Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư (1407–1427) Việt Nam đã phải cống nạp những gì cho nhà Minh?

Nguyễn Đình Song Thanh

Mai là mùng một
Sách An Nam Chí Nguyên [安南志原] đời Minh, tại quyển 2, mục Cống phú [cống thuế] chép khá chi tiết về sản phẩm và tiền bạc phải nạp cho Trung Quốc hàng năm. Sử liệu giúp cho người đọc thấy được cụ thể dã tâm bóc lột tại nước ta, quan lại thu thuế xuống tận các địa phương, dương cặp mắt cú vọ xăm xoi tước đoạt đủ mọi sản phẩm thuộc các ngành nghề. Chúng vơ vét bằng đủ loại tiền: tiền đồng, tiền giấy, và một loại tiền khác đặc biệt phạt hành thời Minh gọi là “Bảo tiền” mà người mình quen gọi là tiền quí, hay tiền tốt. Ngoài ra đứng về lãnh vực nghiên cứu, những số liệu thuế nạp tại trung ương và các phủ, châu; cho phép ta hình dung được tình hình kinh tế nước nhà vảo đầu thế kỷ thứ 15.
Cao Hùng Trưng, tác giả An Nam Chí Nguyên, phân biệt 3 cơ quan chính phụ trách về cống thuế: thứ nhất các công trường, thứ hai là trung ương, thứ ba tại các phủ, châu. Lấy năm Vĩnh Lạc thứ 15 [1417] làm chuẩn, tác giả trình bày như sau:
1.Sản phẩm sản xuất từ công trường.
Những sản phẩm sản xuất từ các công trường như vàng, bạc, muối vv… và các đồn điền, thường do hoạn quan như Sơn Thọ, Mã Kỳ, được vua gửi đến; cùng các quan phụ trách trưng thu đưa thẳng về Trung Quốc. Tác giả không có số lượng, chỉ mô tả một cách tổng quát như sau:
“ Lấy năm Vĩnh Lạc thứ 15 [1417] làm chuẩn, các thứ như vàng, bạc, hương liệu, sản xuất từ các công trường, thì đã có điển lệ trưng thu; mỗi năm do nội quan (1), cùng quan tam ty (2), hay Đề đốc quân dân cùng quyết định trưng thu, nên không có định số; rồi hội đồng niêm phong, sai người tiến cống; số này không thuộc loại ngạch các phủ huyện liệu biện hàng năm nên không đăng tải số lượng.”
Tuy nhiên qua danh sách về các cơ quan phụ trách về muối trích dẫn dưới đây, có thể hình dung được cơ ngơi rất lớn:
“Ty muối công trường An Hòa tại huyện Thủy Đường, phủ Tân An.
Ty muối công trường Chi Phong tại huyện Chi Phong phủ Tân An.
Ty muối công trường An Lão tại huyện An Lão phủ Tân An.
Ty muối công trường Đại Hoàng tại huyện Hoàng Sơ phủ Kiến Xương.
Ty muối công trường Quảng Từ tại huyện An Ninh phủ Kiến Bình.
Ty muối công trường Châu Hiệp tại huyện Cửu Hoàng phủ Thanh Hóa.
Ty muối công trường Hoàng Phúc tại huyện Hoàng Phúc phủ Nghệ An.
Ty muối công trường Nam Giới tại huyện Phi Lộc phủ Nghệ An.
Ty muối công trường Thiên Đông tại Diễn châu.” (An Nam Chí Nguyên quyển 2)
Hoặc văn bản ngày 22 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [11/9/1419] về việc lập các cục khai thác vàng tại nước ta như sau:
