ditthangbanh
Người phá đò sông Đà
Nhiều thằng bảo Minh Mạng giỏi làm tao tưởng thật, ai ngờ đọc qua thì không thấy giỏi lắm. Đất nước vừa xảy ra biến loạn mãi mới thống nhất thì ông này liên tục động binh để thị uy quyền lực khiến hàng trăm nổi dậy nổ ra, thuộc địa thì bị ép quá tự li khai luôn, rồi thì bế quan tỏa càng, cấm tôn giáo. Chưa kể nghi án vu cho cháu loạn luân với chị dâu. Những tốn kém từ thời Minh Mạng khiến cho Quốc lực suy yếu, đến thời sau thống kê 4 người mới có một khẩu súng hỏa mai, không thể mua thêm nhiều vũ khí hay bổ xung tàu chiến. Đời cha ăn mạn đời con cháu không chống nổi người Pháp luôn.
Vụ Lê Văn Khôi
Sau khi đức tả quân Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bắt đầu giành lại quyền lực cho chính quyền trung ương tại kinh đô Huế.
Hai tổng trấn là Bắc thành và Gia định thành bị bãi bỏ, đổi lại thành các tỉnh, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ kinh thành.
Các quan lại được cử vào Gia định bắt đầu tìm chứng cứ, ghép tội đối với tả quân Lê Văn Duyệt.
Sau khi định được tội, vua Minh Mạng xử tả quân, nhưng vì người đã chết rồi nên chỉ phạt "đánh mộ". Thân thích, con nuôi của Lê Văn Duyệt bị giam tù, trong đó có Lê Văn Khôi.
Vốn là người gốc Cao Bằng, từng nổi loạn ở phía Bắc, sau quy thuận triều đình và về dưới trướng Lê Văn Duyệt, ông đã được nhận làm con nuôi, đổi sang họ Lê và cùng cha nuôi vào Nam theo đường binh nghiệp.
Ngày 8/7/1833, trước tình thế cha nuôi dù đã chết vẫn bị xử tội, bản thân mình thì bị tống giam. Lê Văn Khôi quyết định vượt ngục, tập hợp lực lượng, tuyên bố bất phục triều đình, ủng hộ hậu duệ của hoàng tử Cảnh.
Lê Văn Khôi dẫn binh đuổi giết các quan lại được vua Minh Mạng phái vào Gia Định, trả thù cho cha, và đánh chiếm luôn thành Phiên An (tức thành Gia Định). Đồng thời, thân tín khắp nơi cũng hợp lực nên chỉ trong 3 ngày thì toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh đã về tay ông.
Triều đình Huế tất nhiên không chịu ngồi yên. Một lượng lớn thủy bộ tượng binh được điều gấp vào Nam.
Các tỉnh xung quanh Gia định lần lượt về lại với triều đình. Nhân dân, thương nhân ở các địa phương cũng không mấy mặn mà với chính biến.
Lê Văn Khôi yếu thế, lại có một bước đi sai lầm khi cầu viện... Xiêm la. Ngoài ra ông còn cầu viện các giáo sĩ công giáo, trong đó có Joseph Marchand, người sau này được Rome phong Thánh.
Lực lượng của Lê Văn Khôi rút vào thành Phiên An, ngoài các binh sĩ thân tín còn có các giáo sĩ và giáo dân công giáo, người gốc Hoa, ...
Xiêm la nhận lời cầu cứu của Lê Văn Khôi cũng xuất binh nhưng bị lực lượng của vua Minh Mạng đánh bại. Trong khi người dân Nam kỳ lục tỉnh sau khi thấy sự cầu viện của Lê Văn Khôi lại càng không ủng hộ ông, không hề có hành động tiếp cứu hay chia lửa. Thân cô thế cô khiến những người tham gia binh biến chỉ còn biết dựa vào toà thành cố thủ.
Ấy vậy mà quân triều đình cũng không thể giải quyết nhanh gọn một toà thành, họ bao vây nó 2 năm trời, đến khi Lê Văn Khôi chết vì bệnh, con trai mới 8 tuổi lên thay, quân số trong thành chết nhiều vì bệnh tả, khi ấy, quân triều đình mới tiến được vào thành và giành chiến thắng.
