📸 Photo Phân tích tâm lý dân tộc An nam. Bỏ 20-30p đọc để hiểu hơn về dân tộc.

dhtbomay

Thích phó đà
Myanmar
Bộ sách do Paul Giran viết với cái nhìn khách quan về dân tộc An Nam mít người dành cả đời ở xứ Đông Dương.
anh-da-sua%20Paul%20Giran.jpg


t sẽ tóm tắt nhưng vẫn khá dài ai muốn đọc đầy đủ thì mua sách hoặc tải PDF về.
Mô tả chủng tộc:

Người An Nam là một đại diện của chủng tộc da vàng, thuộc Đại chủng Á (Mongoloides) , có các nhánh chính là: họ Mông Cổ nói riêng, chiếm các vùng trung tâm châu Á; chủng Đột Quyết (Turc); nhánh lớn nhất, chủng Hán Hoa; và cuối cùng là các quần thể sống chủ yếu trên các sườn dốc dãy Himalaya được ông de Quatrefages gọi là “Indo- Mongoles” (Cổ Mã Lai-Mông Cổ) . Ở đâu đó giữa những nhánh sau cùng, các nhà nhân chủng học xếp vào nhóm dân tộc An Nam

Một cách tổng quát, diện mạo người An Nam hiện tại, phần lớn có các nét chung của dân Mông Cổ: đầu rộng ngắn (brachycéphale); trán thấp và dô ra, gò má cao, mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng, lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen, mũi bẹt phần phía dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa, môi dày, tóc đen, cứng và suông, râu và ria mép thưa, chỉ mọc rậm khi vào tuổi trung niên.

Người An Nam thường không cao, chiều cao trung bình là lm60 ở nam và lm50 ở nữ. Cơ lực của họ không đáng kể; một vật nặng phải mất hai người An Nam, đôi khi nhiều hơn, nâng lên một cách khó khăn, trong khi chỉ cần một người Âu là đã có thể dễ dàng mang đi.

Chủng tộc An Nam sinh sản nhiều. Nhờ vào khả năng bành trướng mà họ có thể, trong một thời gian tương đối ngắn, chiếm đất một cách hoàn hảo trên một phần lớn bán đảo Đông Dương. Trong khi ở châu Âu, tần suất sinh của 100 phụ nữ đã lập gia đình dưới 50, ở Phổ là 29, ở Anh 26, ở Pháp 16, người ta tính rằng số lần sinh trên 100 phụ nữ An Nam, trong cùng điều kiện, lên tới khoảng 170.

Người Giao Chỉ còn được miêu tả là “phù phiếm và kiêu căng(ngạo nghễ)” Đây là hậu quả tự nhiên của tinh thần xã hội. Không thích sống riêng rẽ, quen ở giữa những thân hữu, con người dễ trở nên phù phiếm, chỉ muốn tham gia lúc thuận lợi, rất để tâm đến ý kiến thuận mình. Cảm giác này đặc biệt được phát triển ở những người nguyên thủy, ở các “dân tộc non trẻ” - vốn hay thích đồ trang sức, những vật rực rỡ có bề ngoài nổi bật - và đã nhiều lần được ghi nhận. Người An Nam hiện đại vẫn tồn lưu khuyết điểm này.

Từ quan điểm chủ quan, Luro cho rằng người Giao (Chỉ) “nhẹ dạ, hay thay đổi và dễ nổi loạn”.

Nguồn gốc dân tộc:

Xứ sở mà người Giao Chỉ cư ngụ, đó là khu vực miền núi tương ứng với Bắc kỳ, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay , một ngàn năm trước đương nhiên không y hệt như xứ sở chúng ta biết đương thời. Khi xưa, châu thổ sông Cái (sông Hồng) vừa mới hình thành và, không còn nghi ngờ gì nữa, có biển bao quanh dưới chân những triền đồi, với các đĩa địa chất nối tiếp nhau nâng cao dần lên đến tận cao nguyên Tây Tạng

Sự tương đồng giữa người miền Nam Thiên triều và người An Nam không gói gọn duy chỉ ở khía cạnh bên ngoài: nó vẫn được tiếp nối ở một số khía cạnh về ngôn ngữ, tính cách và thói quen.

Giống như người Bắc kỳ, người Quảng Đông vui vẻ, ồn ào, đôi khi dí dỏm; như thể họ có những thói quen sông nước hiếm khi thấy được ở các dân tộc khác; toàn bộ ngôi làng hình thành trên các dòng sông, và người dân đặc biệt sinh hoạt, sống, làm việc và chết ở đó.

Ngoài ra, chịu số phận địa lý - với vùng phía nam là các dải đồng bằng hẹp mà họ buộc phải xâm chiếm vì nhu cầu dân số ngày một tăng. (ĐB sông hồng đã quá chật nên buộc ae sông hồng phải di cư đi xuống nam xâm chiếm, Dân số An Nam từ khi độc lập đã luôn nằm trong top dân số quả đất và top 1-3 SEA).

