Nguyễn Huệ anh hùng áo vải hay gian hùng áo vải

Dismebonmay

Đẹp trai mà lại có tài

Nguyễn Huệ anh hùng áo vải hay gian hùng áo vải?​


quang trung.jpg


Quảng cáo


Trần Vũ Chung

Bài viết này đề cập tới “nhân vật Nguyễn Huệ” trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay còn gọi là An Nam Nhất Thống Chí của nhóm tác giả Ngô Gia Văn Phái, mọi sự kiện đều được trích dẫn từ tác phẩm này.
Mà nay áo vải cờ đào

Giúp dân xây dựng xiết bao công trình


Nguyễn Huệ hay còn được gọi là Quang Trung hoàng đế, là em trai của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Nhắc tới Nguyễn Huệ đa số chúng ta đều nghĩ tới hình ảnh một người anh hùng áo vải có công dẹp loạn Bắc Hà, đánh đuổi hai mươi vạn quân Thanh…, tài năng của Nguyễn Huệ chắc hẳn không cần phải băn khoăn nhưng phàm đã là người ai ít nhiều cũng có tính gian hay có lúc nào đó gian, vậy người được cho là anh hùng như Nguyễn Huệ có khi nào thể hiện tính gian đó không ?

Năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc với danh nghĩa “Phò Lê diệt Trịnh”, chiến dịch thành công và được vua Lê Hiển Tông gả con gái là Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Huệ tuy là rể nhưng thực quyền ở Bắc Hà khi đó còn át cả vua.Tháng 7 năm 1786 Vua Lê Hiển Tông băng hà, Lê Chiêu Thống nối ngôi và chuẩn bị tang ma, lúc đầu định không mời Nguyễn Huệ đứng ra lo việc tang, Nguyễn Huệ giận và định phế bỏ Chiêu Thống, lập người khác lên nối ngôi vua. Huệ giữ quyền sinh quyền sát cả Bắc Hà mà không được mời đứng ra làm lễ nên Huệ cho rằng như thế là không được tôn trọng.

Quảng cáo


Hơn nữa, tuy tiếng “Phò Lê diệt Trịnh” nhưng dân Bắc Hà nhiều người vẫn nghi ngại và cho rằng Huệ là kẻ từ xa đến cướp nước, nay con rể lại không được thông báo tới tham gia lo việc ma chay cho bố vợ hẳn người thiên hạ sẽ cho rằng triều đình nhà Lê không ưa hay có điều nghi ngại với Nguyễn Huệ nên mới làm vậy. Vì thế tính chính nghĩa “Phò Lê diệt Trịnh” ban đầu sẽ bị mất đi. Đó chính là lý do mà Nguyễn Huệ nằng nặc đòi phải đứng ra tổ chức tang ma cho bố vợ là vua Lê Hiển Tông, thể hiện lòng trung với vua và chứng tỏ mình không phải là quân cướp nước. Thêm một điểm, khi đứng viếng vua Lê Hiển Tông, Huệ hết sức cung kính, nhìn thấy một viên quan đứng tế có biểu hiện hơi cười đùa, Huệ sai người lôi ra chém luôn. Đây thực chất là “Phao chuyên dẫn ngọc”, ném đi một hòn ngói ( viên quan ) mà thu lại được viên ngọc ( lòng thiên hạ ).

Nguyễn Hữu Chỉnh là một nhân tài Bắc Hà, ông tự nhận rằng “ Nhân tài Bắc Hà chỉ có mình tôi” , quả thật là Chỉnh có tài. Khi kinh thành Thăng Long có biến, Chỉnh chạy vào Nam đầu quân cho Nguyễn Nhạc và được Nhạc trọng dụng, sau đó Nhạc lại giao Chỉnh cho Huệ sử dụng. Nguyễn Huệ cho rằng Chỉnh là kẻ xảo quyệt nên đã quyết tâm trừ bằng được Chỉnh. Chỉnh bày cho Huệ kế “Phò Lê diệt Trịnh” để Huệ mang quân ra Bắc, từ đó Chỉnh cũng mang tiếng với người Bắc là rước voi về giày mả tổ. Huệ biết người Bắc ghét Chỉnh vì lẽ đó nên đang đêm đột ngột rút quân bí mật từ Thăng Long về Nam, bỏ rơi một mình Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại. Huệ không muốn tự tay giết Chỉnh khi đó vì Chỉnh là người tài, giết Chỉnh sợ sau này nhân tài không dám đến với Huệ nữa và cũng sợ cái tiếng vắt chanh bỏ vỏ. Huệ đã dùng kế “Tá đao sát nhân”, mượn tay người Bắc để giết Chỉnh. Tuy nhiên Chỉnh không phải hạng người ngồi trói tay chờ chết, Chỉnh trốn thoát được, dong buồm đuổi theo anh em Tây Sơn và đến Nghệ An thì gặp được và xin Huệ thu nhận lại, Huệ đã phải thốt lên rằng “ Thằng chết tiệt này khéo tìm đường sống” . Liền đó, Huệ liền cho Chỉnh một ít vũ khí và 100 lính đi theo để hộ vệ cùng một ít tiền. Chỉnh chỉ lấy tiền và trả lại những thứ kia. Ở chi tiết nàythấy được một điều như sau, chắc chắn Nguyễn Hữu Chỉnh biết Huệ đã có ý không dung, 100 lính đi theo kia chẳng phải là bảo vệ Chỉnh mà thực ra là canh giữ và giám sát mà thôi, lính này không thể tùy ý sai khiến được, nhận vào chỉ mang thêm rắc rối. Đó là một cái thâm sâu của Nguyễn Huệ với âm mưu Tiếu lý tàng đao. Biết Chỉnh tài, Huệ còn sai Chỉnh ở lại giữ đất Nghệ An, phải thấy rằng nếu giữ được Nghệ An thì đất đó sẽ là của Huệ, còn như Chỉnh mà chẳng may chết thì Huệ coi như đã được giải thoát khỏi mối lo Nguyễn Hữu Chỉnh. Đúng là trai cò đánh nhau ngư ông đắc lợi.

Quảng cáo


Khi Nguyễn Hữu Chỉnh đã lập được thế lực riêng, làm chủ Bắc Hà, Chỉnh bèn cho Trần Công Xán đi sứ vào Nam gặp Nguyễn Huệ với mục đích xin lại đất Nghệ An. Tất nhiênNguyễn Huệ không bao giờ trả đất, Huệ cho Trần Công Xán 100 nén bạc nói của công chúa Ngọc Hân tặng rồi tiễn lên thuyền về nước, nhưng ngầm sai người đi theo đánh đắm thuyền cho đoàn sứ giả chết ngoài biển và về nói bị bão đắm. Trong thời gian đi sứ Trần Công Xán có nghe được tin về việc anh em Tây Sơn bất hòa, vua em Nguyễn Huệ đem quân đánh vua anh là Nguyễn Nhạc. Huệ sợ Xán biết được nội tình anh em Tây Sơn bất hòa mang về báo cáo lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ làm mất uy và sợ người Bắc Hà lợi dụng cơ hội này đế đánh bất ngờ nên đã lập mưu giết đoàn sứ giả Trần Công Xán. Lần này Nguyễn Huệ lại sử ra chiêu tiếu lý tàng đao và ném đá giấu tay để tránh cái tiếng giết sứ giả.

Năm 1787, Võ Văn Nhậm một dũng tướng của Tây Sơn tiến quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh theo lệnh của Nguyễn Huệ, sau khi Nhậm đã đánh thắng, Huệ ra Thăng Long vào tận chỗ Nhậm ngủ, Nhậm vẫn ngủ say không biết, Huệ sai võ sĩ đâm chết Nhậm vì Huệ cho rằng Nhậm có ý đồ làm phản. Chuyện Võ Văn Nhậm có ý đồ làm phản hay không là do hai tướng Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở báo về cho Huệ, hai tướng này vốn được Huệ cho đi theo Nhậm để đề phòng Nhậm.

Tới đây mới thấy Nguyễn Huệ thật là một tay cáo già, võ tướng Tây Sơn rất nhiều người giỏi, tại sao Nguyễn Huệ không cử ai khác đi đánh Chỉnh mà lại cử Nhậm. Nguyên nhân sâu xa là ở đây: Võ Văn Nhậm là con rể của Vua anh Nguyễn Nhạc, nhưng được dưới quyền điều động và sử dụng của Nguyễn Huệ. Nhậm là một dũng tướng rất có tài nhưng nhãn quan chính trị của ông lại không tốt nên chuốc lấy cái chết thảm.

Quảng cáo


Đến như Nguyễn Nhạc là anh ruột của Huệ mà Huệ còn mang quân ra đánh thì cái thân của Nhậm – chỉ là cháu rể của Huệ làm sao tránh khỏi sự nghi kỵ, không biết sớm mà lo lấy thân mình?Nhậm và Chỉnh là hai người có tài cầm quân và cũng đều là hai người mà Quang Trung muốn giết, đẩy hai người vào thế giết nhau, Quang Trung chỉ việc “Cách ngạn quan hỏa” – đứng cách bờ mà xem lửa cháy, ai chết thì Quang Trung cũng là người có lợi. Kết cục Chỉnh chết dưới tay Nhậm, Nhậm lấy được Bắc Hà, Quang Trung giết Nhậm và có được Bắc Hà. Lại một lần nữa Nguyễn Huệ sử ra chiêu Tá đao sát nhân nhằm trừ bằng được những người mà ông cho là mối nguy hiểm với mình.

Nếu Nhậm tỉnh táo nhìn ra được điều đó, không bị mờ mắt bởi sự ghen ghét tài năng với Chỉnh thì cơ hội tốt của Nhậm chính là khi đem quân Bắc tiến thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Nguyễn Huệ. Lịch sử không có chữ “nếu như” nhưng thực sự tại thời điểm đó Võ Văn Nhậm có cơ hội lựa chọntrừ khử hai tướng Phan Văn Lân và Ngô Văn Sở, liên kết với Nguyễn Hữu Chỉnh( phải liên kết với Chỉnh bởi Bắc Hà lúc đó ít nhân tài, mình Nhậm khó chống nổi Nguyễn Huệ ) để tự lập ra thế lực riêng ở Bắc Hà, chống lại Tây Sơn, khi đấy Nhậm hay Huệ, ai là người phải thua thì còn chưa thể nói trước được. Cái thế của Nhậm khi ấy làm người ta không khỏi nhớ đến nhân vật Từ Hải trong truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du, Nguyễn Du cũng là một người sống trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này:

Quảng cáo


Một tay gây dựng cơ đồ

Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!

Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?

Áo xiêm ràng buộc lấy nhau

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?

Sao bằng riêng một biên thùy

Sức này đã dễ làm gì được nhau?


Giả sử trong quá trình mưu lập thế lực riêng đó Võ Văn Nhậm có không may thất bại thì cái chết đấy cũng đáng hơn nhiều. Thỏ khôn chết, chó săn bị mổ làm thịt, chim bay cao hết, cung tốt vất bỏ, nước địch phá xong mưu thần bị giết, Nhậm giết được Chỉnh rồi đắc chí mà không biết rằng số phận Nhậm cũng không hơn gì Chỉnh cả. Tuy nhiên cũng nên xét cho Võ Văn Nhậm một phần là vợ con, người nhà của Nhậm lại vẫn ở bên Tây Sơn, bị giữ ở đó khác nào con tin nên có thể Nhậm nhìn ra nhưng lại dùng dằng không quyết được vì sợ gia đình bị hại.Mỗi người có một lựa chọn riêng cho mình, để tên tuổi chìm lấp đi dưới lớp bụi thời gian như Võ Văn Nhậm hay vang danh sử sách như Quang Trung Hoàng đế đôi khi chỉ khác nhau ở một lựa chọn mà thôi.

Không thể phủ nhận tài năng và công lao của Quang Trung Hoàng đế, ông xứng đáng là một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất với những chiến công lừng lẫy, đánh khắp thiên hạ không địch thủ nhưng bên cạnh đó cũng nên nhìn vào những nét tính cách chính yếu như là việc dụng mưu như thần góp phần làm nên thành công của nhân vật này. Vĩ những nét tính cách đó, có thể kết luận rằngNguyễn Huệ không những hùng mà còn rất gian!
 
