M tỉnh mộng dùm tao cái lạc long quân, âu cơ cc gì toàn xạo lồn khác buồi thần nông, hoàng đế, nữ oa, viêm đế...
Ở đây nói khoa học, sinh học, ngôn ngữ chứ éo phải mấy truyện xạo lồn. Nhóm tai kradai mới là lũ dân bản địa ở lưỡng quảng và bắc vẹm. Tộc vẹm hiện tại là tộc tạp nham lai đủ thứ nên éo thể dùng ADN để truy gốc. Nên thứ duy nhất truy gốc là ngôn ngữ mà Austrosiatic là gốc khu vân nam dọc theo mekong. Quá hợp lý tọc vẹm di cư theo Sông Hồng rồi định cư số lượng lớn.
Còn m thực sự biết âu việt là ở đâu k? Âu Vịt là dân bản địa thai kradai lập quốc ở quảng tây chứ đéo phải là di cư từ vân nam xuống bắc vẹm lập quốc cc gì cả.
Chữ Việt (Duê) thời cổ đại là một khái niệm bao hàm rất rộng. Bản chất
Bách Việt =
khái niệm mang tính phân loại địa-chính trị do người Hoa Hạ (Húa-sạ) phương Bắc đặt ra để gọi chung tất cả các cư dân không thuộc nền văn minh Trung Nguyên cư trú ở phương Nam.
Dù được gọi chung là Việt, các nhóm trong khối Bách Việt có sự khác biệt rất lớn: Có nhóm nói tiếng thuộc ngữ hệ Tai-Kadai (Tây Âu, Lạc Việt, Mân Việt), có nhóm nói tiếng thuộc ngữ hệ Hán-Tạng hoặc Hmon-Mien.
Họ không chung một ông tổ hay một dòng máu trực hệ, mà là các quần thể nhân chủng có sự hòa trộn khác nhau giữa chủng người Mongoloid (phương Bắc) và chủng người Australoid (phương Nam).
Về phát tích của người Âu Việt, người Âu Việt (tức Tây Âu) dù cư trú chủ yếu ở khu vực Quảng Tây, Quảng Đông và đông bắc Việt nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng thủ lĩnh Thục Phán (An Dương Vương) của họ lại có gốc gác tới từ
nước Thục ở vùng Tứ Xuyên ở Trung Quốc hiện tại. Các nhà ngôn ngữ học lịch sử đã phục dựng cổ âm và phát hiện ra chữ "âu" trong tiếng Hán cổ đại là cách ghi âm lại một từ gốc Thái-Kadai mang nghĩa là "nguồn", "nước", hoặc "vùng thung lũng sông" (
rất giống với từ Ou hoặc U trong một số ngôn ngữ hệ Thái hiện đại). Khi thủ lĩnh Thục Phán dẫn quân xuống phía nam, ngài đã tiếp xúc và thống lĩnh bộ tộc Tây Âu (Âu Việt) tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, và phần phía Tây và Nam của Quảng Tây Khựa ngày nay (không tính toàn bộ đường biên giới hành chính của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây). Cả thủ lĩnh nước Thục lẫn cư dân Âu Việt bản địa thời điểm đó đều sử dụng các ngôn ngữ
thuộc ngữ hệ Tai-Kadai
Còn về phần người Lạc Việt, nếu cứ máy móc xem đây chính là tổ tiên của người Kinh (Việt) hiện đại thì
chẳng khác nào quy kết người Latin cổ đại chính là người Pháp/Ý hiện đại. Khối Lạc Việt cổ đại là một quần thể cư dân rất rộng lớn. Qua hàng ngàn năm lịch sử, quần thể này đã phân hóa, chia tách và hòa huyết để hình thành nên nhiều dân tộc khác nhau ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Người Lạc Việt cổ sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thai-Kadai hoặc Nam Á cổ đại/proto-Austrosiatic (
gần giống với tiếng Choang, tiếng Tày, tiếng Nùng ngày nay). Trong khi đó,
người Việt hiện đại sử dụng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á (thuộc nhánh Mon-Khmer). Tiếng Việt của người Kinh ngày nay là kết quả của một quá trình biến đổi cực kỳ phức tạp: giữ cốt lõi ngữ pháp Nam Á nhưng
đã bị đơn âm hóa + thêm thanh điệu do tiếp xúc lâu dài với các tiếng thuộc ngữ hệ Thai-Kadai và tiếng Hán => Người Lạc Việt cổ chỉ là
một trong những mảnh ghép cốt lõi nhất hình thành nên người Kinh chứ không phải là người Kinh vì họ chỉ là tập hợp nguyên thủy sơ khai (tức là
chưa trải qua quá trình bị Khựa đồng hóa + chia tách Kinh Mường diễn ra sau này).
Khi nhánh Lạc Việt bắt đầu di chuyển vật lý từ phương Bắc (vùng Hoa Nam) xuống đồng bằng sông Hồng, ngôn ngữ ban đầu của họ
không phải là ngữ hệ Nam Á mà là một ngôn ngữ thuộc hệ Thai-Kadai. Toàn bộ khối Bách Việt (gồm cả Âu Việt và Lạc Việt) khi còn ở vùng Lưỡng Quảng của Khựa hiện tại đều nói các ngôn ngữ thuộc hệ Thai-Kadai. Khi dòng người Lạc Việt này di chuyển xuống phía Nam, hành trang ngôn ngữ họ mang theo là một thứ tiếng có cấu trúc đơn âm và thanh điệu, gần gũi với tiếng cổ hay tiếng Tày, Nùng cổ. Sự thay đổi bước ngoặt diễn ra khi nhóm Lạc Việt nói ngôn ngữ Thai-Kadai này đặt chân xuống vùng đồng bằng sông Hồng. Tại đây, họ gặp gỡ và chung sống với cư dân bản địa (
chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên, Hoa Lộc...) vốn là những người nói ngữ hệ Nam Á (tiền Mon-Khmer).
Do số lượng cư dân bản địa nói tiếng Nam Á tại vùng đồng bằng sông Hồng quá đông đảo, nhóm di dân Lạc Việt phương Bắc đã bị "hòa tan" về mặt ngôn ngữ. Họ bắt đầu tiếp thu và sử dụng tầng nền từ vựng cốt lõi của hệ Nam Á để giao tiếp với người bản địa. Từ sự hòa trộn này, một ngôn ngữ lai mới được hình thành chính là
tiếng Việt-Mường cổ. Tiếng Việt-Mường cổ là một
ngôn ngữ Nam Á thuộc nhánh Mon-Khmer . Thứ tiếng này
hoàn toàn không có thanh điệu (không dấu),
sử dụng cấu trúc từ bán đa âm (gồm một tiền âm tiết phụ đi trước âm tiết chính) như pơ-gà, chơ-mắt và
sở hữu hệ thống tổ hợp phụ âm đầu cực kỳ phức tạp như Bl-, Tl-, Kl- (ví dụ: blời tức là trời). Đồng thời, ngôn ngữ này vẫn bảo lưu các phụ tố (tiền tố, trung tố) để biến đổi từ loại,
cùng tầng từ vựng và cú pháp mang gốc gác Nam Á thuần túy trước khi bị gọt giũa, đơn âm hóa và hình thành thanh điệu do tiếp xúc với tiếng Thai-Kadai và tiếng Hán thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc.