Cảnh báo lừa đảo‼️ Tau thấy 1 số tư tưởng nho khổng rất hay mà sao lại bị chửi, xh vẹm bây giờ loạn 1 phần vì dân ko biết nho khổng

Tử viết: “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?”Dịch. – Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì? Người không có đứcnhân thì nhạc mà làm gì?”Chú thích. – Khổng tử cho đức nhân là gốc của lễ nhạc.

Lâm Phỏng vấn lễ chi bản. Tử viết: “Đại tai vấn! Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm; tang dữ kì dịdã, ninh thích.”Dịch. – Lâm Phỏng hỏi về gốc của lễ. Khổng tử đáp: “Câu hỏi đó quan trọng đấy! Lễ màquá xa xỉ thì kiệm ước còn hơn; tang mà quá chú trọng nghi tiết thì thương xót còn hơn.”Chú thích. – Không rõ Lâm Phỏng là ai[43].
 
Tử Hạ vấn viết: “‘Xảo tiếu thiến hề, mĩ mục phán hề, tố dĩ vi huyến hề’ hà vị dã?” Tử viết:“Hội sự hậu tố”. Viết: “Lễ hậu hồ?” – Viết: “Khởi dư giả Thương[46] dã! Thủy khả dữ ngôn Thidĩ hĩ.”Dịch. – Tử Hạ nói: “(Kinh Thi nói:) miệng xinh chúm chím cười, mắt đẹp long lanhsáng[47], trên nền trắng vẽ màu sặc sỡ[48]“ nghĩa là thế nào?” Khổng tử đáp: “Có sẵn nền trắngrồi sau mới vẽ”. – Tử Hạ (lại hỏi): “(Nghĩa là) lễ phải ở sau (nhân)[49] chăng?” Khổng tử nói:“Anh Thương phát khởi được ý ta, như anh mới có thể giảng Kinh Thi cho được.”Chú thích. – Khổng tử khen Tử Hạ nghe một biết hai.
 
Tế như tại, tế thần như thần tại.Tử viết: “Ngô bất dữ tế, như bất tế.”Dịch. – Tế tổ tiên như tổ tiên ở trước mặt, tế thần như thần ở trước mặt[50].Khổng tử nói: “Khi ta (vì lẽ gì) không đích thân đứng tế (mà mượn người thay)[51] tuy cótế đấy, vẫn (ân hận) như chưa tế.”
 
Như tít
"tiên học lễ hậu học văn" chính là tư tưởng
Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ

Giờ thì quan trọng chữ tiền
Mấy ai quan tâm tín, học, tâm nữa đâu
Miễn cái gì có tiền là làm
Nên tụi mày thấy giờ giàu ko bền
Vì đéo tu thân, đéo tu thân thì nhà cửa ko yên ổn ăn chơi quậy phá thì mất hết

Đéo tự nhắc mình về trí, tín, lễ nghĩa
Thành ra càng làm càng thua
Tau nghĩ bộ gd nên cập nhập thêm môn Khổng cho các hs cấp 2- cấp 3
Toàn bộ giáo điều của Khổng Tử thì tao không biết hết, nhưng tao thấy thích quan điểm nam nhi phải có trí lớn. Nam nhi trí lớn, tự khắc bọn đàn bà nó phải ngoan ngoãn mà nghe theo, không cần dùng vũ lực.

Giờ gay lọ, chã, tràn ngập xã hội. Đcm, ra đường nhìn mấy thằng choai choai đội/cài mũ bảo hiểm, kéo bàn để chân cho bạn gái, mà tao mắc ói thiệc. Lẽo đẽo đi theo xin lỗi một con bạn gái dẩm Lồn. Cả một thế hệ như vậy trưởng thành rồi dân tộc sẽ đi về đâu? Nam nhi lúc nhỏ không được dạy dỗ cho mạnh mẽ, trưởng thành rồi thành một lũ èo oặt, để gái nó điều khiển, rồi cả đời cũng chỉ làm nô lệ cho con đàn bà, như Qua Trung Nguyên nói rồi đó.

Còn cái bọn gái gú, xu hướng nghĩ mình là công chúa, nghĩ có cái Lồn, cặp vú, là che được cả mặt trời. Rồi đem lồn ra chơi đùa, làm bảo vật để điều khiển đàn ông cấp thấp, tìm kiếm dopamine rẻ tiền, hưởng thụ dục lạc ngắn hạn. Được mấy năm thì còn gì nữa đâu, tan nát hết cả, thân xác xuống cấp, tư duy đổ nát. Đem cái tâm hồn toxic đó đi gây dựng gia đình, thiệc là con cái chưa sinh ra đã nhiễm độc rồi.
 