Phải đối xử làm sao với Quang Trung Nguyễn Huệ?
Cá nhân tôi, một người Miền Nam, nói thẳng là tôi không có cảm tình với Quang Trung Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ có công với Miền Nam của tôi thì ông bà xưa đã không lập ra quân Đông Sơn đối nghịch chống lại Tây Sơn?
Nhưng tôi là người có học, biết tôn trọng lịch sử, tôi không kêu nhân vật lịch sử là thằng này thằng nọ, cũng không kêu Huệ này Huệ nọ.
Tôi cũng không ghét Nguyễn Huệ vì yêu thích Gia Long, không kêu Nguyễn Huệ là nguỵ này nguỵ nọ.
Tôi công bằng tất cả hết thảy, vì trong nhiều bài viết tôi cũng đã nêu những cái vết đen của vua Gia Long với đất Miền Nam, với đạo quân Đông Sơn với Hiệp tá Đỗ Thành Nhơn, vua Minh Mạng với Tả Quân Lê Văn Duyệt và hậu vụ binh biến Lê Văn Khôi.
Có một sự tôn trọng lịch sử cũng là tôn trọng chính chúng ta.
Tại vì sau 1975 có một thực tế đau lòng, nhiều người ca ngợi Nguyễn Huệ và Tây Sơn như thần thánh trên trời và đạp Gia Long và triều Nguyễn xuống bùn. Cái chuyện có mùi hơi hám chánh trị và tuyên truyền vì mục đích chánh trị.
Rất nhiều, cái kiểu nâng Đồ Chiểu lên để đạp TS Phan Thanh Giản xuống. Kiểu mất dạy.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu là ông thầy đồ, nhà thơ. Đồ Chiểu nổi tiếng giữ cách sống theo Nho.Đồ Chiểu chỉ mới có Tú Tài, là một thầy đồ làng, ông siêng làm thơ cổ võ cho công cuộc kháng Pháp, giữ gìn luân thường đạo lý. Nguyễn Đình Chiểu sống trong thời Pháp thuộc nhưng nổi tiếng chống Pháp và đả kích văn hóa Tây Phương.
Tiến sĩ Phan Thanh Giản (1796 - 1867) là danh sĩ, đại thần triều Nguyễn. Quan Phan là bậc niên trưởng của ông Đồ Chiểu, nhưng xuất thân quan trường, ông có quyền lực trong tay và đứng trước những vấn đề sống còn của xứ sở với tầm nhìn của một quan phụ mẫu thương dân.
Người Miền Nam có phần ưu ái Đồ Chiểu, nhưng kính trọng Tiến sĩ Phan Thanh Giản.
Khi Phan Thanh Giản mất Đồ Chiểu làm thơ khóc lên khóc xuống.
Nhưng không thể hình dung ra, Đồ Chiểu trong mắt những người ở "vùng ngoài" từ HN lại bị biến thành người đối trọng với quan Phan trong một mặt trận tuyên truyền mà có hơi hám "án lịch sử".
Người ta vì lý do chánh trị đã phong "thần" cho Đồ Chiểu, nâng Đồ Chiểu lên như chí sĩ yêu nước làm đối trọng hạ Tiến sĩ Phan Thanh Giản như "thằng" phản quốc bán nước.
Lấy nhân vật lịch sử Miền Nam này "chơi" một nhân vật lịch sử Miền Nam khác.
Họ ca ngợi "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc“. Chính xác là: "...ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc " bởi vì nếu trong văn nghệ dân tộc có người lớn hơn, sâu sắc hơn, thì cho đến khi xuất hiện văn học cách mạng do đảng lãnh đạo, nhà văn gần nhân dân nhất, gần với tư tưởng vô sản nhất, đó là Nguyễn Đình Chiểu “(Nguyễn Đình Chiểu tác giả và tác phẩm.NXB Giáo Dục1998).
Và một bên là tấn công quan Phan Thanh Giản, kết án quan Phan
Người ta đã ban hành cái án sử học, gán tội quan Phan vì “thỏa hiệp” và nâng Đồ Chiểu lên vì “quyết đánh”.
Chuyện xoá tên đường và viết sử lại, viết sách giáo khoa cho con cháu chửi ông bà nó là việc quá đáng.
Chúng ta không thể a dua theo xu thế này nên phải làm rõ lịch sử để trả lại vị trí từng người.
Không nên đem vua Gia Long và Nguyễn Huệ lên cân tiểu ly cảm tính, nhưng sự thực lịch sử cần tôn trọng. Thế nào thì cứ nói thẳng, sự thật lịch sử, ai che Nguyễn Huệ thì lột thẳng ra.
