Cảnh báo lừa đảo‼️ Tau thấy 1 số tư tưởng nho khổng rất hay mà sao lại bị chửi, xh vẹm bây giờ loạn 1 phần vì dân ko biết nho khổng

Tử viết: “Do, hối nhữ[37] tri chi hồ! Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Anh Do, ta dạy cho anh thế nào là “biết” này. Biết điều gì thì nhậnlà biết, không biết thì nhận không biết, như vậy là biết.”
Anh aidokhongphailatoi, ta chỉ cho anh thêm một điều nữa này. Ko biết thì ko nhất thiết phải nhận là ko biết thì ko ai biết là anh ko biết

À, ta thấy cái học thuyết của Phu tử có nói đến điều cơ bản đầu tiên là phải chính danh, danh bất chính thì ngôn bất thuận. Mà tên nick chủ thớt nghe như kiểu fuck boy phủi bỏ trách nhậm, chả chính danh chút nào. Hay đổi tên nick đi đã rồi hẵng rao giảng 4 thư 5 kinh tiếp.
 
Anh aidokhongphailatoi, ta chỉ cho anh thêm một điều nữa này. Ko biết thì ko nhất thiết phải nhận là ko biết thì ko ai biết là anh ko biết

À, ta thấy cái học thuyết của Phu tử có nói đến điều cơ bản đầu tiên là phải chính danh, danh bất chính thì ngôn bất thuận. Mà tên nick chủ thớt nghe như kiểu fuck boy phủi bỏ trách nhậm, chả chính danh chút nào. Hay đổi tên nick đi đã rồi hẵng rao giảng 4 thư 5 kinh tiếp.
con cặc

Tử viết: “Quân tử vô sở tranh, tất dã xạ hồ? Ấp nhượng nhi thăng, há nhi ẩm, kì tranh dãquân tử.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử không ganh đua với ai, nếu có thì chỉ trong lúc bắnchăng? Vái nhường rồi mới bước lên, khi lui xuống thì mời người kia uống rượu. Ganh đuanhau như vậy mới là quân tử.

Tử Hạ vấn viết: “‘Xảo tiếu thiến hề, mĩ mục phán hề, tố dĩ vi huyến hề’ hà vị dã?” Tử viết:“Hội sự hậu tố”. Viết: “Lễ hậu hồ?” – Viết: “Khởi dư giả Thương[46] dã! Thủy khả dữ ngôn Thidĩ hĩ.”Dịch. – Tử Hạ nói: “(Kinh Thi nói:) miệng xinh chúm chím cười, mắt đẹp long lanhsáng[47], trên nền trắng vẽ màu sặc sỡ[48]“ nghĩa là thế nào?” Khổng tử đáp: “Có sẵn nền trắngrồi sau mới vẽ”. – Tử Hạ (lại hỏi): “(Nghĩa là) lễ phải ở sau (nhân)[49] chăng?” Khổng tử nói:“Anh Thương phát khởi được ý ta, như anh mới có thể giảng Kinh Thi cho được.”Chú thích. – Khổng tử khen Tử Hạ nghe một biết hai.
 
Vương Tôn Giả vấn viết: “Dữ kì mị ư Áo, ninh mị ư Táo”; hà vị dã?” Tử viết: “Bất nhiên –Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã.”Dịch. – Vương Tôn Giả (một đại phu cầm quyền ở Vệ) hỏi: “Tục ngữ có câu: “Nịnh thầnÁo, thà nịnh thần Táo còn hơn”, câu ấy có nghĩa gì? Khổng tử đáp: “Không phải vậy. Mắc tộivới trời thì cầu đảo đâu cũng vô ích.”Chú thích. – Thần Áo là thần trong nhà, thần Táo là thần trong bếp. Thần Táo thấp hơnthần Áo nhưng coi việc bếp nước, ăn uống, nên quan trọng hơn.Có người cho rằng Vương Tôn Giả nói bóng bẩy: Thần Áo chỉ Vệ Linh công, thần Táo chỉnàng Nam Tử và Di Tử Hà, những người Vệ Linh công yêu. Khổng tử như muốn được dùngở Vệ thì lấy lòng Vệ Linh công không bằng lấy lòng Nam Tử và Di Tử Hà. Khổng cự tuyệt mộtcách khéo léo. Ông cứ theo đạo trời, ngay thẳng, chẳng cần lấy lòng ai cả.
 