“Lập các cục mỏ vàng tại Giao Chỉ; thuộc trấn Thất Nguyên phủ Lạng Sơn, trấn Qui Hóa phủ Tam Giang, trấn Tuyên Quang phủ Tuyên Hóa. Đặt 2 viên Đại sứ, 4 viên Phó sứ.”
( Minh Thực Lục v. 14, tr. 2152; Thái Tông q.215, tr.1b )
2.Thuế do trung ương thu.
Tại trung ương do Tam ty tức ty Bố chánh, ty Án sát, và Đô chỉ huy sứ ty đảm trách; thành trì Tam Ty tại góc sông Tô Lịch và Hồng thành phố Hà Nội ngày nay. Riêng năm 1417 số lượng thuế thu vềnhư sau:
-Thúy bì (3) 2.000 cái.
-Quạt giấy: 10.000 cái.
-Sơn sống: 3.350 cân , 9 lượng rưỡi.
-Phèn sống: 500 cân.
-Số ruộng đất, ao hồ của quan dân gồm 17.442 khoảnh 34 mẫu 5 phân 6 ly. Lương thực gạo nạp vào tiết hè thu là 74.549 thạch (4), 4 thăng, 2hợp. 6 chước, 5 sao.
-Muối: 40.400 đấu, 40 thăng.
-Thuế vàng: 573 lượng 8 tiền, 5 phân, 1 ly.
-Thuế bạc: 1.712 lượng, 3 phân, 5 ly.
-Tơ: 1.229 cân (5), 15 lượng, 1 tiền.
-Lương thực gạo nạp vào mùa thu: 3.001 thạch, 8 đấu.
-Thuế voi: 4 con.
-Thuế buôn bán; tiền giấy: 34.461 quan, 616 đồng; tiền đồng: 3.902 quan, 556 đồng; tiền quí (6): 30.558 quan, 921 đồng.
-Tiền mướn ruộng công: 512 quan, 130 đồng.
-Thuế lò làm đồ sành: 618 quan, 2 trăm đồng.
3.Thuế thu tại địa phương.
Lúc bấy giờ toàn thể nước ta có 17 phủ 5 châu, nhưng vì châu Thăng Hoa (7) mới lấy lại từ Chiêm Thành, dân chúng chưa yên với nghề nghiệp, nên tạm thời chỉ thu tại các địa phương còn lại, gồm 16 phủ, 5 châu:
1.Phủ Giao Châu [ ước lượng thuộc Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, Hà Nam ngày nay (8)]
-Thúy bì: 50 cái.
-Quạt giấy: 1.500 cái.
-Sơn sống: 1.695 cân.
-Ruộng đất ao hồ của quan dân: 3.316 khoảnh, 26 mẫu, 6 phân, 6 ly. Thuế lương thực hè thu: 16.562 thạch, 4 đấu, 4 thăng, 9 hợp, 5 chước.
-Tơ: 383 cân, 12 lượng, 6 tiền.
-Thuế buôn, tiền giấy nạp: 13.987 quan, 500 đồng; tiền đồng: 983 quan, 300 đồng; tiền quí: 13.014 quan, 200 đồng.
-Thuế cá trong hồ, tiền giấy:6.160 quan, 400 đồng; tiền đồng: 1.857 quan, 880 đồng; tiền quí: 4.032 quan, 220 đồng.
-Thuế mướn đất công, tiền quí: 132 quan, 85 đồng.
2.Phủ Bắc Giang [tỉnh Bắc Giang và một phần tỉnh Bắc Ninh]
-Thúy bì: 200 cái.
-Quạt giấy: 1.500 cái.
-Ruộng vườn ao hồ quan dân: 1.962 khoảnh, 92 mẫu, 7 phân. Nạp tiền đồng: 801 quan, 445 đồng. Nạp lương thực hè thu: 8. 267 thạch gạo, 9 thăng, 10 hợp, 7 chước, 5 sao.
-Tơ: 100 cân, 12 lượng.
-Thuế buôn, tiền giấy nạp: 5.054 quan, 253 đồng; tiền quí: 4.253 quan.
-Thuế cá, tiền giấy nạp: 985 quan, 540 đồng; tiền đồng: 611 quan, 940 đồng; tiền quí: 373 quan, 600 đồng.
-Thuế lò gốm, tiền đồng: 28 quan.