Có một bạn lo ngại vài năm sau khi cái ý thức hệ tôn sùng Nguyễn Huệ “yếu” và lụi thì hình tượng anh hùng dân tộc bách chiến bách thắng của Nguyễn Huệ sẽ bị những người thuộc phe “ghét” vùi dập, hạ bệ xuống giống như sau 1975 với Triệu Đà và nguyên trào Nguyễn-vua quan bị hạ bệ.
Bạn này lo bò trắng răng.
Người Việt là một dân tộc hiếu động, bạo lực và rất thù dai và trả thù. Lịch sử từng chứng kiến bao nhiêu sự kiện, thí dụ sau 1950 chánh phủ quốc gia VN giựt sập hết tượng người Pháp ở tại Sài Gòn, khi trưng cầu dân ý truất phế cựu hoàng Bảo Đại xong thì người ta đem hình ông nay ra đạp vô mặt. Rồi sau cuộc đảo chánh 1/11/1963 người ta giựt sập tượng Hai Bà Trưng và đạp vô đầu tượng mà người ta nói là giống cái face của bà Trần Lệ Xuân.
Lịch sử Việt Nam chứng kiến một giai đoạn Nam tiến của các chúa Nguyễn. Tuy nhiên cuộc Nam tiến đã bị chựng lại do nội chiến tàn khốc Tây Sơn-Nguyễn.
Giai đoạn đó người Việt đã tiến tới gần biên giới Thái Lan, ai dè Tây Sơn nổi lên vô tình giúp Chân Lạp vẫn còn giữ được đất đai ít nhiều.
Nhà Tây Sơn tồn tại từ năm 1778 đến năm 1802 cơ bản có một vai trò lịch sử nhứt định, thí dụ Tây Sơn từng diệt quân chiếm đóng Lê Trịnh chiếm Huế trong 11 năm, tháng 6/1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy chiếm lại Phú Xuân, giải phóng kinh đô, diệt sạch quân Lê Trịnh.
Tuy nhiên đối với Nam Kỳ thì không có vai trò gì cả, Tây Sơn coi Nam Kỳ như vùng tự do tha hồ cướp bóc, vơ vét, đốt phá mà không cần có một chánh sách nào để lấy lòng, phát triển Nam Kỳ. Tây Sơn không xây một cái gi ở Nam Kỳ, dù là một cái miếu hay cây cầu ..khỉ.
Người Nam Kỳ lúc đầu khá hồ hởi với Tây Sơn, nhưng sau tím gan bể mật, đành góp tiền góp gạo lập ra đạo quân Đông Sơn để bảo vệ xóm làng trước sự đe dọa của Tây Sơn.
Nguyễn Huệ có chút dính với Nam Kỳ ở trận Rạch Gầm-Xoài Hột vì có yếu tố “ngoại “ nên vô tình có vai ,nhưng than ôi ! “Nhơn tiện vô nhà dắt dê”, hành quân vô Mỹ Tho đánh Xiêm mà cũng nhơn tiện cướp phá một mớ ở Mỹ Tho đại phố đem về làm Mỹ Tho sụm bà chè.
Cuộc chiến Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh là một trong những giai đoạn thảm khốc của lịch sử.
Ai theo ai ghét ai măc hết?
Nhưng sau 1975 VN mang hơi hám của người nhỏ nhen, thù ghét nhà Nguyễn để đạp được chúa Nguyễn Ánh xuống bùn thì phải thổi cho Nguyễn Huệ lên cao.
Kiểu ca ngợi Đồ Chiểu để làm đối trọng hạ bệ hạ nhục TS Phan Thanh Giản.
Trò vô học, mất dạy.
Nguyễn Huệ là vị anh hùng nhưng lại mơ hồ nhứt trong sử Việt .
Vua Quang Trung đại phá quân Thanh cũng có con số mơ hồ, người ghi 20 vạn quân Thanh, kẻ chép 29 vạn. Nhà Thanh trào nói chỉ có ...6.000 quân. Các nhà sử học VN quốc gia ước đoán là 6 vạn, trong đó địa phương quân 3 vạn, dân phu 3 vạn.
Thực tế có bao nhiêu quân Thanh thì các nhà sử học còn loay hoay, con số thực chưa rõ ràng:
- Tưởng Quân Chương một nhà sử học Đài Loan vào những năm 60 thời VNCH đã dựa theo Thanh sử, châu bản, tấu chương của Tôn Sĩ Nghị. Ông Chương đưa ra con số 8.000 quân Thanh sang Việt Nam phò Lê Chiêu Thống trở về.
Nhà viết sử Tạ Chí Ðại Trường trong tác phẩm "Lịch sử nội chiến Việt Nam 1771-1802" đã du di "chấp nhận" đại con số "sĩ diện" nhứt là 20 vạn (200.000 quân).
Ông Nguyễn Duy Chính thì đưa ra con số 18.000 quân dựa vào sách Tàu. Ông viết:
“Việc dựng lại các trận đụng độ giữa quân Thanh và quân Nam trong vòng một tháng tiến binh của họ cần phải được cân nhắc để không quá sơ sài như sử nước ta mà cũng không huyênh hoang như sử Trung Hoa.