Sau cuộc chiến, vua Minh Mạng xử tội (lần 2) với tả quân Lê Văn Duyệt, còn Lê Văn Khôi bị đào mộ, cắt sọ đem ra Huế diễu phố, xương bị táng nát rồi đưa về sáu tỉnh bỏ vào hố xí. Con trai Lê Văn Khôi và các thủ lĩnh binh biến, bao gồm cả giáo sĩ Joseph Marchand, và một chỉ huy người Triều Châu, bị giải ra Huế, xử lăng trì, bêu đầu. Gần 2.000 người còn trong thành, không phân nam nữ già trẻ, không cần điều tra lý lịch, tất thảy bị giết và chôn vào hố tập thể khổng lồ, gọi là gò Mả Ngụy, hiện nằm đâu đó gần ngã sáu Công trường dân chủ, Quận 3, Tp.HCM.
Dân Gia định xưa khi cúng cô hồn hay làm bánh xanh xanh đỏ đỏ để cúng vì con trai Lê Văn Khôi khi bị hành hình vẫn chỉ là một đứa trẻ, và trong gần 2 nghìn người bị giết và vùi vào hố cũng có rất nhiều trẻ em.
Còn về toà thành Phiên An, hay còn gọi là thành Bát Quái, thành Quy, vua Minh Mạng cho rằng chính vì toà thành này mà quân biến loạn cầm cự được 2 năm, nên cho đập hết và xây thành mới nhỏ hơn, gọi là thành Phụng, hay thành Gia định.
Đồ sát Chăm pa
Khởi đầu cho cuộc trừng phạt, Minh Mệnh ra lệnh cách chức và bắt giam tất cả quan lại Champa ; tịch thu tất cả tài sản của họ và sau đó đưa vào gông cùm để tra tấn; buộc người Chăm phải khai báo những gì liên quan đến phong tục tập quán của vương quốc này ; ra lệnh trừng phạt chức sắc Chăm bằng cách bắt buộc các vị tu sĩ Chăm Bani (Hồi Giáo) phải ăn thịt heo, thịt dông và tu sĩ Chăm Bà La Môn phải ăn thịt bò ; ra lệnh đồng hóa người Chăm thành người Kinh bằng cách buộc người Chăm phải mang đồng phục người Kinh, ngăn cấm tuyệt đối người Chăm không có quyền cúng quẩy hay thực thi nghi lễ tín ngưỡng của họ; bắt buộc dân chúng Chăm phải làm nô dịch vô cùng nặng nề như việc nộp cống các loại gỗ quý, voi rừng, ngà voi, v.v, chưa nói đến khổ dịch mang súng đạn và xung phong trên chiến trường chống lại cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào năm 1833-1834.
Minh Mệnh còn cho phép quan lại người Kinh đứng ra chỉ đạo, dùng roi gậy đánh đập người Chăm nếu họ làm nô dịch quá chậm chạp ; buộc người Chăm phải nộp những món thịt của thú rừng như hưu, nai, thỏ, bò, v.v.. Một khi người Chăm không tìm ra món thịt thú rừng, các quan lại người Kinh san bằng nghĩa trang Chăm, chưa nói đến việc đưa người Chăm ra xử trảm.
Sau đó Minh Mệnh còn buộc người Chăm phải lấy tên họ theo người Hoa như Quảng, Hứa, Đàng, Lâm, Châu, Thành, v.v., xóa bỏ tất cả những chức vụ quan lại Champa để thay vào đó những chức vụ mà hệ thống hành chánh Việt Nam đã qui hoạch như chánh tổng, lý trưởng, trùm, biện, hào mục, v.v.
Chính sách trừng phạt của triều đình Huế đã làm đảo lộn hoàn toàn hệ thống tổ chức xã hội Chăm để rồi trong gia đình người em không còn biết người anh là ai; cháu không còn tôn trọng bậc chú bác; các thành viên trong gia đình đối xử với nhau như người Chăm-Kinh, không ngần ngại kéo nhau ra thưa kiện trước pháp lý Việt Nam.