Môi trường vật lý:

“Đặc biệt, tình trạng ẩm thấp tiếp tục còn gây bít lỗ chân lông trên da, làm chậm tuần hoàn cho khí sắc kém, giảm hoạt lực của hệ thống vận mạch, loại bỏ toàn bộ năng lượng cơ thể, làm suy giảm cảm giác và hoạt động tinh thần, nói một cách ngắn gọn, mở đường cho đặc điểm chậm chạp và ù lì thường thấy nơi tính khí lãnh đạm.

Tính ngang bướng của dân du mục Mông Cổ, tính thích gây gổ và bạo lực của người Mã Lai đáng lẽ được biểu hiện ở người An Nam do được di truyền từ hai nhóm đó, nhưng dưới tác động đáng kinh ngạc của khí hậu, lại hòa tan thành một bản chất dửng dưng, bình thản, đơn giản là thờ ơ.

Cũng con người đó, thản nhiên trước sự bất hạnh của chính mình, sẽ thờ ơ trước bất hạnh của người khác. Người An Nam không xót thương thấu hiểu; hơn thế nữa, anh ta tàn nhẫn.

Phải thừa nhận rằng sâu thẳm trong tâm hồn người An Nam luôn tồn tại một ký ức xưa cũ, xa xăm và mờ mịt, nhưng đôi khi nó hiện lên những tiếng vọng dữ dội và bất chợt, về các tập quán tổ tiên. Các chiến binh Mông Cổ hung hãn và những tên cướp biển Mã Lai liều lĩnh đã để lại trong tâm tính con cháu của họ một mầm mống hung ác, được một mặt trời nhiệt đới đánh thức dưới làn hơi ẩm ướt và nóng bỏng.

Vậy nên, nếu có thể nói rằng người An Nam vô cảm và lãnh đạm, không có nhiều nhu cầu to lớn và không có mong ước thực sự nào, và vì những lý do đó là một dân tộc hạnh phúc, ít nhất sẽ phải nói thêm rằng điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn.( Đây là lý do cho quốc gia đáng sống với những ngu dân)

Môi trường con người:

Chúng tôi đã nhận thấy rằng người An Nam chứa trong huyết quản của mình một phần khá lớn dòng máu Hán Hoa và Mã Lai; những sự lai tạp thừa kế này làm thay đổi đáng kể thể chất sinh lý nguyên thủy, đã để lại trong cấu tạo tinh thần của họ những dấu ấn còn sâu thẳm hơn.

-Cái này phân tích về 2 dân tộc Hoa Hán và Champa rất dài nên t bỏ qua. Ai muốn biết thêm về 2 dân tộc này thì đọc sách nhé.

Cảm xúc dân An Nam:

Sự vắng mặt gần như hoàn toàn cái cảm giác ngượng ngùng và thiếu lòng vị tha nơi người An Nam: cảnh tượng một người khỏa thân không hề khơi dậy nơi họ bất cứ ý tưởng xấu nào, họ không thể đồng cảm với nỗi đau hay sự thống khổ của người khác.

Trong mối liên hệ này, cần lưu ý rằng, một cách tổng quát, tất cả tình cảm của người An Nam đều mang dấu ấn của sự vị kỷ thuần túy nhất. Không có một chút nhiệt tình hào phóng hay lòng nhân từ rộng lượng nào; trái tim thì đanh cứng, cằn cỗi, khô khốc. “Trái tim của bạn ngày càng nhỏ bé”, một triết gia nào đó từng nói. Nhờ vào câu châm ngôn tương tự, tình yêu cao thượng lại trở thành nhục dục tầm thường; tình cảm con cái dành cho cha mẹ chỉ là đạo hiếu.

Tình thương yêu đồng loại, biểu hiện ở lòng trắc ẩnbác ái, là những đức tính ít khi thấy hành xử ở An Nam. Không được có người nghèo ở xứ này, và trên thực tế không hề có. Mỗi gia đình phải tự chu cấp cho những nhu cầu của mình, mỗi làng xã phải lo liệu được cho người dân.

Khí hậu, đất đai màu mỡ, thể chất chủng tộc đã tạo điều kiện để xứ này áp dụng và duy trì một quy tắc như vậy. Người An Nam, nhẫn nại và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, nhưng hiếm khi ở trong tình trạng bần cùng;

Ý chí:

Người An Nam ôn hòa và điềm tĩnh, có nghĩa là họ hiếm khi thể hiện sự thiếu kiên nhẫn và cũng không để bản thân nổi giận hoặc hung dữ bất chợt. Họ không đủ mạnh mẽ để bộc lộ như vậy.