Phủ Lạng Giang [tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh]
-Thúy bì: 250 cái.
-Quạt giấy: 1.000 cái.
-Ruộng đất ao hồ của quan dân: 1040 khoảnh, 4 mẫu, 3 phân. Thuế lương thực hè thu, gạo: 4.468 thạch, 7 thăng, 2 hợp.
-Tơ: 88 cân, 5 tiền.
-Thuế buôn bán, nạp tiền giấy: 5.072 quan, 700 đồng. Tiền đồng: 215 quan, 60 đồng. Tiền quí: 4.857 quan, 100 đồng.
-Thuế cá ao đầm, tiền giấy: 1.064 quan; tiền đồng: 321 quan, 600 đồng; tiền quí: 740 quan, 300 đồng.
-Tiền mướn ruộng công: 10 quan.
Phủ Lạng Sơn [tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng]
-Đất ruộng ao hồ của dân: 657 khoảnh, 15 mẫu, 2 phân.Nạp lương thực hè thu: 2.614 thạch, 7 đấu, 2 thăng, 8 hợp.
-Thuế vàng: 29 lượng, 7 tiền.
-Thuế buôn bán, tiền giấy: 117 quan, 400 đồng; tiền đồng: 37 quan, 400 đồng; tiền quí: 80 quan.
-Thuế bạc: 145 lượng, 3 tiền.
Phủ Tân An [Thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương].
-Thúy bì: 300 cái.
-Quạt giấy: 2.000 cái.
-Tơ: 1 cân.
-Ruộng đất ao hồ quan dân: 2.914 khoảnh, 76 mẫu, 5 ly. Thuế lương thực hè thu, gạo: 9.844 thạch, 2 đấu, 1 hợp, 5 chước; nạp mùa thu 31 thạch, 8 đấu.
-Thuế buôn bán, thu bằng tiền giấy được: 6.102 quan 504 đồng; tiền đồng: 753 quan 218 đồng; tiền quí: 5.349 quan 286 đồng.
-Thuế cá, tiền giấy: 608 quan 420 đồng; tiền đồng: 304 quan 462 đồng; tiền quí: 303 quan 910 đồng.
-Thuế lò gốm, tiền đồng: 40 quan 200 đồng.
-Thu tô, tiền giấy: 33 quan 860 đồng; tiền đồng: 7 quan 200 đồng; tiền quí: 26 quan 660 đồng.
-Thuế muối: 26.775 cân.
Phủ Kiến Xương[tỉnh Hưng Yên, Thái Bình].
-Thúy bì: 200 cái.
-Quạt giấy: 500 cái.
-Ruộng đất ao hồ quan dân: 442 khoảnh 412 mẫu 3 phân 5 ly. Thu lương thực hè thu, gạo: 2.712 thạch 7 thăng 3 hợp.
-Tơ: 41 cân 5 tiền 5 phân.
-Thuế cá, ao đầm, tiền giấy: 2414 quan 200 đồng; tiền đồng: 524 quan 600 đồng; tiền quí: 1889 quan 600 đồng.
-Tiền thu tô đất công: 102 quan.
-Thuế muối: 1.940 cân.
Phủ Trấn Man [tỉnh Thái Bình, Nam Định].
-Thuế lò gốm: 200 cân.
-Tơ: 9 cân 7 lượng 3 tiền.
-Ruộng đất ao hồ quan dân 533 khoảnh 51 mẫu 6 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 2.187 thạch 8 đấu 8 thăng 5 hợp.
-Thuế buôn, tiền giấy: 582 quan; tiền đồng: 48 quan; tiền quí: 480 quan.
-Thuế đánh cá, tiền giấy: 66 quan, tiền đồng: 18 quan; tiền quí: 40 quan.
– Tô thuế đất công: 4 quan 500 đồng.
-Thuế muối: 4.658 cân.
Phủ Phụng Hóa [tỉnh Nam Định].
-Thúy bì: 100 cái.
-Tơ: 15 lượng.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 901 khoảnh, 66 mẫu 7 phân. Lương thực mùa thu nạp, gạo: 3.303 thạch 2 đấu 5 thăng.
-Thuế buôn, nạp tiền giấy: 224 quan 464 đồng; tiền đồng: 114 quan 440 đồng; tiền quí: 112 quan.
-Thuế cá, tiền đồng: 60 quan.
-Tô thuế đất công, tiền quí: 144 quan.
-Thuế muối: 441 cân.
Phủ Kiến Bình[tỉnh Ninh Bình].
-Thúy bì: 100 cái.
-Tơ: 7 cân 12 lượng 5 phân.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 1.198 khoảnh 32 mẫu. Thuế lương thực hè thu, gạo: 3.974 thạch 6 đấu 9 thăng 3 hợp.
-Thuế buôn, tiền đồng: 95 quan 875 đồng.
-Thuế cá, nạp tiền giấy: 151 quan 600 đồng; tiền đồng: 27 quan 300 đồng; tiền quí: 74 quan 400 đồng.
-Thuế muối: 2.452 cân.
-Tô thuế mướn đất công, tiền giấy: 130 quan 200 đồng.
Phủ Tam Giang [tỉnh Hà Tây, Phú Thọ].
-Thúy bì: 225 cái.
-Quạt giấy: 2.500 cái.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 1.960 khoảnh 36 mẫu 2 phân. Thuế lương thực hè thu, gạo: 8.686 thạch 3 đấu 8 thăng.
-Sơn sống: 300 cân.
-Tơ: 378 cân 2 lượng 4 tiền.
-Thuế buôn, nạp tiền giấy: 471 quan 874 đồng; tiền đồng: 220 quan 39 đồng; tiền quí: 249 quan 335 đồng.
-Thuế cá, tiền đồng: 80 quan 221 đồng.
-Tô thuế đất công: 54 quan.
Phủ Tuyên Hóa [tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Hà Giang].
-Sơn sống: 340 cân.
-Thuế bạc; 859 lượng 7 tiền 3 phân 7 ly.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 701 khoảnh 38 mẫu 5 phân 7 ly. Thuế hè thu, gạo: 2.474 thạch 5 đấu 3 thăng 6 hợp 4 chước.
-Thuế buôn, nạp tiền giấy: 824 quan 722 đồng; tiền đồng : 21 quan 552 đồng; tiền quí: 44 quan.
-Tơ: 1.008 cân 9 lượng.
Phủ Thái Nguyên [tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn].
-Thuế bạc: 144 lượng 5 tiền.
-Thuế vàng: 65 lượng 5 tiền.
-Ruộng vườn ao hồ quan dân: 241 khoảnh 20 mẫu. Nạp lương thực hè thu, gạo: 591 thạch 9 đấu 6 hợp.
-Thuế buôn, tiền giấy: 211 quan 977 đồng. Tiền quí: 176 quan.
Phủ Thanh Hóa [tỉnh Thanh Hóa].
-Quan dân ruộng vườn ao hồ: 830 khoảnh 55 mẫu 7 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 4.088 thạch 6 đấu 1 thăng 4 hợp.
-Tơ: 85 cân 8 lượng 4 tiền.
-Thuế vàng: 180 lượng.
-Thuế buôn cửa hàng, tiền giấy: 1.505 quan 516 đồng; tiền quí: 1.022 quan; tiền đồng: 191 quan.
-Thuế cá, ao hồ, tiền giấy: 950 quan, tiền đồng: 191 quan; tiền quí: 764 quan.
-Thuế muối: 1.739 thăng 40 cân.
Phủ Nghệ An [tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh].
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 110 khoảnh 57 mẫu 2 phân 5 ly. Nạp lương thực hè thu: 483 thạch 9 đấu 1 thăng 3 hợp 5 chước.
-Tơ: 6 cân 2 lượng 6 tiền.
-Thuế vàng: 220 lượng.
-Thuế voi: 3 con.
-Thu tô công điền, tiền giấy: 90 quan.
-Thuế muối: 3.308 cân.
Phủ Tân Bình [tỉnh Quảng Bình].
