Dân trí Vẹm có được trả mức lương cao hay không ?
Tất cả từ sự học mà ra . Dân ngu đòi lương cao , có cái lồn
Để nói dân Vẹm có ngu hay không thì hôm trước tao đọc một cái bài thống kê Nghiên cứu khoa học chất lượng cao của các nước trên thế giới của bảng xếp hạng Nature Index. Tao xin nhấn mạnh là
Chất Lượng Cao nhé, chứ không phải mấy cái luận án tiến sĩ bất hủ năm nào
Nature Index (NI) có nghĩa là gì?
Theo đó, nhóm nghiên cứu của Nature chọn một danh sách gồm 177 tập san và 1 hội nghị để đếm số bài báo mà một quốc gia công bố trong năm qua.
Danh sách tập san được một nhóm nhà nghiên cứu độc lập lựa chọn. Họ được hỏi: "Bạn muốn đăng công trình tốt nhấtt của mình ở đâu nhấtt?" Nói cách khác, đây là nhóm tập san được giới khoa học coi là "hạng nhấtt."
Một số tập san tiêu biểu trong danh sách là Nature, Science, PNAS, Nature Communications, Science Advances, Journal of the American Chemical Society, Angewandte Chemie, Nano Letters, ACS Nano, Cell, Nature Medicine, Cancer Cell, The Lancet, New England Journal of Medicine, Physical Review Letters, Applied Physics Letters, v.v.
Số bài báo được đếm theo 2 cách: Count (số bài) và Share (chia sẻ).
Count là số bài báo có ít nhứt một tác giả thuộc quốc gia đó. Ví dụ: năm 2025, chúng tôi ở bên Úc hợp tác với các đồng nghiệp Việt Nam công bố 1 bài trên một trong những tập san trên, thì Úc được nhận 1 bài, và Việt Nam cũng 1 bài, bất kể có bao nhiêu tác giả trong bài báo. Tức là 1 bài thôi, nhưng hai quốc gia được hưởng!
Share là là phần công trình / bài báo được qui cho một quốc gia sau khi phân chia đóng góp của bài báo giữa các tác giả và cơ sở nghiên cứu tham gia. Ví dụ, 1 bài hợp tác giữa Úc và Việt Nam có thể được tính như sau:
• Count của Úc = 1 và Count của Việt Nam = 1
• Share của Úc = 0.7 và Share của Việt Nam = 0.3 (tổng cộng là 1).
Ví dụ: Việt Nam năm 2025 công bố Count = 213 bài báo trên các tập san hàng đầu, nhưng Share = 61 bài.
Nature Index xếp hạng quốc gia dựa trên chỉ số Share.

Mỗi năm, Việt Nam công bố khoảng 15,000 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế có bình duyệt. Nhưng con số những bài báo trên các tập san hàng đầu (theo Nature Index) thì chỉ tương đương 61 bài.
Những con số liên quan đến Việt Nam phải đặt trong bối cảnh chung. Theo bảng thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2025, trong đội ngũ 93954 giảng viên đại học của Việt Nam có [2]:
• Giáo sư tiến sĩ: 790 người
• Phó giáo sư, tiến sĩ: 6186
• Tiến sĩ, chưa có chức danh GS/PGS: 26528
Như vậy, số người có bằng tiến sĩ trở lên trong hệ thống đại học là 33504 người (con số 2025). Hạng Nature Index của Việt Nam là 47/50.
So với Thái Lan, con số giáo sư và giảng viên có bằng tiến sĩ là 28456 (con số 2024) [3]. Hạng Nature Index của Thái Lan là 42/50.
Một chỉ số có tính so sánh quốc tế tốt hơn là số nhà nghiên cứu R&D qui đổi toàn thời gian trên một triệu dân. Theo dữ liệu UNESCO được World Bank công bố, Thái Lan có khoảng 1.592 nhà nghiên cứu trên một triệu dân vào năm 2023. Con số tương ứng của Việt Nam là khoảng 768 [4].
Những so sánh thô trên cho thấy Việt Nam có một đội ngũ giảng viên và người mang học vị tiến sĩ tương đối lớn về số tuyệt đối. Tuy nhiên, qui mô nhân lực đó chưa được chuyển hoá thành sự hiện diện tương xứng trong các công trình được Nature Index theo dõi.
Khoảng cách có thể liên quan đến mật độ nhà nghiên cứu còn thấp, đầu tư R&D hạn chế, điều kiện làm nghiên cứu, cơ sở vật chất, cơ chế tài trợ, thời gian dành cho nghiên cứu và khả năng xây dựng các nhóm nghiên cứu có sức cạnh tranh quốc tế.
Bảng xếp hạng vì vậy nên được xem như một tấm gương hơn là một "bản án". Nó không mô tả toàn bộ nền khoa học Việt Nam, nhưng phản ảnh một phương diện quan trọng của nền khoa học đó: chất lượng cao.
Muốn hiểu rõ hơn, chúng ta cần mở rộng phân tích theo từng lãnh vực, từng cơ sở nghiên cứu và nhiều năm liên tiếp; đồng thời hiệu chỉnh thêm cho số nhà nghiên cứu, kinh phí R&D và mức độ hợp tác quốc tế. Một hệ thống đánh giá như vậy sẽ giúp chuyển cuộc thảo luận từ câu hỏi “Việt Nam đứng hạng bao nhiêu?” sang câu hỏi thiết thực hơn: “Việt Nam cần thay đổi điều gì để tiềm năng khoa học được chuyển thành những thành quả có ảnh hưởng?”
Việt Nam không thiếu người có học vị cao; vấn đề nằm ở chỗ hệ thống khoa học chưa tạo đủ điều kiện để nguồn nhân lực đó chuyển thành những công trình có đóng góp và ảnh hưởng quốc tế tương xứng.
Tóm lại, trong phạm vi 50 quốc gia dẫn đầu của Nature Index, Việt Nam đứng hạng 46 theo Share chánh thức, hạng 47 theo Share trên một triệu dân và hạng 47 theo tỉ số giữa Share quan sát và Share kì vọng từ một mô hình phân tích. Các kết quả này cho thấy sự hiện diện của khoa học Việt Nam trong nhóm ấn phẩm được Nature Index theo dõi còn quá thấp so với qui mô dân số.