Tuy nhiên, đức tính này, theo ghi nhận cụ thể của P. Bouillevaux , phần nhiều là kết quả của sự lãnh đạm hơn là tính cách ôn hòa thực sự. Đừng tin vào vẻ điềm tĩnh của người xứ này; dưới cái vỏ bề ngoài bình tĩnh, họ có thể đang nuôi dưỡng lòng căm thù xấu xa nhất, mối thù hận sâu cay nhất, mong muốn báo thù khăng khăng nhất.

Không thể nói thẳng thừng rằng người An Nam lười biếng; trái lại, họ siêng năng; rất ít người An Nam ăn không ngồi rồi; có điều, họ lao động một cách uể oải, đặc biệt là khi họ làm không phải do bị nhu cầu thúc bách hoặc không vì lợi riêng. Các kiều dân, thương nhân, kỹ nghệ gia, nói chung tất cả những ai phải thuê họ làm việc, dưới bất kỳ hình thức nào, đều quen thuộc với những điểm bất tiện của lực lượng lao động này. Để thực hiện công việc thường chỉ cần đến một người châu Âu, thì ở đây phải cần ít nhất bốn “phu thợ”... và một giám sát viên

Đối với (người Pháp) chúng ta, sự lười biếng là một khiếm khuyết nghiêm trọng, vì chúng ta có đủ sự năng nổ để khắc phục khuynh hướng bạc nhược này. Ở người An Nam, trái lại, biếng nhác là một tình trạng bình thường; năng động, mới là điều bất thường. Ý chí cùn nhụt của họ chỉ có thể thể hiện theo một hướng: thụ động. Từ “năng nổ” của chúng ta không có từ tương đương trong ngôn ngữ của họ.

Sự kiên trì, năng động, sáng tạo, bao nhiêu là phẩm chất chưa được biết đến ở An Nam. Cha Bouillevaux nói, “người An Nam không kiên định. Họ bắt đầu vô cùng hăng hái một công việc hợp ý họ, họ khởi đầu tốt trong bất kỳ nghề nào; nhưng sau một vài tháng, nhiều nhất là vài năm, họ mệt mỏi, chán ghét, bỏ bê công việc và thường bỏ ngang nghề của mình, dù sau này vẫn phải làm tiếp khi nghèo đói. Người An Nam không có sự kiên trì, họ không thích quy tắc: họ thích hành sự tùy hứng, không nhất quán, không suy nghĩ thấu đáo.

Người thợ An Nam làm việc chỉ để sống, những nhu cầu của họ phải nói là rất ít. Khi họ vừa rủng rỉnh đủ để sống trong một thời gian, họ sẽ ngừng làm việc. Đừng thử trả công hậu hĩnh cho một thợ thủ công bản xứ để giữ anh ta lại; nếu anh ta dễ dàng kiếm được, trong một tuần, số tiền cần cho lượng thức ăn trong một tháng, vào ngày thứ tám, sau khi được trả tiền, người thợ của bạn sẽ không xuất hiện cho đến khi anh ta tiêu hết đồng cuối cùng.

Người An Nam chỉ mong làm những nghề nghiệp đã được vẽ đường sẵn, ít gây ra cho họ những sự cố bất ngờ nhất, ít đòi hỏi những nỗ lực sáng tạo nhất. Đó là sự quan liêu trong tâm hồn. Tham vọng quyền lực và tình yêu đời thường khiến họ trở thành một quan chức bẩm sinh

Một khí chất lờ đờ, một tính cách yếu đuối và hời hợt không cho phép con người thẳng thắn chống lại những ảnh hưởng ngoại lai. Người An Nam nhẫn nhục chịu đựng, không hề có bất kỳ ý định phản kháng nào. Do đó, họ vô cùng e sợ quyền lực! Thậm chí còn quá sức quỵ lụy trước người nắm quyền thấp nhất: dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó, khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.

Người An Nam có tâm hồn trẻ con, nên hiếm khi trông chờ họ có sự cải thiện hợp lý. Dùng đến lý lẽ để yêu cầu họ tự sửa chữa hoàn toàn vô ích. Chúng tôi đã cố gắng, có lẽ trong vô thức, giúp họ thấm nhuần lòng tự tôn( ngạo nghễ ); nhưng chúng tôi chỉ thành công trong việc khiến họ trở nên ngạo mạn và thiếu tôn trọng sự quan tâm của chúng tôi.