Hết nộp thuế nặng nề, dân chúng Champa phải nộp một số lượng gỗ cho chính quyền Việt Nam dùng để đóng tàu chiến, xe bò hay đốt lò gạch ; phải xây dựng đập nước và hệ thống dẫn thủy nhập điền cho ruộng lúa của người Kinh ; ra lệnh tịch thu tất cả ruộng muối của người Chăm, được xem như là mạch máu kinh tế của dân tộc này,
Sau năm 1832, dân tộc Chăm tiếp thu thêm một khái niệm mới về tham nhũng mà họ chưa từng nghe đến trong đời. Những quan lại người Kinh không ngừng đòi tiền hối lộ của người Chăm để được miễn nô dịch ; không ngần ngại chia đất đai người Chăm thành mảnh vụn để đóng thuế và hình thành chính sách cho vay nặng lãi để rồi chủ nợ người Kinh tha hồ chiếm đoạt tài sản và ruộng rẫy của người Chăm thiếu nợ, hay bắt họ làm vật thế chấp.
Nếu người Chăm than van về thuế má quá nặng nề, hành động thối nát và tham nhũng của các quan lại người Kinh nhằm bóc lột người Chăm, thì nông dân Việt Nam vào thời điểm đó cũng không thoát khỏi nanh vuốt của triều đình Huế. Dân tộc Việt cũng bị các cường hào quan lại tướt đoạt tài sản và bị đè bẹp bởi nô dịch và thuế má. Một khi không chịu nổi cơ cực nữa, nông dân Việt Nam chỉ còn cách là nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành và cuộc vùng dậy của Lê Duy Lương và Nùng Văn Vân ở phía bắc vào năm 1833 là thí dụ điển hình.
Phong trào Hồi Giáo của Katip Sumat (1833-1834)
Katip Sumat là vị tu sĩ Chăm Hồi Giáo sinh ở Campuchia, đã từng sang Mã Lai du học về triết lý Hồi Giáo. Nghe tin vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832, Katip Sumat rời Mã Lai trở về Champa để hình thành một phong trào đấu tranh chống triều đình Huế vào năm 1833. Mục tiêu của Katip Sumat là giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của Việt Nam. Muốn tiến đến mục tiêu này, Katip Sumat dùng triết lý Hồi Giáo làm khung cho chủ thuyết đấu tranh đó là hình thành mặt trận “thánh chiến Hồi Giáo” (Jihad) chống lại triều đình Huế.
Sự vùng dậy của Katip Sumat đã biến dân chúng Champa thành nạn nhân của chiến cuộc. Để dập tan quân phiến loạn, Minh Mệnh ra lệnh cho binh lính của triều đình Huế tha hồ giết hại người Chăm vô tội và tung ra “chiến trường đỏ lửa” bằng cách đốt phá tất cả làng mạc người Chăm theo Katip Sumat, nhất là những làng mạc gần bờ biển hầu ngăn chặn người Chăm chạy sang nước ngoài, trong khi đó dân cư người Kinh ở Bình Thuận sẵn có súng đạn trong tay tìm cách giải quyết mối hận thù riêng bằng cách giết hại người Chăm không gớm tay
Trước lực lượng hùng mạnh của vua Minh Mệnh, Katip Sumat buộc phải lui về miền núi nằm ở phía tây và ra lệnh cho quân lính Chăm tiếp tục đương đầu với triều đình Huế ở đồng bằng, nhưng không gặt hái kết quả gì.
Ai cũng biết, Minh Mệnh là vị quốc vương rất tôn sùng giá trị văn hóa của dân tộc Việt và không bao giờ chấp nhận một tôn giáo ngoại lai nào du nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó, cuộc khởi nghĩa của người Chăm dựa vào chủ thuyết Hồi Giáo du nhập từ bên ngoài có thể gây ra những mối nguy cơ mà vua Minh Mệnh phải dập tan bằng mọi cách, càng sớm càng tốt.
Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa (1834-1835)
Xuất thân từ Palei Ram (thôn Văn Lăm, Ninh Thuận), Ja Thak Wa không phải người Hồi Giáo chính thống mà là vị tu sĩ Chăm Bani, quyết định ly khai ra khỏi tổ chức cũa Katip Sumat để hình thành một cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế. Nhằm tiến đến mục tiêu, Ja Thak Wa thành lập một chính phủ Champa lâm thời vào cuối năm 1834, tôn vinh Po War Palei, gốc người Raglai, tức là em rể của phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) lên làm quốc vương nhằm phục hồi lại vương niệm Champa thuộc dòng tộc Po Rome gốc người miền núi (Kaho hay Churu, tùy theo dị bản) ở Đổng Nai Thượng, nắm quyền Champa từ năm 1627 cho đến triều đại Po Cei Brei (1783-1786). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa bùng nổ vào tháng 7 năm Ngọ lịch Chăm (1834). Đây là cuộc chiến vô cùng khốc liệt, vang dội như sấm sét làm rung chuyển cả trời đất.
Nhằm dập tan cuộc khởi nghĩa này, biên niên sử Chăm cho rằng vua Minh Mệnh ra lệnh cho mỗi binh lính người Kinh phải chặt ba cái đầu của người Chăm vào mỗi buổi sáng mới nhận được tiền lương. Lợi dụng chỉ dụ này, người Kinh tha hồ chém đầu người dân Chăm vô tội, càng nhiều càng tốt, để đem nộp cho chính quyền Việt Nam hầu nhận tiền thưởng. Đây là cuộc chém giết người Chăm vô cùng kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử Đông Nam Á.
Đầu năm 1835 là giai đoạn đánh dấu cho những trận chiến khốc liệt tại đồng bằng Phan Rang, nơi mà Ja Thak Wa bị tử trận trên bãi chiến trường. Lợi dụng cơ hội này, vua Minh Mệnh ra lệnh tử hình quốc vương Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) vá phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) vào tháng 6 năm Ất Vị (1835) ; đốt phá tất cả thôn làng người Chăm dọc theo bờ biển; chém giết những người Chăm nào tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa ; đập phá nghĩa địa tổ tiên của người Chăm; đào mồ mả vua chúa Champa và đốt phá cả đền Po Rome ở khu vực Phan Rang ; cắt đứt hẳn mối liên lạc giữa người Chăm và dân tộc miền núi để họ không còn tụ tập chiến đấu chống triều đình Huế nữa.
.... Từ từ tao đưa thêm vào, dự liệu nhiều quá.
Vụ Lê Văn Khôi
Sau khi đức tả quân Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bắt đầu giành lại quyền lực cho chính quyền trung ương tại kinh đô Huế.
Hai tổng trấn là Bắc thành và Gia định thành bị bãi bỏ, đổi lại thành các tỉnh, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ kinh thành.
Các quan lại được cử vào Gia định bắt đầu tìm chứng cứ, ghép tội đối với tả quân Lê Văn Duyệt.
Sau khi định được tội, vua Minh Mạng xử tả quân, nhưng vì người đã chết rồi nên chỉ phạt "đánh mộ". Thân thích, con nuôi của Lê Văn Duyệt bị giam tù, trong đó có Lê Văn Khôi.
Vốn là người gốc Cao Bằng, từng nổi loạn ở phía Bắc, sau quy thuận triều đình và về dưới trướng Lê Văn Duyệt, ông đã được nhận làm con nuôi, đổi sang họ Lê và cùng cha nuôi vào Nam theo đường binh nghiệp.
Ngày 8/7/1833, trước tình thế cha nuôi dù đã chết vẫn bị xử tội, bản thân mình thì bị tống giam. Lê Văn Khôi quyết định vượt ngục, tập hợp lực lượng, tuyên bố bất phục triều đình, ủng hộ hậu duệ của hoàng tử Cảnh.
Lê Văn Khôi dẫn binh đuổi giết các quan lại được vua Minh Mạng phái vào Gia Định, trả thù cho cha, và đánh chiếm luôn thành Phiên An (tức thành Gia Định). Đồng thời, thân tín khắp nơi cũng hợp lực nên chỉ trong 3 ngày thì toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh đã về tay ông.