-Đất đai của dân: 27 khoảnh 56 mẫu 7 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 133 thạch 9 đấu.
-Tơ: 9 cân 13 lượng 4 tiền.
– Thu tô đất công, tiền quí: 10 quan.
Phủ Thuận Hóa [tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên].
-Ruộng đất dân: 71 khoảnh. Nạp lương thực hè thu: 213 thạch 2 đấu 9 thăng 7 hợp.
1.Châu Quảng Oai [tỉnh Hòa Bình].
-Thuế buôn, tiền giấy: 43 quan.
-Thuế cá, tiền đồng: 31 quan.
-Tơ: 34 cân 8 lượng.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 181 khoảnh 95 mẫu 5 phân; nạp lương thực hè thu, gạo: 778 thạch 8 đấu 5 thăng 4 hợp.
2.Châu Gia Hưng [tỉnh Phú Thọ, Sơn La].
-Tơ: 34 cân 15 lượng 6 tiền.
-Thuế buôn, tiền giấy: 670 quan 750 đồng; tiền đồng: 508 quan 250 đồng; tiền quí: 163 quan 500 đồng.
-Quan dân ruộng đất ao hồ: 151 khoảnh 69 mẫu 9 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 115 thạch 2 đấu 3 thăng 5 hợp.
3.Châu Qui Hóa [tỉnh Yên Bái, Lào Cai].
– Quan dân ruộng đất ao hồ: 151 khoảnh 69 mẫu 6 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 115 thạch 2 đấu 3 thăng 5 hợp.
-Tơ: 34 cân 15 lượng 6 tiền.
-Thuế buôn, tiền giấy: 670 quan 750 đồng; tiền đồng: 580 quan 250 đồng; tiền quí: 163 quan 500 đồng.
4.Châu Ninh Hóa [phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình].
-Tơ: 14 cân 7 lượng 3 tiền.
-Ruộng đất ao hồ dân: 76 khoảnh 1 phân. Nạp lương thực hè thu, gạo: 336 thạch 5 đấu 4 thăng.
5.Châu Diễn [ Huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu thuộc tỉnh Nghệ An].
-Thuế muối: 580 cân.
-Đất đai ao hồ dân: 20 khoảnh 65 mẫu 8 phân. Nạp lương thực hè thu: 78 thạch 4 đấu 2 thăng 4 hợp.
Chú thích:
1. Nội quan: Hoạn quan do nhà vua gửi đến.
2. Tam ty tức 3 ty, gồm: ty Bố chánh, ty Án sát, ty Đô chỉ huy.
3. Thúy bì: lá thuốc giải nhiệt.
4. 1 thạch thời Minh bằng 60 kg; 10 đấu = 1 thạch; 10 thăng= 1 đấu; 10 hợp = 1 thăng; 10 chước = 1 hợp; chước tương đường với môi múc canh
5. 1 cân = .50 kg; 16 lượng = 1 cân; tiền còn gọi là đồng cân= 1/10 lượng.
6. Tiền quí tức Bảo sao, một loại tiền giấy chỉ phát hành vào thời Minh, bề ngang 20 cm., bề dọc 30 cm.; là loại giấy bạc có kích thước rộng nhất. Bảo sao được gọi là tiền quí, hay tiền tốt; bởi vậy xưa có bài ca dao mô tả việc người nội trợ mang 1 quan tiền tốt đi chợ, bị chồng kiểm soát; bài ca dao với những câu mở đầu như sau:
Một quan tiền tốt mang đi,
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra?……
7. Phủ Thăng Hoa: thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Thời Minh xâm lăng, Chiêm Thành hợp tác với nhà Minh đánh nhà Hồ và chiếm lấy đất này; rồi vào năm 1417 quân Minh lấy lại từ Chiêm Thành.
 