“Sự khúm núm và quỳ lạy khiến chúng ta, những người châu Âu, cảm thấy thương hại”

Trí tuệ:

Trí tưởng tượng tái hiện, ý nói đến khả năng gợi lại một ấn tượng từng nhận được, điều còn ngây thơ trễ nải ở người An Nam

Chuyên gia tâm lý Guyau giải thích, “trí tưởng tượng quá mức ấu trĩ, như những người nguyên thủy, phụ thuộc nhiều vào nhận thức có chút không rõ ràng, tùy ý, dễ dàng biến đổi. Người ta thấy bất cứ thứ gì họ muốn mơ hồ hệt như hình dáng mây...”[106] Như trẻ con, người An Nam, một dân tộc đúng là trẻ, mặt khác được trời phú cho một trí tưởng tượng tái hiện tầm thường, vụng về gói ghém cảm giác của họ, định rõ đường biên của những hình tượng phát sinh từ chiều sâu ký ức; như thể họ sống trong ảo tưởng, vô định, “không phân biệt hay nhận thức được bất cứ điều gì rõ ràng, mơ mộng về mọi thứ”

Sự phong phú bề ngoài này chứa đựng một sự nghèo nàn trí tuệ thực sự, một điểm yếu không thể chối cãi của những tính năng tiêu biểu, những nguyên nhân trực tiếp làm mất đi thuộc tính sáng tạo của trí tưởng tượng.

Khiếm khuyết này của trí não đã làm tê liệt sự vươn lên của tư tưởng. “Chúng ta không thể suy nghĩ mà không có hình ảnh,” Aristote đã nói. Làm thế nào người An Nam có thể rút ra những ý tưởng cụ thể và đa dạng từ những hình ảnh hiếm hoi và không nhất quán? Chắc chắn họ không thể làm điều đó.

Ngôn ngữ toàn là những biểu tượng và các từ mang nghĩa mơ hồ chính là bằng chứng; văn chương, triết lý, đạo đức ít cao nhã, do cảm hứng phàm tục và khuynh hướng vô cùng thực tế của họ. Quan niệm tôn giáo, năng lực khoa học yếu kém chứng tỏ một trí tuệ nghèo nàn

Tâm trí không thể rộng mở, cũng không lọc ra những nghĩa cụ thể. Chúng chỉ tái hiện những cảm giác, chỉ khơi gợi những ý tưởng cụ thể và quá phân định để khai mở sự tự do. Những học trò, cho đến khi 15 hoặc 16 tuổi, học cách viết nét thanh nét đậm bằng đầu cọ của mình, ngoài việc vận dụng quá mức trí nhớ, họ còn có thói quen bắt suy nghĩ của mình đi theo những khuôn mẫu hạn hẹp và cố định.

Họ làm nô lệ cho từ ngữ của họ, trong khi từ ngữ của chúng ta là những tôi tớ trung thành và mau mắn với chúng ta. Khi tôi nhìn các thanh thiếu niên, khuỷu tay lơ lửng trên không, bút lông thẳng đứng, vẽ những nét thanh đậm, những dấu hiệu bí hiểm, họ điểm thêm những nét chấm sổ, đối với tôi họ dường như đang gọt giũa kiểu cách cho những chiếc lồng nhỏ nơi ý tưởng chết mòn và hóa đá.”

Người An Nam, giống như người Trung Hoa, chưa bao giờ có thể chịu uốn mình theo thói quen tư duy trừu tượng. Chiều hướng thực tế cốt yếu đã đi vào tâm trí của họ. Những ý tưởng trừu tượng, tổng quát đã dừng phát triển; họ nhanh chóng húc phải bức vách của chiếc lồng nhỏ bé nơi chữ viết giam hãm họ; không thể đạt đến đỉnh cao tuyệt đối, họ lê lết thảm hại giữa hiện thực cụ thể.
 
Sửa lần cuối:
từ đấy chúng m sẽ hiểu tại sao dân tộc tính này:ngu dốt, an phận, hèn hạ ,tự huyễn bản thân hạnh phúc để sục cặc. Tại sao con vịt bản đồ chỉ bé bằng cái móng tay, dân ngu suốt ngày đc như hôm nay là giỏi lắm rồi
@Tuannguyen16b @nowisnow.
 
từ đấy chúng m sẽ hiểu tại sao dân tộc tính này:ngu dốt, an phận, hèn hạ ,tự huyễn bản thân hạnh phúc để sục cặc. Tại sao con vịt bản đồ chỉ bé bằng cái móng tay, dân ngu suốt ngày đc như hôm nay là giỏi lắm rồi
@Tuannguyen16b @nowisnow.
Dm cứ nói cần cù, siêng năng với thông minh thì chúng mày phải hiểu ngược lại hết.
Hãy so sánh hiệu suất làm việc của vn so với Sing, Thái, Mã, Phi....thì đều thua kém.
Đéo đóng góp một cái gì cho sự phát triển của nhân loại nên về độ thông minh chắc chỉ ngang bọn Châu Phi 🤣
 
