúng đối với chính phủ. Nếu ông
ta (Diệm) không chịu hành động như vậy, chúng ta
(Mỹ) chắc chắn bị buộc phải nhận lãnh một việc làm
khó khăn là phải tìm cho ra và ủng hộ người lãnh đạo
khác ở Miền Nam Việt Nam” [ 19 , tr.20].
Những ý định thay Ngô Đình Diệm của giới
chức Mỹ trong các năm 1961 và 1962
Không bao lâu sau khi phái đoàn của Tướng Maxwell
Taylor từ Việt Nam trở về, tháng 11/1961, Tổng thống
Kennedy chỉ thị cho John Kennet Galbraith (Đại sứ
Mỹ tại Ấn Độ) ghé ngang qua Sài Gòn và cho biết ý
kiến về những gì có thể làm được ở Việt Nam. Theo
Galbraith, Nam Việt Nam là “một con rắn không đầu”
đang “cuốn Mỹ vào Đông Dương” khiến Mỹ “ngày
càng khơi sâu sự oán thù ở đó”, “nó là thứ chất độc
chính trị có thể giết chết chúng ta ngay bây giờ” [ 20
, tr.223]. Mỹ không thể thắng nổi cuộc chiến và nên
thu về toàn bộ các trợ giúp đặc biệt đã đưa vào Nam
Việt Nam kể từ tháng 1/1961 [ 21 , tr.11]. Galbraith
đã đưa ra 3 điểm căn bản: ① Không thể cải tiến gì
được trừ phi Mỹ gạt bỏ Diệm; ② nếu Mỹ gạt bỏ Diệm,
cơ hội chiến thắng sẽ lớn; ③ và một chính phủ quân
nhân hình như sẽ là một sự thay thế có nhiều triển
vọng hơn là chế độ quan lại mà Mỹ đang bảo trợ [ 22
,
tr.45].
Trong báo cáo gửi cho Kennedy, Galbraith nhấn
mạnh: “Diệm sẽ không cải cách hành chính hay chính
trị trong bất kỳ cách thức nào để mang lại hiệu quả...
Thật ngây thơ để mong đợi điều đó... Ngô Đình Diệm
lo cho việc bảo vệ bản thân được an toàn hơn là bảo
vệ đất nước khỏi Việt Cộng. Tôi hiểu khá rõ rằng việc
thiếu trí thông minh, tập trung hóa quyền quản lý của
quân đội, vai trò hai mặt không thể tin được của các
quan chức địa phương cũng như các tướng lĩnh quân
đội và các chính trị gia, sự bất tài và luôn phải khúm
núm, tất cả các vấn đề này liên quan tới nỗi lo sợ phập
phồng của ông ta” [ 23, tr.316], [ 24 , tr.334].
Từ cuối 1962, những viện trợ về người và vũ khí cho
VNCH đã tỏ ra hết tác dụng, Chính phủ Diệm đang
trên vực thẳm của sự sụp đổ, các nhà báo chiến trường
bắt đầu đánh vào tâm trạng lạc quan của các giới chức
Mỹ tại Sài Gòn. Họ nói rằng cuộc chiến đang thất
bại, Chính phủ Diệm tham nhũng, đàn áp, mất lòng
dân và chương trình Ấp chiến lược là một trò lòe bịp.
Họ cũng cho công chúng Mỹ biết rằng những báo cáo
chính thức nói về tiến bộ quân sự được thổi phồng
quá mức và quân đội VNCH tiến hành “tác chiến giờ
hành chính”, tức là tác chiến qua loa vào ban ngày và
đến tối thì quay trở lại căn cứ. Những nhà báo này
cũng cho rằng Mỹ không thể thắng được cuộc chiến
 