Triều đình Huế tất nhiên không chịu ngồi yên. Một lượng lớn thủy bộ tượng binh được điều gấp vào Nam.
Các tỉnh xung quanh Gia định lần lượt về lại với triều đình. Nhân dân, thương nhân ở các địa phương cũng không mấy mặn mà với chính biến.
Lê Văn Khôi yếu thế, lại có một bước đi sai lầm khi cầu viện... Xiêm la. Ngoài ra ông còn cầu viện các giáo sĩ công giáo, trong đó có Joseph Marchand, người sau này được Rome phong Thánh.
Lực lượng của Lê Văn Khôi rút vào thành Phiên An, ngoài các binh sĩ thân tín còn có các giáo sĩ và giáo dân công giáo, người gốc Hoa, ...
Xiêm la nhận lời cầu cứu của Lê Văn Khôi cũng xuất binh nhưng bị lực lượng của vua Minh Mạng đánh bại. Trong khi người dân Nam kỳ lục tỉnh sau khi thấy sự cầu viện của Lê Văn Khôi lại càng không ủng hộ ông, không hề có hành động tiếp cứu hay chia lửa. Thân cô thế cô khiến những người tham gia binh biến chỉ còn biết dựa vào toà thành cố thủ.
Ấy vậy mà quân triều đình cũng không thể giải quyết nhanh gọn một toà thành, họ bao vây nó 2 năm trời, đến khi Lê Văn Khôi chết vì bệnh, con trai mới 8 tuổi lên thay, quân số trong thành chết nhiều vì bệnh tả, khi ấy, quân triều đình mới tiến được vào thành và giành chiến thắng.
Sau cuộc chiến, vua Minh Mạng xử tội (lần 2) với tả quân Lê Văn Duyệt, còn Lê Văn Khôi bị đào mộ, cắt sọ đem ra Huế diễu phố, xương bị táng nát rồi đưa về sáu tỉnh bỏ vào hố xí. Con trai Lê Văn Khôi và các thủ lĩnh binh biến, bao gồm cả giáo sĩ Joseph Marchand, và một chỉ huy người Triều Châu, bị giải ra Huế, xử lăng trì, bêu đầu. Gần 2.000 người còn trong thành, không phân nam nữ già trẻ, không cần điều tra lý lịch, tất thảy bị giết và chôn vào hố tập thể khổng lồ, gọi là gò Mả Ngụy, hiện nằm đâu đó gần ngã sáu Công trường dân chủ, Quận 3, Tp.HCM.
Dân Gia định xưa khi cúng cô hồn hay làm bánh xanh xanh đỏ đỏ để cúng vì con trai Lê Văn Khôi khi bị hành hình vẫn chỉ là một đứa trẻ, và trong gần 2 nghìn người bị giết và vùi vào hố cũng có rất nhiều trẻ em.
Còn về toà thành Phiên An, hay còn gọi là thành Bát Quái, thành Quy, vua Minh Mạng cho rằng chính vì toà thành này mà quân biến loạn cầm cự được 2 năm, nên cho đập hết và xây thành mới nhỏ hơn, gọi là thành Phụng, hay thành Gia định.
Đồ sát Chăm pa
Khởi đầu cho cuộc trừng phạt, Minh Mệnh ra lệnh cách chức và bắt giam tất cả quan lại Champa ; tịch thu tất cả tài sản của họ và sau đó đưa vào gông cùm để tra tấn; buộc người Chăm phải khai báo những gì liên quan đến phong tục tập quán của vương quốc này ; ra lệnh trừng phạt chức sắc Chăm bằng cách bắt buộc các vị tu sĩ Chăm Bani (Hồi Giáo) phải ăn thịt heo, thịt dông và tu sĩ Chăm Bà La Môn phải ăn thịt bò ; ra lệnh đồng hóa người Chăm thành người Kinh bằng cách buộc người Chăm phải mang đồng phục người Kinh, ngăn cấm tuyệt đối người Chăm không có quyền cúng quẩy hay thực thi nghi lễ tín ngưỡng của họ; bắt buộc dân chúng Chăm phải làm nô dịch vô cùng nặng nề như việc nộp cống các loại gỗ quý, voi rừng, ngà voi, v.v, chưa nói đến khổ dịch mang súng đạn và xung phong trên chiến trường chống lại cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào năm 1833-1834.