Dm cứ nói cần cù, siêng năng với thông minh thì chúng mày phải hiểu ngược lại hết.
Hãy so sánh hiệu suất làm việc của vn so với Sing, Thái, Mã, Phi....thì đều thua kém.
Đéo đóng góp một cái gì cho sự phát triển của nhân loại nên về độ thông minh chắc chỉ ngang bọn Châu Phi 🤣
dân Phi nó cũng đủ tính chất của dân vịt ngu dốt, lười biếng. Nhưng nó trả lương cao hơn nên năng suất nó cao hơn. Thế mới thấy con vịt bóc lột kinh khủng vl.
kinh-te-viet-nam-lam-gi-de-bang-thai-lan-malaysia.jpg
 
Bộ sách do Paul Giran viết với cái nhìn khách quan về dân tộc An Nam mít người dành cả đời ở xứ Đông Dương.
anh-da-sua%20Paul%20Giran.jpg


t sẽ tóm tắt nhưng vẫn khá dài ai muốn đọc đầy đủ thì mua sách hoặc tải PDF về.
Mô tả chủng tộc:

Người An Nam là một đại diện của chủng tộc da vàng, thuộc Đại chủng Á (Mongoloides) , có các nhánh chính là: họ Mông Cổ nói riêng, chiếm các vùng trung tâm châu Á; chủng Đột Quyết (Turc); nhánh lớn nhất, chủng Hán Hoa; và cuối cùng là các quần thể sống chủ yếu trên các sườn dốc dãy Himalaya được ông de Quatrefages gọi là “Indo- Mongoles” (Cổ Mã Lai-Mông Cổ) . Ở đâu đó giữa những nhánh sau cùng, các nhà nhân chủng học xếp vào nhóm dân tộc An Nam

Một cách tổng quát, diện mạo người An Nam hiện tại, phần lớn có các nét chung của dân Mông Cổ: đầu rộng ngắn (brachycéphale); trán thấp và dô ra, gò má cao, mắt nhỏ xếch, mí trên bụp và nặng, lông mày thưa, vểnh lên về phía đuôi; mắt đen, mũi bẹt phần phía dưới, phình ra, rộng ở gốc; đôi tai cách xa, môi dày, tóc đen, cứng và suông, râu và ria mép thưa, chỉ mọc rậm khi vào tuổi trung niên.

Người An Nam thường không cao, chiều cao trung bình là lm60 ở nam và lm50 ở nữ. Cơ lực của họ không đáng kể; một vật nặng phải mất hai người An Nam, đôi khi nhiều hơn, nâng lên một cách khó khăn, trong khi chỉ cần một người Âu là đã có thể dễ dàng mang đi.

Chủng tộc An Nam sinh sản nhiều. Nhờ vào khả năng bành trướng mà họ có thể, trong một thời gian tương đối ngắn, chiếm đất một cách hoàn hảo trên một phần lớn bán đảo Đông Dương. Trong khi ở châu Âu, tần suất sinh của 100 phụ nữ đã lập gia đình dưới 50, ở Phổ là 29, ở Anh 26, ở Pháp 16, người ta tính rằng số lần sinh trên 100 phụ nữ An Nam, trong cùng điều kiện, lên tới khoảng 170.

Người Giao Chỉ còn được miêu tả là “phù phiếm và kiêu căng(ngạo nghễ)” Đây là hậu quả tự nhiên của tinh thần xã hội. Không thích sống riêng rẽ, quen ở giữa những thân hữu, con người dễ trở nên phù phiếm, chỉ muốn tham gia lúc thuận lợi, rất để tâm đến ý kiến thuận mình. Cảm giác này đặc biệt được phát triển ở những người nguyên thủy, ở các “dân tộc non trẻ” - vốn hay thích đồ trang sức, những vật rực rỡ có bề ngoài nổi bật - và đã nhiều lần được ghi nhận. Người An Nam hiện đại vẫn tồn lưu khuyết điểm này.

Từ quan điểm chủ quan, Luro cho rằng người Giao (Chỉ) “nhẹ dạ, hay thay đổi và dễ nổi loạn”.

Nguồn gốc dân tộc:

Xứ sở mà người Giao Chỉ cư ngụ, đó là khu vực miền núi tương ứng với Bắc kỳ, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay , một ngàn năm trước đương nhiên không y hệt như xứ sở chúng ta biết đương thời. Khi xưa, châu thổ sông Cái (sông Hồng) vừa mới hình thành và, không còn nghi ngờ gì nữa, có biển bao quanh dưới chân những triền đồi, với các đĩa địa chất nối tiếp nhau nâng cao dần lên đến tận cao nguyên Tây Tạng

Sự tương đồng giữa người miền Nam Thiên triều và người An Nam không gói gọn duy chỉ ở khía cạnh bên ngoài: nó vẫn được tiếp nối ở một số khía cạnh về ngôn ngữ, tính cách và thói quen.