Vấn đề quân số nhà Thanh đem sang nước ta là bao nhiêu cũng cần được đánh giá lại . Việc khẳng định 20, 30, 50 vạn như nhiều sách vở khó có thể coi là chính xác, phần lớn do nhận định chủ quan và dựa trên ước đoán tổng quát.
Riêng sách vở của Trung Hoa thì họ luôn luôn nhắc lại con số trong Đại Thanh thực lục là một vạn quân mặt đông và tám ngàn quân mặt tây đưa đến con số 18.000 quân cho cả hai mặt
(..)
Vua Càn Long chỉ sử dụng quân của bốn tỉnh phía Nam và Tây Nam như một cuộc chiến ủy nhiệm khác hẳn các chiến dịch khác thường điều động nhiều cánh quân từ nhiều vùng, nhất là Bát Kỳ Binh ở miền Bắc.”
Trần Quốc Vượng cũng cho là 20 vạn.
Quân Thanh thời Càn Long là quân chánh quy, tinh nhuệ, nhưng quân của Tôn Sĩ Nghị qua VN là quân địa phương thuộc Vân Nam và Quảng Tây, không phải quân trong bát kỳ.
Sử liệu về trận Đống Đa hồi mấy năm trước sách báo thuộc phe Hà Nội đưa ra là 29 vạn, mấy năm nay rút bớt còn ...20 vạn. Thành ra bọn trẻ đọc sách bán trong các nhà sách cứ thấy cuốn nói 29 vạn, cuốn ghi 20 vạn, nó hỏi rốt cuộc là bao nhiêu?
Sự thực là bao nhiêu thì ...Trời biết. Để tháng rộng năm dài, từ từ sẽ cho ra con số thực nhứt.
Những vụ mô tả kiểu thần thoại sẽ làm người ta thắc mắc.
Hoàng Lê nhất thống chí, một bộ tiểu thuyết chương hồi khen Nguyễn Huệ ngút trời thì cho con số là "50 vạn", rồi có sách in lại "30 vạn".
Một số nhà sử học không tin Hoàng Lê nhất thống chí, nói nó không chánh thống trong lịch sử.
Linh Mục Nguyễn Phương, giáo sư sử học đại học Huế viết "Giá trị Hoàng Lê nhất thống chí" đăng trên báo Bách Khoa, ngày 14-5-1963 đánh giá thấp giá trị lịch sử của nó, ông xếp Hoàng Lê nhất thống chí vào loại sách truyện, ngoại thư.
Trận Đống Đa không dễ dàng như Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái mô tả đâu. Còn cho rằng quân Nguyễn Huệ đi sau các tấm ván mộc bia, cứ ba mươi người cầm một tấm, tất cả là hai mươi bức để tấn lên thì …hơi ước lệ, vì đại bác Thanh nó thụt thì ván nào chịu thấu.
Chiến thắng Ngọc Hồi đã diễn ra năm 1789. Tuy nhiên số liệu và chiến thuật đánh chiếm đồn Ngọc Hồi của quân Tây Sơn chưa có sự thống nhứt, mỗi sách,mỗi sử gia lại nói mỗi khác.
Trong việc tấn công đồn Ngọc Hồi, việc dùng “tấm ván phủ rơm” như Hoàng Lê nhất thống chí tả có hơi hám "tiểu thuyết" kiểu "Tam quốc chí".
"Hoàng Lê nhất thống chí" là cuốn tiểu thuyết tuyên giáo của Nguyễn Huệ do chính ông Ngô Thời Nhiệm là một quan của Nguyễn Huệ viết phần lớn .
Hoàng Lê nhất thống chí chép:
"Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn; hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất"; vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi (theo Dã sử, thì lúc này vua Quang Trung sai đốt hết lương thực và tự mình quấn khăn vàng vào cổ để tỏ ý quyết chiến quyết thắng, không chịu lùi).Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình.
Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa; những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh."
Ván dầy ra sao, dài ngắn ra sao thì không nói rõ, mập mờ. Chỉ nói ba tấm làm một, mười người khiêng, ngoài phủ rơm ướt và tiến lên thành chữ nhứt.
Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thì trận Ngọc Hồi lại khác, những dòng này được sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục"ghi:
“Hồi trống canh năm sớm hôm sau (mùng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789),Văn Huệ xắn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên.
Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng, quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, té chạy, lồng lộn quay về chà đạp lẫn nhau. Giặc (là Tây Sơn) lại lùa voi xông đến: quân Thanh trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút vào trong lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to lớn để che chở mà lăn xả vào, rồi quân tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy”
Chú ý câu " Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa".
"Thanh thực lục" tường thuật lại trận Ngọc Hồi như sa :
“Vào canh năm ngày này (mùng 5) Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng 100 thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ.
Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ ngọ quân Nguyễn Tây Sơn bắn hỏa tiễn, hỏa châu tới tấp, lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau (Ngọ thời, Nguyễn quân loạn phóng hỏa tiễn, hỏa châu, tịnh dĩ hòa cán tác đại thúc, loạn cổn nhi tiền, khinh binh tùy chi) trước sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá nửa.”
Chú ý câu "Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch".
Ngó hai đoạn trích dẫn, có thể thấy""Khâm định Việt sử thông giám cương mục" của Quốc sử quán nhà Nguyễn và "Thanh thực lục" của Trung Quốc tả và viết trận Ngọc Hồi giống nhau là dùng "rơm cuộn".
Trong một bức họa "Chiến dịch Turkestan 1755-1759" người ta thấy quân Thanh có đại bác và súng rồi.
Như "Thanh thực lục" đã viết "Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch" rồi bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, đắp mô, đào hào thì không có cách nào 10 lính Tây Sơn chân trần mà "ôm tấm ván" lớn dàn trận hình chữ “nhứt” rầm rộ tiến vào mà đi ...như ngoài Ba Đình diễu binh mà như Hoàng Lê nhất thống chí tả là "Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả" được.
Mà ván nó thế nào, bằng cỡ tấm ván trên bộ ngựa của người Nam Kỳ không?
Ôm tấm ván lớn và dầy, đi qua hầm chông, qua mô và súng phía trước, trên cao nã xuống như mưa mà "chẳng trúng người nào cả" thì chắc là có phép tiên.
Đúng là văn chương "Hoàng Lê nhất thống chí".
Sách "An Nam quân doanh kỷ yếu " của quan Thanh là Trần Nguyên Nhiếp viết về trận này như sau:
“Trên lưng mỗi con voi có ba bốn tên quân giặc chít khăn đỏ,ngồi ném tung hỏa cầu lưu huỳnh ra khắp nơi, đốt cháy cả người nữa.”
Tây Sơn có "Hỏa hổ" và "Hỏa cầu lưu huỳnh"dùng để đánh cận chiến xáp lá cà. Tuy nhiên trong vụ ôm "tấm ván" này hình như không xử dụng được,sách không hề ghi chép.
Các nhà sử học theo phe Tây Sơn sử dụng "Hoàng Lê nhất thống chí" làm sử liệu nên tới bây giờ mờ mịt về thông tin và số liệu chính xác.
Rồi thua nhục như vậy, sao Càn Long lại ..im re?
Sử VN cho rằng sau đó Nguyễn Huệ làm huề, cho “giả vương” qua chầu Càn Long, nhưng có nguồn sử Thanh nói chính Nguyễn Huệ thiệt qua chầu và Nguyễn Huệ đã quỳ mọp xuống …hôn chân Càn Long xin nghị hòa, thần phục. Tất nhiên nhiều người VN có tinh thần dân tộc sẽ phản đối lý lẽ này.
Trận Rạch Gầm-Xoài Hột cũng vậy, người " anh cả lý luận" sau 1975 hô biến từ 2 vạn quân Xiêm thành 5 vạn quân Xiêm trong sách giáo khoa.
Sách sử tòan thêm thắt, thí dụ các ông đô đốc của Nguyễn Huệ như đô đốc Bảo, đô đốc Tuyết, độ đốc Lộc, đô đốc Thủ, đô đốc Long đều không có lý lịch, tiểu sử rõ ràng. Sau này cứ tha hồ phong cho ông A bà B nào đó.
 