Tử viết: “Xạ bất chủ bì, vị lực bất đồng khoa, cổ chi đạo dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Bắn (cốt trúng chứ) không cốt xuyên qua tấm da, vì sức không đềunhau (nghĩa là không phải để đọ sức), đạo xưa như vậy.”
 
Tử viết: “Lí nhân vi mĩ. Trạch bất xử nhân, yên đắc trí?”Dịch. – Khổng tử nói: “Làng nào có đức nhân, là nơi ấy tốt. Chọn chỗ ở mà không lựa chọnnơi có đức nhân, thì sao gọi là sáng suốt được.”

Tử viết: “Bất nhân giả, bất khả dĩ cửu xứ ước, bất khả dĩ trường xứ lạc. Nhân giả an nhân,trí giả lợi nhân.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốncùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh hoan lạc. Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân,người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điềunhân.”Chú thích. – Chữ an nhân và chữ lợi nhân ở đây, nghĩa cũng như “an nhi hành chi, lợi nhihành chi” trong sách Trung dung

Tử viết: “Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân.”Dịch. – Khổng tử nói: “Chỉ có người đức nhân mới biết yêu người, ghét người (một cáchcông tâm, chính đáng).”
 
Tử viết: “Cẩu chí ư nhân hĩ, vô ác dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Nếu quyết chí thực hành đức nhân thì không làm điều ác.”

Tử viết: “Phú dữ quí, thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kì đạo đắc chi, bất xử dã. Bần dữ tiện,thị nhân chi sở ố dã, bất dĩ kì đạo đắc chi, bất khứ dã. Quân tử khứ nhân, ố hô thành danh?Quân tử, vô chung thực chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị.”Dịch. – Khổng tử nói: “Giàu và sang, người ta ai cũng muốn, nhưng chẳng phải đạo màđược giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn, người ta ai cũng ghét, nhưngchẳng lỗi đạo mà phải nghèo thì người quân tử chẳng bỏ”[61].Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử?Người quân tử dù trong bữa ăn (một thời gian ngắn) cũng không làm trái điều nhân, dùtrong lúc vộ vàng cũng theo điều nhân"
 
Tử viết: “Ngã vị kiến hiếu nhân giả, ố bất nhân giả. Hiếu nhân giả, vô dĩ thượng chi; ố bấtnhân giả, kì vi nhân hĩ, bất sử bất nhân giả gia hồ kì thân. Hữu năng nhất nhật dụng kì lục ưnhân hồ? Ngã vị kiến lực bất túc giả. Cái hữu chi hĩ, ngã vị chi kiến dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ta chưa thấy ai thật ham điều nhân và ai thật ghét điều bất nhân,Người thật ham điều nhân thì không cho điều gì hơn điều nhân; người thật ghét điều bấtnhân thì khi làm điều nhân không để cho điều bất nhân vướng vào mình. Có ai trọn ngày tậnlực làm điều nhân chăng? Ta chưa thấy ai không đủ sức làm điều nhân cả. Hoặc có chăng màta chưa thấy.”

Tử viết: “Nhân chi quá dã, các ư kì đảng. Quan quá, tư tri nhân hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Lỗi của một người thuộc về từng loại. Xét một người phạm nhữnglỗi nào, có thể biết người đó có đức nhân hay không.”Chú thích. – Thí dụ: người có đức nhân, thường mắc lỗi quá hậu, quá thương người;người thiếu đức nhân thường ngược lại, quá bạc, quá tàn nhẫn.Có người cho rằng chữ nhân [仁] trong “tư tri nhân hĩ” nên sửa là [人] (người) và giảnglà: “biết được hạng người nào”, như vậy dễ hiểu hơn, nhưng ý nghĩa tầm thường.

Tử viết: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Sáng được nghe đạo lí, tối chết cũng được (không hận).”
 
Tử viết: “Sĩ chí ư đạo nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghị dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người nào để chí vào đạo mà thẹn vì cái ăn cái mặc thì chưa thểđem đạo bàn được.”

Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vô thích (có sách đọc là địch) dã, vô mạc dã, nghĩa chidữ tỉ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Cách xử sự của người quân tử không nhất định phải như vầy mớiđược, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm.”Chú thích. – Thái độ đó là vô khả, vô bất khả.
 

Quy trình ra quyết định nhanh hợp nghĩa​


  1. Xác định vai trò: bạn là ai trong tình huống này? (con, lãnh đạo, nhân viên…)
  2. Xem lợi/thiệt: hành động này đem lợi cho ai? Có gây hại cho bên thứ ba không?
  3. Kiểm tra động cơ: bạn làm vì lợi ích chung hay lợi riêng?
  4. Đối chiếu lễ/luật: hành vi có trái lễ/luật không? Nếu có, việc giữ lễ có làm tổn hại nhân nghĩa không?
  5. Quyết định theo nhân nghĩa: chọn phương án bảo toàn công bằng, nhân đạo và trách nhiệm.

Tử viết: “Quân tử hoài đức, tiểu nhân hoài thổ[62], quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử nghĩ làm sao cho đạo đức tăng tiến, kẻ tiểu nhânnghĩ làm sao cho đời sống được yên ổn; người quân tử nghĩ làm sao khỏi trái với phépnước, kẻ tiểu nhân nghĩ làm sao được ân huệ người khác.”

Tử viết: “Phóng ư lợi nhi hành, đa oán.”Dịch. – Khổng tử nói: “Hành động mà theo lợi thì gây nhiều oán” (Người oán mình màmình cũng oán người)
 
Tử viết: “Bất hoạn vô vị, hoạn sở dĩ lập. Bất hoạn mạc kỉ tri, cầu vi khả tri dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Đừng lo không có chức vị, chỉ lo không đủ tài đức để nhận chức vị.Đừng lo không ai biết mình, chỉ mong sao mình có tài đức để cho người ta biết đến.
 
Tử viết: “Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng tử viết: “Duy”. Tử xuất, môn nhân vấnviết: “Hà vị dã?” Tăng tử viết: “Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Sâm này! Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả”. Tăng tử thưa:“Dạ.”Khổng tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng tử: “Thầy muốn nói gì vậy?” Tăng tử đáp:“Đạo của thầy chỉ có trung, thứ[63] mà thôi.

Tử viết: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử hiểu rõ về nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi.”Chú thích. – Hiểu rõ nghĩa là thích nghĩa. Hiểu rõ lợi nên thích lợi. Có sách bàn thêm: Vìtiểu nhân hiểu rõ về lợi, thích lợi, cho nên người quân tử (trị dân) riêng về mình thì khôngnên nói về lợi, nhưng phải xét cái lợi của tiểu nhân (dân) mà làm lợi cho họ.

Tử viết: “Kiến hiền, tư tề yên; kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Thấy người hiền thì mong làm sao bằng người; thấy người bấthiền thì phải tự xét mình (có mắc tật của người đó không)
 
Tử viết: “Sự phụ mẫu ki gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi; lao nhi bất oán.”Dịch. – Khổng tử nói: “Thờ cha mẹ, nên nhỏ nhẹ khuyên can, nếu thấy cha mẹ không theoý mình thì vẫn cung kính mà không xúc phạm cha mẹ; tuy khó nhọc, lo buồn, nhưng khôngđược oán hận.

Tử viết: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã: nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Tuổi của cha mẹ, không thể không biết: một là để mừng (vì cha mẹsống lâu), một là để lo (vì cha mẹ già yếu).
 
Tử viết: “Dĩ ước thất chi giả tiển hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ít có người biết tự tiết chế mà phạm lỗi.”Chú thích. – Có thể hiểu là: Người nào biết tự chế (không phóng túng) thì ít khi phạm tội.

Tử viết: “Quân tử nột ư ngôn, nhi mẫn ư hành.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử chậm chạp (thận trọng) về lời nói, mà mau mắn vềviệc làm.

Tử viết: “Đức bất cô, tất hữu lân.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người có đức thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết bạn vớimình như ở đâu thì có láng giềng ở đó.