Giống như người Bắc kỳ, người Quảng Đông vui vẻ, ồn ào, đôi khi dí dỏm; như thể họ có những thói quen sông nước hiếm khi thấy được ở các dân tộc khác; toàn bộ ngôi làng hình thành trên các dòng sông, và người dân đặc biệt sinh hoạt, sống, làm việc và chết ở đó.

Ngoài ra, chịu số phận địa lý - với vùng phía nam là các dải đồng bằng hẹp mà họ buộc phải xâm chiếm vì nhu cầu dân số ngày một tăng. (ĐB sông hồng đã quá chật nên buộc ae sông hồng phải di cư đi xuống nam xâm chiếm, Dân số An Nam từ khi độc lập đã luôn nằm trong top dân số quả đất và top 1-3 SEA).

Môi trường vật lý:

“Đặc biệt, tình trạng ẩm thấp tiếp tục còn gây bít lỗ chân lông trên da, làm chậm tuần hoàn cho khí sắc kém, giảm hoạt lực của hệ thống vận mạch, loại bỏ toàn bộ năng lượng cơ thể, làm suy giảm cảm giác và hoạt động tinh thần, nói một cách ngắn gọn, mở đường cho đặc điểm chậm chạp và ù lì thường thấy nơi tính khí lãnh đạm.

Tính ngang bướng của dân du mục Mông Cổ, tính thích gây gổ và bạo lực của người Mã Lai đáng lẽ được biểu hiện ở người An Nam do được di truyền từ hai nhóm đó, nhưng dưới tác động đáng kinh ngạc của khí hậu, lại hòa tan thành một bản chất dửng dưng, bình thản, đơn giản là thờ ơ.

Cũng con người đó, thản nhiên trước sự bất hạnh của chính mình, sẽ thờ ơ trước bất hạnh của người khác. Người An Nam không xót thương thấu hiểu; hơn thế nữa, anh ta tàn nhẫn.

Phải thừa nhận rằng sâu thẳm trong tâm hồn người An Nam luôn tồn tại một ký ức xưa cũ, xa xăm và mờ mịt, nhưng đôi khi nó hiện lên những tiếng vọng dữ dội và bất chợt, về các tập quán tổ tiên. Các chiến binh Mông Cổ hung hãn và những tên cướp biển Mã Lai liều lĩnh đã để lại trong tâm tính con cháu của họ một mầm mống hung ác, được một mặt trời nhiệt đới đánh thức dưới làn hơi ẩm ướt và nóng bỏng.

Vậy nên, nếu có thể nói rằng người An Nam vô cảm và lãnh đạm, không có nhiều nhu cầu to lớn và không có mong ước thực sự nào, và vì những lý do đó là một dân tộc hạnh phúc, ít nhất sẽ phải nói thêm rằng điểm chính yếu trong sự hạnh phúc của họ là tiêu cực và rất ít ham muốn.( Đây là lý do cho quốc gia đáng sống với những ngu dân)

Môi trường con người:

Chúng tôi đã nhận thấy rằng người An Nam chứa trong huyết quản của mình một phần khá lớn dòng máu Hán Hoa và Mã Lai; những sự lai tạp thừa kế này làm thay đổi đáng kể thể chất sinh lý nguyên thủy, đã để lại trong cấu tạo tinh thần của họ những dấu ấn còn sâu thẳm hơn.

-Cái này phân tích về 2 dân tộc Hoa Hán và Champa rất dài nên t bỏ qua. Ai muốn biết thêm về 2 dân tộc này thì đọc sách nhé.

Cảm xúc dân An Nam:

Sự vắng mặt gần như hoàn toàn cái cảm giác ngượng ngùng và thiếu lòng vị tha nơi người An Nam: cảnh tượng một người khỏa thân không hề khơi dậy nơi họ bất cứ ý tưởng xấu nào, họ không thể đồng cảm với nỗi đau hay sự thống khổ của người khác.

Trong mối liên hệ này, cần lưu ý rằng, một cách tổng quát, tất cả tình cảm của người An Nam đều mang dấu ấn của sự vị kỷ thuần túy nhất. Không có một chút nhiệt tình hào phóng hay lòng nhân từ rộng lượng nào; trái tim thì đanh cứng, cằn cỗi, khô khốc. “Trái tim của bạn ngày càng nhỏ bé”, một triết gia nào đó từng nói. Nhờ vào câu châm ngôn tương tự, tình yêu cao thượng lại trở thành nhục dục tầm thường; tình cảm con cái dành cho cha mẹ chỉ là đạo hiếu.

Tình thương yêu đồng loại, biểu hiện ở lòng trắc ẩnbác ái, là những đức tính ít khi thấy hành xử ở An Nam. Không được có người nghèo ở xứ này, và trên thực tế không hề có. Mỗi gia đình phải tự chu cấp cho những nhu cầu của mình, mỗi làng xã phải lo liệu được cho người dân.