Người đời sau này tự ý phong tặng danh vị cho Tây Sơn, thí dụ “Tây Sơn thất hổ tướng”, ”Tây Sơn ngũ phụng thư”.
Người sau này viết sách mặc định “Tây Sơn thất hổ tướng” gồm có Vũ Văn Dũng, Võ Đình Túc, Trần Quang Diệu, Đô đốc Tuyết,,Lê Văn Hưng, Lý Văn Bưu và Nguyễn Văn Lộc.
“Tây Sơn ngũ phụng thư,”gồm: Bùi Thị Xuân, Hoàng hậu Bùi Thị Nhạn, Trần Thị Lan, Huỳnh Thị Cúc, Nguyễn Thị Dung.
Rồi viết sách ca ngợi cách thần tốc của Tây Sơn nhưng không làm sao lý giải được cách hành quân thế nào là nhanh? ,Nhanh bằng đi …võng ư?
Chúng ta biết rằng giữa Thái Đức Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đã có xung đột ý thức hệ và cách thức điều hành chánh sự nên hai anh em mang quân đánh nhau chết lính mấy chục ngàn.
Thái Đức Nguyễn Nhạc có tầm nhìn, ông này “tuyển mộ” lính, trong khi Nguyễn Huệ là “bắt lính” (Đờn ông từ 16 tới 65 bắt hết).
Thái Đức Nguyễn Nhạc liệu cơm gấp mắm trong những cuộc hành quân lớn,nhưng Nguyễn Huệ thì hăng hái tới mức chích moocphin đánh suốt làm người dân, lính tráng không kịp hồi sức.
Thái Đức Nguyễn Nhạc bị ý thức hệ ******** kết án “Thủ thân", bằng lòng, hưởng lạc, lo dưỡng già ở thành Đồ Bàn Thậm chí có người còn phao Thái Đức ..lấy vợ Nguyễn Huệ ??
Tuy nhiên rõ ràng Nguyễn Nhạc biết sức mình hơn ai hết, đó là thức thời. Có khi là nhìn Thiên Mệnh biết rõ Tây Sơn không vững chắc cũng nên, thôi thì ta hưởng phú quý ngày nào hay ngày đó.
Lịch sử là những gì đã diễn ra,và người lịch sử cũng đã khuất từ lâu, Nguyên Huệ hay Gia Long đều ra thiên cổ. Có yêu có ghét thì cũng đã quá vãng rồi.
Nhưng danh dự của người đang sống,người có học là phải công bằng với những người đã chết.
Lịch sử là công bằng ,là sự thực.
Thành ra tui nghĩ:
Nguyễn Huệ vốn phai lợt trong lòng xứ Nam Kỳ từ xưa lận ,người Nam đã đọc sử và biết rõ Nguyễn Huệ là ai rồi.
Sau này không ai kết án Nguyễn Huệ đâu, chẳng ai xóa tên cái đại lộ Nguyễn Huệ ở Sài Gòn hết. Việt Nam là dân tộc có tâm tánh thích võ lực,thành ra trận đánh Thanh, đánh Xiêm cũng đủ cho Nguyễn Huệ xưng hùng rồi.
Nhưng chắc chắn trong sách sử của VN, trong sách giáo khoa dạy học trò khi viết về Nguyễn Huệ có những Ngọc Hồi Đống Đa, có Rạch Gầm Xoài Hột thì cũng có những sự kiện như đào tường, khoét vách, đốt nhà, phá chùa, cướp thóc gạo chở về Qui Nhơn, trong tàn sát Cù Lao Phố, tàn sát Chợ Lớn, tàn sát Mỹ Tho đại phố, đốt phá tan tành Hội An, Phố Hiến Kinh Kỳ …
Lịch sử công bằng, lịch sử phán quyết tất cả.
 

Có thể bạn quan tâm

Top