Thì lúc nào chả thế, mất nước phải chịu thôi, giống bọn Chăm bây giờ bị dân Kinh nó gõ đầu, chiếm cả đất chiếm cả tài nguyên luôn :)) =))
 
Sao tao đọc truyện tranh còn có : Ngà voi, san hô đỏ, ngọc trai lớn, da hổ to,..v...
Chứ kiểu thu thuế như vầy là thu bình thường mà, đéo có gì đặc biệt, kiểu như trinh nữ 16 tuổi mỗi thôn 1 người hoặc là trai tráng đến tuổi đi lính thì phải xung quân....
 
Sao tao đọc truyện tranh còn có : Ngà voi, san hô đỏ, ngọc trai lớn, da hổ to,..v...
Chứ kiểu thu thuế như vầy là thu bình thường mà, đéo có gì đặc biệt, kiểu như trinh nữ 16 tuổi mỗi thôn 1 người hoặc là trai tráng đến tuổi đi lính thì phải xung quân....
Thực ra cũng tùy, tao thấy dù VN có độc lập thì cũng vẫn cứ triều cống cho Tàu hàng năm thôi chứ có thoát được cái gì đâu. Đóng tiền cho nó nhẹ hơn, nhưng vẫn là đóng.
 
Thực ra cũng tùy, tao thấy dù VN có độc lập thì cũng vẫn cứ triều cống cho Tàu hàng năm thôi chứ có thoát được cái gì đâu. Đóng tiền cho nó nhẹ hơn, nhưng vẫn là đóng.
Nước yếu là thế thôi, chủ yếu là tiến cống khác với cống nạp ở chổ là thích thì trả giá và không được trả giá.
 
Nước yếu là thế thôi, chủ yếu là tiến cống khác với cống nạp ở chổ là thích thì trả giá và không được trả giá.
Mày hiểu thế là sai đấy nhé, trong sách thời Tống có năm nhà Lý sang tiến cống ít quá bọn Tống nó còn đéo nhận, xong gửi cả thư trách phạt. Cuối cùng năm sau phải cống đủ như mọi năm chứ không có chuyện được trả giá đâu. Mà lúc đấy còn là thời Tống đã mạt, mất một nửa giang sơn rồi (gọi là Nam Tống). Mày tìm sách Tống hội Yếu tập cảo mà đọc

PS: Tao thấy có 1 thời duy nhất Việt Nam trả giá được với thằng Tàu đấy là thời Tây Sơn, Việt Nam thời đó về cơ bản cũng là mạnh trong khu vực, nhà Thanh thì cũng phải đi đánh khắp nơi nên Tây Sơn thương lượng được với nhà Thanh cho bỏ cái lệ cống người vàng suốt từ thời Minh. Chứ tao chưa thấy có thời nào Việt Nam lại dám đi mặc cả với thằng Tàu :)) =))
 
Nước yếu là thế thôi, chủ yếu là tiến cống khác với cống nạp ở chổ là thích thì trả giá và không được trả giá.
Các nước xung quanh với Tàu cùng thời với nhà Lý thì tao thấy có bọn Khiết Đan với thằng Đảng Hạng là thằng Tàu phải ban thưởng (thực ra là cống nạp, nhưng sách sử cứ ghi là ban thưởng). Chứ thằng Đại Lý, Cao Ly với Đại Việt là phải cống hết. Thằng Nhật Bản thì bỏ cống nạp cho Trung Hoa kể từ khi nhà Đường sụp đổ, về sau nó còn đéo thèm cho đại sứ sang thăm gặp hàng năm luôn cơ :)) =))
 
Mày hiểu thế là sai đấy nhé, trong sách thời Tống có năm nhà Lý sang tiến cống ít quá bọn Tống nó còn đéo nhận, xong gửi cả thư trách phạt. Cuối cùng năm sau phải cống đủ như mọi năm chứ không có chuyện được trả giá đâu. Mà lúc đấy còn là thời Tống đã mạt, mất một nửa giang sơn rồi (gọi là Nam Tống). Mày tìm sách Tống hội Yếu tập cảo mà đọc

PS: Tao thấy có 1 thời duy nhất Việt Nam trả giá được với thằng Tàu đấy là thời Tây Sơn, Việt Nam thời đó về cơ bản cũng là mạnh trong khu vực, nhà Thanh thì cũng phải đi đánh khắp nơi nên Tây Sơn thương lượng được với nhà Thanh cho bỏ cái lệ cống người vàng suốt từ thời Minh. Chứ tao chưa thấy có thời nào Việt Nam lại dám đi mặc cả với thằng Tàu :)) =))
Ủa vậy lời tao nói khác ý mày diễn giải chổ nào thế?
Các nước xung quanh với Tàu cùng thời với nhà Lý thì tao thấy có bọn Khiết Đan với thằng Đảng Hạng là thằng Tàu phải ban thưởng (thực ra là cống nạp, nhưng sách sử cứ ghi là ban thưởng). Chứ thằng Đại Lý, Cao Ly với Đại Việt là phải cống hết. Thằng Nhật Bản thì bỏ cống nạp cho Trung Hoa kể từ khi nhà Đường sụp đổ, về sau nó còn đéo thèm cho đại sứ sang thăm gặp hàng năm luôn cơ :)) =))
Khiết Đan vẫn có thời gian vẫn tiến cống ngựa và người nhé, chủ yếu qua lại.
Mà kệ mẹ, chủ yếu là Khiết Đan giờ đéo ai biết đến nước đó còn Việt Nam thì có tên trên LHQ, quan trọng là chổ ấy.
 