Khí hậu, đất đai màu mỡ, thể chất chủng tộc đã tạo điều kiện để xứ này áp dụng và duy trì một quy tắc như vậy. Người An Nam, nhẫn nại và thụ động, bằng lòng với sự thiếu thốn, nhưng hiếm khi ở trong tình trạng bần cùng;

Ý chí:

Người An Nam ôn hòa và điềm tĩnh, có nghĩa là họ hiếm khi thể hiện sự thiếu kiên nhẫn và cũng không để bản thân nổi giận hoặc hung dữ bất chợt. Họ không đủ mạnh mẽ để bộc lộ như vậy.

Tuy nhiên, đức tính này, theo ghi nhận cụ thể của P. Bouillevaux , phần nhiều là kết quả của sự lãnh đạm hơn là tính cách ôn hòa thực sự. Đừng tin vào vẻ điềm tĩnh của người xứ này; dưới cái vỏ bề ngoài bình tĩnh, họ có thể đang nuôi dưỡng lòng căm thù xấu xa nhất, mối thù hận sâu cay nhất, mong muốn báo thù khăng khăng nhất.

Không thể nói thẳng thừng rằng người An Nam lười biếng; trái lại, họ siêng năng; rất ít người An Nam ăn không ngồi rồi; có điều, họ lao động một cách uể oải, đặc biệt là khi họ làm không phải do bị nhu cầu thúc bách hoặc không vì lợi riêng. Các kiều dân, thương nhân, kỹ nghệ gia, nói chung tất cả những ai phải thuê họ làm việc, dưới bất kỳ hình thức nào, đều quen thuộc với những điểm bất tiện của lực lượng lao động này. Để thực hiện công việc thường chỉ cần đến một người châu Âu, thì ở đây phải cần ít nhất bốn “phu thợ”... và một giám sát viên

Đối với (người Pháp) chúng ta, sự lười biếng là một khiếm khuyết nghiêm trọng, vì chúng ta có đủ sự năng nổ để khắc phục khuynh hướng bạc nhược này. Ở người An Nam, trái lại, biếng nhác là một tình trạng bình thường; năng động, mới là điều bất thường. Ý chí cùn nhụt của họ chỉ có thể thể hiện theo một hướng: thụ động. Từ “năng nổ” của chúng ta không có từ tương đương trong ngôn ngữ của họ.

Sự kiên trì, năng động, sáng tạo, bao nhiêu là phẩm chất chưa được biết đến ở An Nam. Cha Bouillevaux nói, “người An Nam không kiên định. Họ bắt đầu vô cùng hăng hái một công việc hợp ý họ, họ khởi đầu tốt trong bất kỳ nghề nào; nhưng sau một vài tháng, nhiều nhất là vài năm, họ mệt mỏi, chán ghét, bỏ bê công việc và thường bỏ ngang nghề của mình, dù sau này vẫn phải làm tiếp khi nghèo đói. Người An Nam không có sự kiên trì, họ không thích quy tắc: họ thích hành sự tùy hứng, không nhất quán, không suy nghĩ thấu đáo.

Người thợ An Nam làm việc chỉ để sống, những nhu cầu của họ phải nói là rất ít. Khi họ vừa rủng rỉnh đủ để sống trong một thời gian, họ sẽ ngừng làm việc. Đừng thử trả công hậu hĩnh cho một thợ thủ công bản xứ để giữ anh ta lại; nếu anh ta dễ dàng kiếm được, trong một tuần, số tiền cần cho lượng thức ăn trong một tháng, vào ngày thứ tám, sau khi được trả tiền, người thợ của bạn sẽ không xuất hiện cho đến khi anh ta tiêu hết đồng cuối cùng.

Người An Nam chỉ mong làm những nghề nghiệp đã được vẽ đường sẵn, ít gây ra cho họ những sự cố bất ngờ nhất, ít đòi hỏi những nỗ lực sáng tạo nhất. Đó là sự quan liêu trong tâm hồn. Tham vọng quyền lực và tình yêu đời thường khiến họ trở thành một quan chức bẩm sinh

Một khí chất lờ đờ, một tính cách yếu đuối và hời hợt không cho phép con người thẳng thắn chống lại những ảnh hưởng ngoại lai. Người An Nam nhẫn nhục chịu đựng, không hề có bất kỳ ý định phản kháng nào. Do đó, họ vô cùng e sợ quyền lực! Thậm chí còn quá sức quỵ lụy trước người nắm quyền thấp nhất: dập đầu xuống đất liên tục, chắp tay van xin, sau đó, khoanh tay trước ngực, mọi biểu hiện nơi phong thái đó gợi lên sự tầm thường.