Ngày 16/8/1962, trong bản ghi nhớ gửi cho Edward
E. Rice, cố vấn chính trị tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn
Joseph A. Mendenhall nhận định: “Diệm không có
khả năng huy động quần chúng, kém hiệu quả về
mặt tổ chức…chính phủ hiện nay không được dân
chúng ủng hộ… Diệm đã quá già và xơ cứng với kiểu
quan lại phong kiến, không tin cậy bất kỳ ai ngoài gia
đình mình tới nỗi họ hoàn toàn không muốn thay đổi
phương pháp quản lý chính phủ bằng cách “chia để
trị” [ 26 , tr.598]. Do đó, Mendenhall kết luận: “Chúng
ta (Mỹ) không thể thắng cuộc chiến này với Diệm -
Nhu và chúng ta lại không thể thay đổi các phương
pháp này, bất kể bao nhiêu áp lực mà chúng ta thúc
đẩy họ… Loại trừ ông Diệm, cả ông bà Nhu và thành
phần còn lại trong gia đình nhà Ngô” [ 25 , tr.596-600].
Thượng nghị sĩ Mike Mansfield, người ủng hộ hết
lòng giúp Ngô Đình Diệm khi ông cùng Ngô Đình
Nhu sang Mỹ kiếm tìm sự ủng hộ trước đây, đã bắt
đầu cảm thấy chán ngán với tính cách cũng như việc
điều hành quốc gia của ông Diệm. Tháng 12/1962,
theo đề nghị của tổng thống Kennedy, ông đã sang
Việt Nam. Sau chuyến công du này, ông đã gửi một
báo cáo dài cùng với những ý kiến đánh giá vô cùng
bi quan. Báo cáo này được chính thức phổ biến từ
25/2/1963. Trong báo cáo Mansfield nhận xét: “Tình
hình Việt Nam giống như 7 năm trước đó (1955)…
tình hình sẽ không thay đổi nếu bộ máy chính quyền
còn nằm trong tay hai ông Diệm – Nhu và những kẻ
thân cận… viện trợ của Mỹ chỉ giúp VNCH giải quyết
những khó khăn đang xảy ra chứ không thể giải quyến
được tương lai… Đó là đất nước của họ, quyền lợi
tương lai của họ chứ không phải của chúng ta. Bỏ
qua thực tế này sẽ khiến chúng ta không chỉ phải trả
giá đắt về con người, nguồn lực của nước Mỹ mà còn
kéo chúng ta vào vị trí không đáng ở Việt Nam… Mỹ
không thể hoàn toàn gánh vác cuộc chiến ở VNCH
vì làm như thế sẽ biến nước này thành thuộc địa kiểu
mới dưới mắt người Việt và quốc tế… Nếu coi VNCH
là một chiến trường chống ******** quốc tế thực sự
thì Mỹ phải chuẩn bị hy sinh người và của cải trong
một thời gian dài vô hạn. Còn nếu chỉ coi VNCH như
một mặt trận dùng để tranh giành ảnh hưởng chính
trị tạm thời thì nên tìm mọi cách từ từ rút ra” [ 25
, tr.779-787]. Tổng thống Kennedy rất giận khi đọc
bản tường trình này, không phải ông giận về những
gì người bạn của ông viết, mà giận vì những gì ông tin
Mansfield viết là sự thật. Mansfield không thể nói dối
với Kennedy được vì cả hai đều là thành viên nhóm
“Những người bạn Mỹ của Việt Nam”. Ông nói với
Kenneth O’Donnell: “Tôi giận Mike (Mansfield) vì
ông ta không hoàn toàn đồng ý với chính sách của
chúng ta và tôi giận chính mình vì tôi phải đồng ý với
ông ta điều đó” [ 27 , tr.320]. Các báo cáo này cho thấy,
tình hình tại Nam Việt Nam vẫn tiếp tục căng thẳng
và mong manh, khoét sâu thêm sự mâu thuẫn trong
quan hệ Mỹ - VNCH trong cách nhìn nhận vấn đề.
Một lần nữa, ý định thay Diệm lại được mang ra bàn
luận trong các cuộc họp ở Washington.
Đại sứ Henry Cabot Lodge thay Ngô Đình
Diệm năm 1963
Mùa hè năm 1963, chế độ Ngô Đình Diệm công khai
phát động cuộc tấn công vào Phật giáo, một tôn giáo
của đại đa số người Việt Nam. Họ ra lệnh đóng cửa các
trường học, cho các đạo quân tinh nhuệ tấn công các
cuộc biểu tình, bắt bớ và giam cầm hàng nghìn người.
Ngày 11/6/1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức tự
thiêu để chống lại sự ngược đãi tôn giáo. Malcolm
Browne, phóng viên hãng thông tấn Associated Press,
đã chụp được nhiều bức ảnh tự thiêu quý giá này. Một
ngày sau đó, những bức ảnh về sự kiện này xuất hiện
trên trang nhất của các tờ báo lớn trên khắp thế giới,
bên cạnh những bài viết lý giải về nguyên nhân của
thảm kịch. Hầu hết những hình ảnh về các hành động
bạo lực của chế độ Diệm chống lại những tín đồ Phật
giáo có tinh thần hòa bình đã được đưa lên các màn
ảnh truyền hình ở Mỹ. Nước Mỹ và phần còn lại của
thế giới biết hết sự thật về “Winston Churchill của
châu Á”, hàng trăm người Mỹ đã xuống đường cùng
với khẩu hiệu “Chúng tôi yêu cầu chấm dứt việc Mỹ
viện trợ quân sự cho chính quyền Diệm” [ 28 , tr.12].
Anh em họ Ngô tin rằng cuộc nổi dậy của Phật giáo
là do ******** xúi giục. Bà Nhu (Trần Lệ Xuân ) công
khai lăng mạ cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức là
“nướng thịt một nhà sư ” (barbeque a bonze), bà sẽ
rất lấy làm thích thú khi nhìn thấy có thêm nhiều vụ
“nướng các nhà sư” như vậy [ 11 , tr.149]. Tổng thống
Kennedy lên án những hành động bạo lực của chính
quyền Sài Gòn và kêu gọi Tổng thống Diệm sớm giải
quyết các yêu sách của Phật tử để ổn định tình hình.
Ông thay Đại sứ Frederick E. Nolting bằng Henry
Cabot Lodge - một trong những đối thủ chính trị
thuộc đảng Cộng hòa. Tổng thống Kennedy còn nói
với vị đại sứ sắp sang nhận nhiệm sở rằng ông không cản trở một cuộc đảo chính quân sự [ 29 , tr.559].
Chính quyền họ Ngô chào đón thông tin này bằng sự
thách thức: “họ (Chính phủ Mỹ) có thể gửi 10 Lodge
tới đây… kể cả việc họ huấn luyện pháo binh bắn
vào dinh (Gia Long) này” [ 30 , tr.413-414]. Vào đêm
20 rạng 21/8/1963, Diệm - Nhu cho mở một loạt các
cuộc tấn công vào các chùa trên khắp miền Nam Việt
Nam, bắt 1426 tăng ni, Phật tử và gây ra những thương
vong lớn. Ngô Đình Nhu dự tính rằng tân Đại sứ
Cabot Lodge khi đến Sài Gòn sẽ phải chấp nhận việc
nghênh đón ông bằng một “sự đã rồi” này thì cuộc
tranh cãi về vấn đề Phật giáo sẽ không còn lý do để
tồn tại nữa.
 