Ủa vậy lời tao nói khác ý mày diễn giải chổ nào thế?

Khiết Đan vẫn có thời gian vẫn tiến cống ngựa và người nhé, chủ yếu qua lại.
Mà kệ mẹ, chủ yếu là Khiết Đan giờ đéo ai biết đến nước đó còn Việt Nam thì có tên trên LHQ, quan trọng là chổ ấy.
ừ giờ Khiết Đan thuộc cường quốc nhất nhì thế giới
 
Sửa lần cuối:
Ủa vậy lời tao nói khác ý mày diễn giải chổ nào thế?

Khiết Đan vẫn có thời gian vẫn tiến cống ngựa và người nhé, chủ yếu qua lại.
Mà kệ mẹ, chủ yếu là Khiết Đan giờ đéo ai biết đến nước đó còn Việt Nam thì có tên trên LHQ, quan trọng là chổ ấy.
Hô lê
 
Sửa lần cuối:
ừ giờ Khiết Đan thuộc cường quốc nhất nhì thế giới còn VN thì
Ờ hay thật.
Mày đúng với tên title luôn.
Cường quốc nhất nhì thế giới đéo biết mày được hưởng hay không?
Chấm điểm công dân.
Kiểm soát ngôn luận.
Cấm đoán tin tức nước ngoài.
V.v.. khác ở tù 1 tý nhỉ.
 
Ủa vậy lời tao nói khác ý mày diễn giải chổ nào thế?

Khiết Đan vẫn có thời gian vẫn tiến cống ngựa và người nhé, chủ yếu qua lại.
Mà kệ mẹ, chủ yếu là Khiết Đan giờ đéo ai biết đến nước đó còn Việt Nam thì có tên trên LHQ, quan trọng là chổ ấy.
Hô lê
 
Sửa lần cuối:
Ờ hay thật.
Mày đúng với tên title luôn.
Cường quốc nhất nhì thế giới đéo biết mày được hưởng hay không?
Chấm điểm công dân.
Kiểm soát ngôn luận.
Cấm đoán tin tức nước ngoài.
V.v.. khác ở tù 1 tý nhỉ.
tao đùa thôi chứ người TQ cũng muốn thoát khỏi TQ vkl dhs, thường immigrant mấy nước âu mỹ can nz aus các thứ toàn TQ
 
Công nhận hồi đó dân hán tàu nó ghui chép đầy đủ thật. Có vậy sau này mới có tư liệu tham khảo. Dân Việt lúc đó chẳng thấy ghi chép gì hoặc bị hán tộc hủy hết hay sao mà sau này đến thời an dương vương mới bắt đầu ghi chép
 
Ờ hay thật.
Mày đúng với tên title luôn.
Cường quốc nhất nhì thế giới đéo biết mày được hưởng hay không?
Chấm điểm công dân.
Kiểm soát ngôn luận.
Cấm đoán tin tức nước ngoài.
V.v.. khác ở tù 1 tý nhỉ.
màh TQ ở đây đâu phải mỗi Mainland, còn Taiwan Hongkong Singapore nữa :)

Ý là văn minh hán tộc ý, đcm đéo thể nghèo được
 
tao đùa thôi chứ người TQ cũng muốn thoát khỏi TQ vkl dhs, thường immigrant mấy nước âu mỹ can nz aus các thứ toàn TQ
Mày 2 mặt vcl.
Mất ý thức dân tộc (Khiết Đan, Nữ Chân, Đại Lý..v....v....) nó khác với 1 quốc gia bao trùm về dân số và chính trị đạt đỉnh.
Như tụi TQ chấp nhận bỏ hơn mấy chục năm "nằm im chờ thời" thì mới được như ngày hôm nay.
Nhiều khi giờ tụi nó mà gây ra chiến tranh thế giới 3 thì cũng mệt vì dân nó khắp mọi nơi trên địa cầu và chả biết Khựa thật hay Khựa giả, điệp viên hay gián điệp nữa.
 