Người An Nam có tâm hồn trẻ con, nên hiếm khi trông chờ họ có sự cải thiện hợp lý. Dùng đến lý lẽ để yêu cầu họ tự sửa chữa hoàn toàn vô ích. Chúng tôi đã cố gắng, có lẽ trong vô thức, giúp họ thấm nhuần lòng tự tôn( ngạo nghễ ); nhưng chúng tôi chỉ thành công trong việc khiến họ trở nên ngạo mạn và thiếu tôn trọng sự quan tâm của chúng tôi.

“Sự khúm núm và quỳ lạy khiến chúng ta, những người châu Âu, cảm thấy thương hại”

Trí tuệ:

Trí tưởng tượng tái hiện, ý nói đến khả năng gợi lại một ấn tượng từng nhận được, điều còn ngây thơ trễ nải ở người An Nam

Chuyên gia tâm lý Guyau giải thích, “trí tưởng tượng quá mức ấu trĩ, như những người nguyên thủy, phụ thuộc nhiều vào nhận thức có chút không rõ ràng, tùy ý, dễ dàng biến đổi. Người ta thấy bất cứ thứ gì họ muốn mơ hồ hệt như hình dáng mây...”[106] Như trẻ con, người An Nam, một dân tộc đúng là trẻ, mặt khác được trời phú cho một trí tưởng tượng tái hiện tầm thường, vụng về gói ghém cảm giác của họ, định rõ đường biên của những hình tượng phát sinh từ chiều sâu ký ức; như thể họ sống trong ảo tưởng, vô định, “không phân biệt hay nhận thức được bất cứ điều gì rõ ràng, mơ mộng về mọi thứ”

Sự phong phú bề ngoài này chứa đựng một sự nghèo nàn trí tuệ thực sự, một điểm yếu không thể chối cãi của những tính năng tiêu biểu, những nguyên nhân trực tiếp làm mất đi thuộc tính sáng tạo của trí tưởng tượng.

Khiếm khuyết này của trí não đã làm tê liệt sự vươn lên của tư tưởng. “Chúng ta không thể suy nghĩ mà không có hình ảnh,” Aristote đã nói. Làm thế nào người An Nam có thể rút ra những ý tưởng cụ thể và đa dạng từ những hình ảnh hiếm hoi và không nhất quán? Chắc chắn họ không thể làm điều đó.

Ngôn ngữ toàn là những biểu tượng và các từ mang nghĩa mơ hồ chính là bằng chứng; văn chương, triết lý, đạo đức ít cao nhã, do cảm hứng phàm tục và khuynh hướng vô cùng thực tế của họ. Quan niệm tôn giáo, năng lực khoa học yếu kém chứng tỏ một trí tuệ nghèo nàn

Tâm trí không thể rộng mở, cũng không lọc ra những nghĩa cụ thể. Chúng chỉ tái hiện những cảm giác, chỉ khơi gợi những ý tưởng cụ thể và quá phân định để khai mở sự tự do. Những học trò, cho đến khi 15 hoặc 16 tuổi, học cách viết nét thanh nét đậm bằng đầu cọ của mình, ngoài việc vận dụng quá mức trí nhớ, họ còn có thói quen bắt suy nghĩ của mình đi theo những khuôn mẫu hạn hẹp và cố định.

Họ làm nô lệ cho từ ngữ của họ, trong khi từ ngữ của chúng ta là những tôi tớ trung thành và mau mắn với chúng ta. Khi tôi nhìn các thanh thiếu niên, khuỷu tay lơ lửng trên không, bút lông thẳng đứng, vẽ những nét thanh đậm, những dấu hiệu bí hiểm, họ điểm thêm những nét chấm sổ, đối với tôi họ dường như đang gọt giũa kiểu cách cho những chiếc lồng nhỏ nơi ý tưởng chết mòn và hóa đá.”

Người An Nam, giống như người Trung Hoa, chưa bao giờ có thể chịu uốn mình theo thói quen tư duy trừu tượng. Chiều hướng thực tế cốt yếu đã đi vào tâm trí của họ. Những ý tưởng trừu tượng, tổng quát đã dừng phát triển; họ nhanh chóng húc phải bức vách của chiếc lồng nhỏ bé nơi chữ viết giam hãm họ; không thể đạt đến đỉnh cao tuyệt đối, họ lê lết thảm hại giữa hiện thực cụ thể.
Mầy biết đâu bán mấy cuốn nầy và cuốn “ Xứ Đông dương “ không?
 
Tao nhìn thấy nhiều tính cách, hành động của tao trong đó. Nó ăn vào suy nghĩ, tư duy rồi. Gắng thay đổi vậy, cuộc sống bon chen vất vả quá
 

➕ Có thể bạn quan tâm

Back
Top