Thằng @Nguyễn Quang 01 bên trên còn nói Bảo Đại trực tiếp tuyên chọn và có ảnh hưởng đến tướng lãnh quân đội của Nước QGVN cơ mà. Thế mà lúc Diệm phế Bảo Đại lại chẳng có tướng tá nào đứng ra bảo vệ cho ngài? Chắc vì ngài tiếp tục thấy hạnh phúc vì làm công dân quốc gia độc lập hơn là vua của nước nô lệ Pháp :))
Mày ngu vậy,
Là Bảo Đại chủ động rút.
Xem lại các bài thớt cũ của tao.
Hiệp định Giơnevo là điều mà Bảo Đại đã nói trong Nhật ký sẽ kết thúc sự nghiệp chính trị của ông và ông muốn đến Pháp dưỡng già.
Nếu Bảo Đại muốn tham quyền thì đã chọn làm tổng thống chứ lấy cái chức QUỐC TRƯỞNG làm gì.
Trên thế giới này không có chức vụ nào mang tên vị trí QUỐC TRƯỞNG.
 
Thằng @Nguyễn Quang 01 bên trên còn nói Bảo Đại trực tiếp tuyên chọn và có ảnh hưởng đến tướng lãnh quân đội của Nước QGVN cơ mà. Thế mà lúc Diệm phế Bảo Đại lại chẳng có tướng tá nào đứng ra bảo vệ cho ngài? Chắc vì ngài tiếp tục thấy hạnh phúc vì làm công dân quốc gia độc lập hơn là vua của nước nô lệ Pháp :))
Tụi pháp nó coi thường bảo đại vl
Nó fanboy bảo đại mà
2 thằng tụi mày nói nhăng nói cuội,
Tao đưa thông tin lên cho tụi mày tự đi mà seacrh có phải chính Bảo Đại cứu anh em tổng thống Ngô Đình Diệm hay không?

11/9/1954: Diệm lệnh cho tướng Hinh đi nghỉ 6 tuần và phải xuất ngoại trong vòng 24 tiếng, thực chất là cách chức. Đáp lại, tướng Hinh bất chấp, mặc áo sơ-mi đi môtô bự ngang nhiên chạy vòng quanh đường phố Sài Gòn.
+ Một tuần sau, tướng Hinh phổ biến tuyên bố bất tuân lệnh Diệm và đã gửi điện tín cho Quốc trưởng Bảo Đại yêu cầu can thiệp. Diệm tuyên bố tướng Hinh nổi loạn. Tướng Hinh cho thiết giáp bảo vệ tư dinh, đồng thời phái một lực lượng tới bao vây Dinh Độc Lập, công khai chửi bới Diệm trên đài phát thanh quân đội.
+ 20/9/1954: Quá nửa số bộ trưởng của Diệm yếu bóng vía đã từ chức, trong khi quân của tướng Hinh sẵn sàng tấn công.
+ Trước tình thế đó, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi công điện cho Đại sứ Heath và Tướng O’Daniel chỉ thị phải "nói không úp mở (với Pháp và Tướng Hinh) rằng Hoa Kỳ sẽ không dự trù hoặc triển hạn những viện trợ lâu dài cho quân đội Việt Nam nếu còn một chút nghi ngờ gì về sự trung thành của vị tổng tham mưu trưởng và các sĩ quan cao cấp."
+ Trước thông điệp cương quyết của Mỹ và sự thờ ơ của Pháp, Bảo Đại đành yêu cầu tướng Hinh bàn giao chức vụ Tổng tham mưu trưởng để sang Pháp 'trình diện Quốc trưởng'.
+ 13/11/1954: Tướng Hinh rời Việt Nam sang Pháp.
 

Có thể bạn quan tâm

Top