Thì cũng giống như mấy quán bún ở Việt Nam bây giờ phải đóng tiền bảo kê cho giang hồ, rồi bọn giang hồ lại đóng lên cho công an
 
m
Mày 2 mặt vcl.
Mất ý thức dân tộc (Khiết Đan, Nữ Chân, Đại Lý..v....v....) nó khác với 1 quốc gia bao trùm về dân số và chính trị đạt đỉnh.
Như tụi TQ chấp nhận bỏ hơn mấy chục năm "nằm im chờ thời" thì mới được như ngày hôm nay.
Nhiều khi giờ tụi nó mà gây ra chiến tranh thế giới 3 thì cũng mệt vì dân nó khắp mọi nơi trên địa cầu và chả biết Khựa thật hay Khựa giả, điệp viên hay gián điệp nữa.
màh tao đề cao chủ nghĩa cá nhân nên thực ra tao thấy ý thức dân tộc cũng không có nghĩa lý gì lắm tbh
 
m
Mày 2 mặt vcl.
Mất ý thức dân tộc (Khiết Đan, Nữ Chân, Đại Lý..v....v....) nó khác với 1 quốc gia bao trùm về dân số và chính trị đạt đỉnh.
Như tụi TQ chấp nhận bỏ hơn mấy chục năm "nằm im chờ thời" thì mới được như ngày hôm nay.
Nhiều khi giờ tụi nó mà gây ra chiến tranh thế giới 3 thì cũng mệt vì dân nó khắp mọi nơi trên địa cầu và chả biết Khựa thật hay Khựa giả, điệp viên hay gián điệp nữa.
màh tao đề cao chủ nghĩa cá nhân nên thực ra tao thấy ý thức dân tộc cũng không có nghĩa lý gì lắm tbh
 
m

màh tao đề cao chủ nghĩa cá nhân nên thực ra tao thấy ý thức dân tộc cũng không có nghĩa lý gì lắm tbh
Tao thì theo chủ nghĩa quốc gia, cho nên kể cả nếu là người gốc Hoa như Sĩ Nhiếp mà có công với quốc gia Việt Nam thì tao cũng thờ
 

Liêu Ninh GDP năm 2020 là 364 tỏi ( hình như Liêu Ninh là Khiết Đan cũ), còn An Nam xứ thì hơn 200 tỏi thì phải
Song-Liao-Xixia-1111.png

Khiết Đan rộng hơn nhiều cái tỉnh Liêu Ninh.
Mà mày so GDP thì bó tay, ở VN còn thua cái tỉnh lẻ Nam Hải của Khựa.
Bạn tao nói Nam Hải là tỉnh nghèo của TQ nhé, chắc mình chỉ hơn một vài tỉnh phía tây Khựa do nó bị samac và không phát triển kinh tế được thôi.
 
m

màh tao đề cao chủ nghĩa cá nhân nên thực ra tao thấy ý thức dân tộc cũng không có nghĩa lý gì lắm tbh
Chủ nghĩa cá nhân thì Mỹ và Nhật thì hợp với mày, nó đề cao chủ nghĩa cá nhân số 1.
Tao theo chủ nghĩa dân tộc, kệ mọe.
Nói chính ra VN phải theo đường lối Thụy Sĩ, chứ nhùng nhằng là bốc cức thôi, do lổ đít thằng Khựa to và rộng lắm, né nơi nào cũng khắm.
 
Song-Liao-Xixia-1111.png

Khiết Đan rộng hơn nhiều cái tỉnh Liêu Ninh.
Mà mày so GDP thì bó tay, ở VN còn thua cái tỉnh lẻ Nam Hải của Khựa.
Bạn tao nói Nam Hải là tỉnh nghèo của TQ nhé, chắc mình chỉ hơn một vài tỉnh phía tây Khựa do nó bị samac và không phát triển kinh tế được thôi.
Việt Nam bây giờ thì có cái máu Lồn gì hơn được Trung Quốc đâu mày? Bạn tao sống ở vùng quê Trung Quốc, sang đấy lao động, nó chụp cái ảnh đường xá ở vùng quê thôi mà còn tử tế hơn cái đường Hà Nội. Đường vừa to, vừa đẹp, sạch sẽ hơn cả thủ đô thì tao đéo hiểu mấy cái thành phố lớn của nó thế nào.
 

Có thể bạn quan tâm

Top