Tử Du viết: “Sự quân sác, tư nhục hĩ; bằng hữu sác, tư sơ hĩ.”Dịch. – Tử Du nói: “Thờ vua mà can gián nhiều lần quá thì sẽ bị nhục, chơi bạn mà cangián nhiều lần quá thì bạn sẽ xa mình.”Chú thích. – Có người hiểu “sác” [數] là thân mật quá; và ý bài này như ý trong câu:“Quân tử chi giao đạm như thuỷ”: người quân tử lạnh nhạt như nước lã trong sự giao thiệp,không vồ vập quá.Lại có người hiểu “sác” là khoe công lao (!)
 
Tử vị Công Dã Tràng: “Khả thế dã. Tuy tại luy tiết chi trung, phi kì tội dã”. Dĩ kì tử thế chi.Tử vị Nam Dung[64]: “Bang hữu đạo bất phế; bang vô đạo miễn ư hình lục”. Dĩ kì huynh chitử thế chi.”Dịch. – Khổng tử khen Công Dã Tràng[65]: “Có thể gả con gái cho trò ấy. Tuy bị tù, nhưngkhông phải tội của nó”. Rồi đem con gái gả cho.Khổng tử khen Nam Dung: “Nước có đạo (chính trị tốt) trò ấy tất được dùng; nước mà vôđạo (chính trị xấu, hôn ám) thì không bị hình phạt”. Rồi đem con gái của ông gả cho.
 
  • Chữ "Phi kì tội dã" (Không phải tội của nó): Khổng Tử nhìn thấu rằng việc Công Dã Tràng bị xiềng xích (luy tiết) là do nỗi oan ức hoặc biến cố thời thế, chứ không phải do phẩm chất đạo đức suy đồi. Ngài dạy ta rằng một người quân tử có thể gặp họa, nhưng quan trọng là tâm hồn họ vẫn khiết tịnh ❄️.
  • Đánh giá con người qua Nhân cách: Trong xã hội thời đó, việc gả con cho một người từng ngồi tù là điều kinh động. Nhưng Khổng Tử đã dùng hành động này để khẳng định: Giá trị của một con người nằm ở Đạo đức và Tài năng, chứ không nằm ở cái "mác" tù tội hay sự phán xét nhất thời của thế gian 👤.
  • Sự công bằng trong nhìn nhận: Khổng Tử đề cao sự "Chính danh" và thực tế. Nếu một người tốt bị xã hội vùi dập, người quân tử phải có đủ bản lĩnh để bảo vệ và trọng dụng họ.

  • Chữ "Phi kì tội" (非其罪): Đây là lời khẳng định trực tiếp từ miệng Thánh nhân. Trong nguyên tác, Ngài dùng chữ "Phi" (không phải) để phủ nhận hoàn toàn lỗi lầm của học trò mình. Điều này cho thấy Khổng Tử đã tìm hiểu rất kỹ sự việc trước khi đưa ra phán xét
  • Hành động "Dĩ kì tử thế chi" (以其子妻之): Thời đó, việc gả con gái cho một người mang danh "tù nhân" là một sự sỉ nhục với gia phong. Khổng Tử là người cực kỳ coi trọng Lễ, nếu không tin chắc vào sự trong sạch của Công Dã Tràng, Ngài sẽ không bao giờ đem hạnh phúc của con gái mình ra để đánh đổi chỉ vì lòng thương hại
  • Bản chất của Công Dã Tràng: Theo các điển tích Hán Nôm, Công Dã Tràng được cho là người thông hiểu tiếng chim, vì giúp người mà bị hàm oan. Khổng Tử quý cái "Đức" và cái "Tài" thật sự của ông hơn là cái danh dự bên ngoài bị xã hội vùi dập.
 
Hoặc viết: “Ung dã nhân nhi bất nịnh”. Tử viết: “Yên dụng nịnh? Ngữ nhân dĩ khẩu cấp, lũtăng ư nhân. Bất tri kì nhân, yên dụng nịnh?”Dịch. – Có người bảo với Khổng tử: “Thầy Ung[67] là người nhân nhưng không có tài ănnói”. Khổng tử đáp: “Cần gì phải dùng tài ăn nói? Ung đối với người, mà khéo biện luận,thường bị người ta biết thôi. Ta không biết anh ấy có đức nhân không, nhưng cần gì phảidùng tài ăn nói.”
 
