Không liên quan nhưng mày có biết thời Chiêu Thống có Trần Bá Lãm và Trần Bá Kiên là 2 cha con hay 2 ông cháu không ?
1 số tài liệu thì để là 2 ông cháu, 1 số khác thì công nhận là 2 cha con
Hay giống vụ Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Như Khôi gọi là ông nội nhưng toàn đồn thổi là 2 bố con nhỉ
Nội dung bức thư dạy con của Trần Bá Lãm gửi cho con trai Trần Bá Kiên
Bức thư được lưu trong sách Hòe Hiên tiên sinh tập (ký hiệu A.526 tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Đây là một trong những lá thư Trần Bá Lãm (đỗ chế khoa 1787) viết từ kinh đô gửi về quê Vân Canh, khuyên nhủ con trai đang ở nhà về việc học hành và tự rèn luyện.
Phiên âm (chữ Hán)
Ngã vi bần sở dịch, tại kinh chuyên dĩ cầu tài, vi sự bất an vu kỳ giáo, cố bất huề nhữ dữ giai; dục nhữ cư gia thủ tĩnh, tứ lực công thư, do hiền vu khách Trường An.
Nhữ kim tại gia tảo miên án khởi, bất tích phân âm, ngột tọa nhàn cư nhai quá nhật tử. Cựu thư nhược quá khách, lương điền xả bất vân, thậm phi ngô sở dĩ khóa nhữ chi ý.
Tích Đào chinh nam đại trấn vô sự, triêu mộ vận bích, cái viết: “Quá nhữ ưu du, khủng bất kham sự”. Tố quan nhân thượng thả như thử: Ngô nho vi học, đường hà như tai?
Tam nguyên sự nghiệp như ngô hữu vị năng, khoa táo chàng lâu; khởi phi nhữ thừa gia chi trách? Trùng khánh môn lư, cập kim vô sở quải, triêu kinh mộ sử, khởi phi nhữ tiến học chi thời?
Như thử như thử! Miễn chiên miễn chiên!
Nam nhi đáng tự cường, hà giả thu thanh chi hạ vũ; hoàng thiên ưng bất phụ, hội khan đắc ý ư xuân phong.
Kim hữu trọng bội ngũ lạng, hứa nhữ giải khát. Thực bão hậu thuỵ lai thời, nhập bạc khương nhất phiến tiễn ẩm, bất khả tham bôi.
Dịch nghĩa
Cha vì công việc bận rộn, ở kinh đô chuyên lo kiếm tiền, nên không yên tâm dạy dỗ con, vì vậy không dắt con theo. Ý cha muốn con ở quê nhà giữ sự tĩnh lặng, dốc sức vào sách vở, để tài năng hiền hơn cả những văn nhân mặc khách ở Trường An.
Nay con ở nhà ngủ sớm dậy muộn, chẳng tiếc thời gian ngắn ngủi, ngồi không chơi nhàn ngày qua tháng lại. Sách cũ xem qua loa như người lạ, ruộng tốt bỏ không cày cấy. Đó thật không phải ý nguyện cha muốn truyền dạy cho con…
Xưa tướng quân Đào Khản trấn thủ phương Nam, nơi nhàn rỗi vẫn sớm chiều tự tay khiêng gạch ngói ra vào, bảo rằng:
“Thời gian nhàn quá, sợ không chịu nổi.”
Người làm quan còn như vậy, huống chi nhà Nho học như chúng ta thì phải làm sao? Sự nghiệp tam nguyên đến cha còn chưa vượt được tổ tông, há chẳng phải trách nhiệm kế thừa gia tộc con phải gánh lấy sao? Ông bà cha mẹ đến nay chưa có chỗ nương tựa, há chẳng phải lúc con cần gắng sức học hành sao?
Vậy đó! Gắng lên! Gắng lên!
Nam nhi phải tự cường, cần gì phải đợi mưa hạ để có tiếng thu? Trời cao ắt không phụ, rồi sẽ thấy đắc ý trong gió xuân.
Nay gửi cho con 5 lạng “trọng bội” (sữa khô – tạm dịch) để giải khát. Sau khi ăn no, lúc sắp ngủ, hãy cho một lát gừng mỏng vào nấu uống, chớ tham nhiều.
Ý nghĩa và bối cảnh
Bức thư thể hiện tình cảm cha con sâu sắc: vừa kỳ vọng cao về sự nghiệp khoa bảng, vừa quan tâm đến những chi tiết đời thường (sức khỏe, thói quen sinh hoạt).
Trần Bá Lãm dùng điển tích Đào Khản để khuyên con không được lười biếng, phải trân trọng từng “phân âm” (thời gian ngắn ngủi).
Con trai Trần Bá Kiên đã đáp lại thư, nhắc câu “thuốc đắng miệng, giã được bệnh”, hứa sẽ nghiêm túc rèn luyện. Sau này ông đỗ Giải nguyên khoa Đinh Mão (1807), làm quan đến chức Cai bạ và từng làm Chủ khảo thi Hội năm 1822 đời Minh Mệnh.
Đây là tư liệu quý về tình cha con và truyền thống giáo dục gia đình của dòng họ Trần ở Vân Canh – Kim Hoàng thời Lê mạt – Nguyễn sơ.
Con của Trần Bá Kiên cháu gọi Trần Bá Lãm là ông nội là Trần Sơn Lập cũng đỗ giải nguyên thời Tự Đức.
Dòng họ Trần ở đây, trước đã có Trần Hiền 陳 賢 đỗ Đồng Tiến sĩ đời vua Lê Thuần Tông (1733), từng có Trần Bá Lãm 陳 伯 覽 đỗ Đệ nhất Chế khoa (tương đương Hoàng giáp) đời vua Lê Chiêu Thống (1787), lại có Trần Bá Kiên đỗ Giải nguyên trường Sơn Tây trong kỳ thi Hương đầu tiên (1807) của triều Nguyễn. Trần Sơn Lập là con trai thứ của Trần Bá Kiên, gọi Trần Bá Lãm là ông nội, gọi Trần Hiền là cụ nội.
Trần Sơn Lập nguyên húy là Chân 真, tự là Phong Chương 豐 彰, có hiệu là Thứ Trai 次 齋, sau mới đổi tên thành Sơn Lập. Chuyện nhà kể rằng, ông được đặt tên là Chân bởi ông sinh ra khi cha ông làm Tri huyện huyện Nam Chân (nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông đỗ Cử nhân đời vua Tự Đức (1855), từng được bổ chức Huấn đạo ở các huyện Quế Dương, Võ Giàng (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh); chức Giáo thụ ở phủ Quảng Hóa; từng làm Tri huyện ở Đông Sơn (Thanh Hóa), và Tùng Thiện (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây). Trần Sơn Lập được thăng Đô Sát viện Lễ khoa Cấp sự trung năm 1865 và ở chức quan này trong vòng hai năm