Minh Mệnh còn cho phép quan lại người Kinh đứng ra chỉ đạo, dùng roi gậy đánh đập người Chăm nếu họ làm nô dịch quá chậm chạp ; buộc người Chăm phải nộp những món thịt của thú rừng như hưu, nai, thỏ, bò, v.v.. Một khi người Chăm không tìm ra món thịt thú rừng, các quan lại người Kinh san bằng nghĩa trang Chăm, chưa nói đến việc đưa người Chăm ra xử trảm.
Sau đó Minh Mệnh còn buộc người Chăm phải lấy tên họ theo người Hoa như Quảng, Hứa, Đàng, Lâm, Châu, Thành, v.v., xóa bỏ tất cả những chức vụ quan lại Champa để thay vào đó những chức vụ mà hệ thống hành chánh Việt Nam đã qui hoạch như chánh tổng, lý trưởng, trùm, biện, hào mục, v.v.
Chính sách trừng phạt của triều đình Huế đã làm đảo lộn hoàn toàn hệ thống tổ chức xã hội Chăm để rồi trong gia đình người em không còn biết người anh là ai; cháu không còn tôn trọng bậc chú bác; các thành viên trong gia đình đối xử với nhau như người Chăm-Kinh, không ngần ngại kéo nhau ra thưa kiện trước pháp lý Việt Nam.
Hết nộp thuế nặng nề, dân chúng Champa phải nộp một số lượng gỗ cho chính quyền Việt Nam dùng để đóng tàu chiến, xe bò hay đốt lò gạch ; phải xây dựng đập nước và hệ thống dẫn thủy nhập điền cho ruộng lúa của người Kinh ; ra lệnh tịch thu tất cả ruộng muối của người Chăm, được xem như là mạch máu kinh tế của dân tộc này,
Sau năm 1832, dân tộc Chăm tiếp thu thêm một khái niệm mới về tham nhũng mà họ chưa từng nghe đến trong đời. Những quan lại người Kinh không ngừng đòi tiền hối lộ của người Chăm để được miễn nô dịch ; không ngần ngại chia đất đai người Chăm thành mảnh vụn để đóng thuế và hình thành chính sách cho vay nặng lãi để rồi chủ nợ người Kinh tha hồ chiếm đoạt tài sản và ruộng rẫy của người Chăm thiếu nợ, hay bắt họ làm vật thế chấp.
Nếu người Chăm than van về thuế má quá nặng nề, hành động thối nát và tham nhũng của các quan lại người Kinh nhằm bóc lột người Chăm, thì nông dân Việt Nam vào thời điểm đó cũng không thoát khỏi nanh vuốt của triều đình Huế. Dân tộc Việt cũng bị các cường hào quan lại tướt đoạt tài sản và bị đè bẹp bởi nô dịch và thuế má. Một khi không chịu nổi cơ cực nữa, nông dân Việt Nam chỉ còn cách là nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành và cuộc vùng dậy của Lê Duy Lương và Nùng Văn Vân ở phía bắc vào năm 1833 là thí dụ điển hình.
Phong trào Hồi Giáo của Katip Sumat (1833-1834)
Katip Sumat là vị tu sĩ Chăm Hồi Giáo sinh ở Campuchia, đã từng sang Mã Lai du học về triết lý Hồi Giáo. Nghe tin vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832, Katip Sumat rời Mã Lai trở về Champa để hình thành một phong trào đấu tranh chống triều đình Huế vào năm 1833. Mục tiêu của Katip Sumat là giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của Việt Nam. Muốn tiến đến mục tiêu này, Katip Sumat dùng triết lý Hồi Giáo làm khung cho chủ thuyết đấu tranh đó là hình thành mặt trận “thánh chiến Hồi Giáo” (Jihad) chống lại triều đình Huế.