Mạnh Võ Bá vấn: “Tử Lộ nhân hồ?” Tử viết: “Bất tri dã”. Hựu vấn. Tử viết: “Do dã, thiênthặng chi quốc khả sử trì kì phú[69]; bất tri kì nhân dã.”“Cầu dã hà như?” Tử viết: “Cầu dã, thiên thất chi ấp, bách thăng chi gia, khả sử vi chi tể dã;bất tri kì nhân dã?”“Xích dã hà như?” Tử viết: “Xích dã, thúc đái lập ư triều, khả sử dữ tân khách ngôn dã; bấttri kì nhân dã.”Dịch. – Mạnh Võ Bá[70] hỏi: “Thầy Tử Lộ phải là người nhân không”. Khổng tử đáp: “Khôngbiết”. Lại hỏi nữa, Khổng tử bảo: “Anh Do có thể điều khiển quân đội một nước có ngàn binhxa; còn nhân hay không thì không biết.”“Thầy Cầu là người thế nào?” Khổng tử đáp: “Anh Cầu có thể làm quan tể cai trị một ấp cóngàn nhà hoặc một thái ấp (của một quí tộc) có trăm binh xa; còn nhân hay không thì khôngbiết.”“Thầy Xích[71] là người thế nào?” Khổng tử đáp: “Anh Xích có thể thắt đai (bận lễ phục) đứngở triều đình để tiếp đãi tân khách; còn nhân hay không thì không biết.
 
Tử viết: “Ngô vị kiến cương giả”. Hoặc đối viết: “Thân Trành”. Tử viết: “Trành dã dục, yênđắc cương.”Dịch. – Khổng tử bảo: “Ta chưa thấy người nào cương cường”. Có người nói: “Có ThânTrành”. Khổng tử đáp: “Thân Trành nhiều thị dục sao gọi là cương cường được.”Chú thích. – Người cương cường thì tự chủ được mà bất khuất. Người thị dục nhiều quákhó tự chủ và bất khuất được.Thân Trành là học trò Khổng tử.

Tử Cống viết: “Ngã bất dục nhân chi gia chư ngã dã. Ngô diệc dục vô gia chư nhân”. Tửviết: “Tứ dã, Phi nhĩ sở cập dã.”Dịch. – Tử Cống nói: “Điều gì (xấu) tôi không muốn người ta làm cho tôi thì tôi cũngkhông muốn làm cho mình.”Khổng tử bảo: “Tứ, anh không được như vậy đâu.”Chú thích. – Câu của Tử Cống nghĩa y như câu: “Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân”[72]. Theođược câu ấy là có đức nhân.
 
Tử Cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã, phu tử chi ngôn tính dữ thiênđạo, bất khả đắc nhi văn dã.”Dịch. – Tử Cống nói: “Công trình nghiên cứu về văn hóa (như Thi, Thư, Lễ, Nhạc) của thầy(tức Khổng tử) thì chúng ta được nghe, còn quan niệm về thiên tính và đạo trời của thầy thìchúng ta không được nghe.”Chú thích. – Danh từ “văn chương” thời đó khác với thời nay, mà trỏ những điển tịch cổ. –Có người hiểu: “văn chương” là đạo đức, văn từ.

Tử Lộ hữu văn, vị chi năng hành, duy khủng hữu văn.”Dịch. – Tử Lộ nghe được điều gì mà chưa kịp thi hành được thì sợ được nghe thêm điềukhác.Chú thích. – Câu này chắc của môn sinh nhận định về Tử Lộ.

Tử Cống vấn viết: “Khổng Văn Tử hà dĩ vị chi Văn dã?”Tử viết: “Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn, thị dĩ vị chi Văn dã.”Dịch. – Tử Cống hỏi: “Ông Khổng Văn tử[73] sao được đặt cho tên thuỵ là Văn?” Khổng tửđáp: “Thông minh mà lại hiếu học không thẹn hỏi người kém mình, vì vậy được đặt tên thuỵlà Văn.
 