Sự vùng dậy của Katip Sumat đã biến dân chúng Champa thành nạn nhân của chiến cuộc. Để dập tan quân phiến loạn, Minh Mệnh ra lệnh cho binh lính của triều đình Huế tha hồ giết hại người Chăm vô tội và tung ra “chiến trường đỏ lửa” bằng cách đốt phá tất cả làng mạc người Chăm theo Katip Sumat, nhất là những làng mạc gần bờ biển hầu ngăn chặn người Chăm chạy sang nước ngoài, trong khi đó dân cư người Kinh ở Bình Thuận sẵn có súng đạn trong tay tìm cách giải quyết mối hận thù riêng bằng cách giết hại người Chăm không gớm tay
Trước lực lượng hùng mạnh của vua Minh Mệnh, Katip Sumat buộc phải lui về miền núi nằm ở phía tây và ra lệnh cho quân lính Chăm tiếp tục đương đầu với triều đình Huế ở đồng bằng, nhưng không gặt hái kết quả gì.
Ai cũng biết, Minh Mệnh là vị quốc vương rất tôn sùng giá trị văn hóa của dân tộc Việt và không bao giờ chấp nhận một tôn giáo ngoại lai nào du nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó, cuộc khởi nghĩa của người Chăm dựa vào chủ thuyết Hồi Giáo du nhập từ bên ngoài có thể gây ra những mối nguy cơ mà vua Minh Mệnh phải dập tan bằng mọi cách, càng sớm càng tốt.
Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa (1834-1835)
Xuất thân từ Palei Ram (thôn Văn Lăm, Ninh Thuận), Ja Thak Wa không phải người Hồi Giáo chính thống mà là vị tu sĩ Chăm Bani, quyết định ly khai ra khỏi tổ chức cũa Katip Sumat để hình thành một cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế. Nhằm tiến đến mục tiêu, Ja Thak Wa thành lập một chính phủ Champa lâm thời vào cuối năm 1834, tôn vinh Po War Palei, gốc người Raglai, tức là em rể của phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) lên làm quốc vương nhằm phục hồi lại vương niệm Champa thuộc dòng tộc Po Rome gốc người miền núi (Kaho hay Churu, tùy theo dị bản) ở Đổng Nai Thượng, nắm quyền Champa từ năm 1627 cho đến triều đại Po Cei Brei (1783-1786). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa bùng nổ vào tháng 7 năm Ngọ lịch Chăm (1834). Đây là cuộc chiến vô cùng khốc liệt, vang dội như sấm sét làm rung chuyển cả trời đất.
Nhằm dập tan cuộc khởi nghĩa này, biên niên sử Chăm cho rằng vua Minh Mệnh ra lệnh cho mỗi binh lính người Kinh phải chặt ba cái đầu của người Chăm vào mỗi buổi sáng mới nhận được tiền lương. Lợi dụng chỉ dụ này, người Kinh tha hồ chém đầu người dân Chăm vô tội, càng nhiều càng tốt, để đem nộp cho chính quyền Việt Nam hầu nhận tiền thưởng. Đây là cuộc chém giết người Chăm vô cùng kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử Đông Nam Á.
Đầu năm 1835 là giai đoạn đánh dấu cho những trận chiến khốc liệt tại đồng bằng Phan Rang, nơi mà Ja Thak Wa bị tử trận trên bãi chiến trường. Lợi dụng cơ hội này, vua Minh Mệnh ra lệnh tử hình quốc vương Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) vá phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) vào tháng 6 năm Ất Vị (1835) ; đốt phá tất cả thôn làng người Chăm dọc theo bờ biển; chém giết những người Chăm nào tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa ; đập phá nghĩa địa tổ tiên của người Chăm; đào mồ mả vua chúa Champa và đốt phá cả đền Po Rome ở khu vực Phan Rang ; cắt đứt hẳn mối liên lạc giữa người Chăm và dân tộc miền núi để họ không còn tụ tập chiến đấu chống triều đình Huế nữa.
.... Từ từ tao đưa thêm vào, dự liệu nhiều quá.
!! mày gg là biết