Tử vị Tử Sản: “Hữu quân tử chi đạo tứ yên, kì hành kỉ dã cung, kì sự thượng dã kính, kìdưỡng dân dã huệ, kì sử dân dã nghĩa.”Dịch. – Khổng tử khen Tử Sản[74]: “Ông ấy có bốn điều hợp với đạo người quân tử: giữmình thì khiêm cung, thờ vua thì kính cẩn, nuôi dân thì có ân huệ, sai dân thì hợp tình lí(hợp nghĩa).

Tử viết: “Án Bình Trọng[75] thiện dữ nhân giao, cửu nhi kính chi.”Dịch. – Khổng tử nói: “Án Bình Trọng khéo cư xử với bạn, lâu ngày mà vẫn tôn kính bạn.”
 
Tử viết: “Tang Văn Trọng cư thái, sơn tiết tảo chuyết, hà như kì trí dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Tang Văn Trọng làm nhà cho con “thái” ở (một con rùa lớn dùngđể bói), đầu cột khắc hình núi, xà nhà vẽ rong rêu, sao được gọi là người trí (sáng suốt).Chú thích. – Chỉ thiên tử mới cất nhà và dùng những trang sức như vậy ở trong thái miếuđể nuôi rùa “thái”, Tang Văn Trọng là một đại phu mà hành động như thiên tử là trái lễ. Cònmột lẽ nữa: Tang sa hoa quá, lại mê tín, tưởng trọng con “thái” như vậy thì nó sẽ phù hộ chomình, quả là bất trí.Tang Văn Tử, họ Tang Tôn, tên Thìn, là một đại phu nước Lỗ.
 
Tử Trương vấn viết: “Lệnh doãn Tử Văn, tam sĩ vi lệnh doãn, vô hỉ sắc; tam dĩ chi, vô uấnsắc. Cựu lệnh doãn chi chính, tất dĩ cáo tân lệnh doãn. Hà như?”Tử viết: “Trung hĩ”. Viết: “Nhân hĩ hồ?” Viết: “Vị tri. Yên đắc nhân?”Thôi Tử thí Tề quân, Trần Văn tử hữu mã thập thặng, khí nhi vi chi. Chí ư tha bang, tắc viết:“Do ngô đại phu Thôi tử dã” – Vi chi. Chi nhất bang, tắc hựu viết: “Do ngô đại phu Thôi tửdã” – Vi chi – hà như.”Tử viết: “Thanh hĩ”. Viết: “Nhân hĩ hồ?” Viết: “Vị tri. Yên đắc nhân?”Dịch. – Tử Trương hỏi: “Quan lệnh doãn (tể tướng nước Sở) Tử Văn ba lần làm lệnh doãnmà không mừng, ba lần bị bãi chức mà không oán hận, lại đem việc cũ bàn giao cho quanlệnh doãn mới. Người như thế ra sao?”Khổng tử đáp: “Trung thực đấy”. Lại hỏi: “Có phải là người nhân không?” Đáp: “Chưa biết.Có gì chắc để gọi là người nhân.”(Tử Trương hỏi thêm): “Thôi tử[76] giết vua Tề. Trần Văn tử có mười cổ xe (mỗi cỗ xe có bốnngựa) bỏ mà đi. Đến một nước khác bảo: “Quan đại phu chấp chính ở đây cũng không hơnquan đại phu Thôi tử nước ta”, rồi lại bỏ đi. Tới một nước khác, lại bảo: “Quan đại phu chấpchính ở đây cũng không hơn quan đại phu Thôi tử nước ta”, rồi lại bỏ đi. Người như thế rasao?”Khổng tử đáp: “Trong sạch đấy”. Lại hỏi: “Có phải là người nhân không?” Đáp: “Chưabiết[77]. Có gì chắc để gọi được là người nhân.

Quí Văn tử tam tư nhi hậu hành. Tử văn chi viết: “Tái tư khả hĩ.”Dịch. – (Quan đại phu nước Lỗ là) Quí Văn tử (gặp việc gì cũng) suy nghĩ ba lần rồi mớihành động. Khổng tử nghe được bảo: “Hai lần thôi cũng đủ rồi.”

Tử viết: “Ninh Vũ tử, bang hữu đạo tắc trí, bang vô đạo tắc ngu. Kì trí khả cập dã, kì ngubất khả cập dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ông Ninh Vũ tử (đại phu nước Vệ), khi nước có đạo (chính trị tốt)thì tỏ ra là người trí; khi nước vô đạo (chính trị xấu) thì làm ra vẻ ngu. Cái trí của ông, tatheo kịp, cái ngu của ông, ta không theo kịp.
 
Quí Văn tử tam tư nhi hậu hành. Tử văn chi viết: “Tái tư khả hĩ.” Dịch. – (Quan đại phu nước Lỗ là) Quí Văn tử (gặp việc gì cũng) suy nghĩ ba lần rồi mới hành động. Khổng tử nghe được bảo: “Hai lần thôi cũng đủ rồi.”


  • Tránh sự do dự, do dự sinh biến: Suy nghĩ lần thứ nhất là để phân biệt điều thiện - ác, đúng - sai. Suy nghĩ lần thứ hai là để cân nhắc lợi - hại, cách thực hiện. Nhưng nếu bước sang lần thứ ba, con người dễ bị rơi vào sự tính toán quá mức cho bản thân, dẫn đến sự do dự (do dự) hoặc tìm cách thoái thác việc nghĩa. 🌪️
  • Bản tính của Quí Văn Tử: Quí Văn Tử là người nổi tiếng cẩn trọng đến mức đa nghi. Lời dạy này của Khổng Tử là một "đặc trị" dành riêng cho tính cách của ông ta, nhắc nhở rằng sự quá cầu toàn sẽ làm mất đi cơ hội và sự quyết đoán của người quân tử. 🏹
  • Triết lý Trung dung: Cái gì quá cũng không tốt (Thái quá bất cập). Suy nghĩ quá ít là cẩu thả, nhưng suy nghĩ quá nhiều lại thành nhu nhược. "Tái tư" (suy nghĩ hai lần) chính là điểm trung dung hoàn hảo để giữ cho tâm trí sáng suốt mà hành động vẫn dứt khoát.

Tử tại Trần viết: Quy dư, qui dư? Ngô đảng chi tiểu tử cuồng giản, phỉ nhiên thànhchương, bất tri sở dĩ tài chi.”Dịch. – Khổng tử ở nước Trần bảo: “Về thôi, về thôi! Môn sinh ở quê hương ta có trí lớnnhưng không thận trọng (nông nổi) có văn thái rõ ràng, nhưng không biết tự chế tài mình.”Chú thích. – Lúc này Khổng tử chán ngán vì không thi hành được đạo trong thiên hạ, màlại gặp nhiều điều chẳng may, nên muốn trở về Lỗ, để chỉ bảo, hướng dẫn thanh niên theođạo trung chính, sửa lỗi “cuồng giản” của họ.
 
Tử viết: “Bá Di, Thúc Tề bất niệm cựu ác, oán thị dụng hi.”Dịch. – Khổng tử nói: “Bá Di và Thúc Tề không nhớ điều xấu của người, nên ít oán ai.”Chú thích. – Bá Di và Thúc Tề đều là con vua Cô Trúc, không chịu nhận ngôi vua, bỏ đi ởẩn; sau giúp vua Văn vương làm người có đức. Nhưng khi Võ vương (con Văn vương) đemquân đánh Trụ nhà Thương, hai ông không can được, vào ở ẩn trong núi Thú Dương, chịuchết đói. Coi truyện trong bộ Sử Kí của Tư Mã Thiên.“Oán thị dụng hi” có người hiểu là: ít người oán hai ông ấy. Nhưng bài VII.14 Khổng tử cónói: “… cầu nhân đắc nhân, hựu hà oán?” (hai ông ấy) cầu nhân thì được nhân, còn oán cáigì?” Vì vậy chúng tôi dịch là “nên ít oán ai”, chứ không dịch là ít bị người ta oán.

Tử viết: “Thục vị Vi Sinh Cao[78] trực? Hoặc khất ê yên, khất chư kì lân nhi dữ chi.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ai bảo Vi Sinh Cao là ngay thẳng? Có người đến xin giấm, ông xincủa hàng xóm mà cho.
 

Có thể bạn quan tâm

Top