Luận ngữ đã được phổ biến từ thời Tiên Tần.Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc rồi, ra lệnh “đốt sách, chôn nho”, nhưng thời đó giao thông còn kém, sự kiểm soát không thể chặt chẽ lắm, mà Tần giữ ngôi không được lâu,nên lệnh chỉ thi hành triệt để ở những nơi gần kinh đô và chung quanh các thị trấn, còn trong dân gian các miền xa xôi, vẫn còn người lén lúc giữ được, có kẻ học thuộc lòng được Luận ngữ và lục kinh.Nhà Hán diệt Tần rồi, bỏ lệnh đó đi thì người ta thu thập được ba bản Luận ngữ: Bản LỗLuận của người nước Lỗ; bản Tề Luận của người nước Tề (hai bản này được chép bằng thứchữ đã được Tần sửa đổi và thống nhất, gọi là kim văn – tức kim tự); và bản Cổ Luận (chépbằng cổ văn, tức cổ tự, thứ chữ dùng thời trước). Bản Cổ Luận này do Lỗ Cung công (cuốiđời Hán Vũ đế) sai phá nhà Khổng tử mà tìm được trong tường, cùng với các bộ ThượngThư, Lễ Kí, Hiếu Kinh.Lỗ Luận có 20 thiên, Tề Luận cũng có đủ 20 thiên đó, thêm hai thiên nữa: Vấn vương vàTri đạo, như vậy là 22 thiên cả thảy. Cổ Luận cũng chỉ có 20 thiên như Lỗ Luận, nhưng thiêncuối: “Nghiêu vấn” chia làm hai từ câu: “Tử Trương vấn ư Khổng tử: Hà như tư khả dĩ tòngchính hĩ” trở đi (tức bài XX.2 trong bản dịch của chúng tôi, gọi là Tòng thiên. Vậy là Cổ Luậnchi làm 21 thiên, hai thiên cuối rất ngắn.Theo Hà Án đời Nguỵ, trong số 20 thiên Lỗ và Tề đều có thì chương cú trong Tề Luậnnhiều hơn trong Lỗ Luận; mà thứ tự các thiên trong Cổ Luận cũng khác trong Tề và Lỗ Luận.Đầu đời Hán, hai bản Lỗ và Tề đều được truyền (Ông thầy nào muốn dùng bản nào thìdùng); bản Cổ Luận không được truyền, không hiểu tại sao.Từ đời Hán Thành đế (32–7 trước Công nguyên), hai bản Tề và Lỗ được hợp nhất; rồicuối đời Đông Hán, Trịnh Huyền bỏ hai thiên Vấn vương và Tri đạo trong Tề Luận đi, hợpnhất cả ba bản.Hà Án đời Nguỵ có lẽ là người đầu tiên giải thích Luận ngữ, bản Luận ngữ tập giải của ôngcòn truyền đến ngày nay. Đời Tống, Chu Hi cũng chú thích và bản Luận ngữ tập chú của ôngkhông khác bản của Hà Án bao nhiêu. Hai bản đó là chính, còn nhiều bản khác nữa. Ở nướcta từ xưa chỉ dùng bản của Chu Hi và các nhà dịch Luận ngữ trong già nửa thế kỉ nay cũngchỉ theo chú thích của Chu Hi.
 
Tử viết: “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng[25] nhi thân nhân;hành hữu dư lực tắc dĩ học văn.”Dịch. – Khổng tử nói: “Con em (thanh niên) ở trong nhà thì hiếu, thảo với cha mẹ, rangoài thì kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọingười mà gần gũi người nhân đức; làm được thế vậy rồi mà còn dư sức thì sẽ học văn (tứchọc Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch…).
 
Tử viết: “Quân tử bất trọng tắc bất uy, học tắc bất cố; chủ trung tín, vô hữu bất như kỉ giả,quá tắc vật đạn cải.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử không trang trọng thì không uy nghi, học tất khôngvững (không đạt lí); chuyên chú vào sự trung tín, không kết bạn với người không (trung tín)như mình; có lỗi thì chớ ngại sửa đổi.

Tử viết: “Phụ tại, quan kì chí; phụ một, quan kì hành; tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vịhiếu hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Cha còn thì xét chí hướng của người, cha mất rồi thì xét hành vicủa người, ba năm sau mà không thay đổi khuôn phép (tốt đẹp) của cha thì có thể gọi là cóhiếu.”Chú thích. – Nguyên văn chỉ dùng chữ đạo. Chúng tôi nghĩ đã gọi đạo thì phải tốt đẹp, cótốt đẹp thì con mới nên giữ đúng; hễ ba năm hết tang mà còn giữ được thì tất sẽ giữ đượchoài. Còn điều không thiện của cha thì không thể gọi là đạo được, có thể sửa đổi liền.Cổ nhân có người hiểu khác: dù cha sinh tiền có làm gì trái đạo thì người con có hiếu cũngkhông nỡ sửa đổi ngay, mà đợi hết tang cha đã.
 
Tư tưởng nào thì trước hết phải phục vụ chế độ đã. Hợp ý chế độ thì cho lưu hành, còn ko say no.
Đến nơi sinh nó ra còn bỏ giờ đòi áp dụng 🤣
Nó vẫn có viện nghiên cứu nhà nước cấp học bổng ở các nước đó
Mà quan trọng đéo gì tau đọc từ hồi cấp 2 rồi hay mà thấy nhiều chê
 
Tề gia trị quốc bình thiên hạ?

@Anh Bảy niểng Nguyễn Xuân Phúc đã đáp ứng các tiêu chí nhé. Anh 7 dù nghẹo cổ vẫn bú Lồn vợ tề gia, làm chủ tịt nước bình thiên hạ dẹp loạn 3x đang ngon thì bị @Trọng Lú hãm chứ ko giờ hoá rồng, râu ria phấp phới bay ko trung đi mưa về gió rồi.
 
Tề gia trị quốc bình thiên hạ?

@Anh Bảy niểng Nguyễn Xuân Phúc đã đáp ứng các tiêu chí nhé. Anh 7 dù nghẹo cổ vẫn bú lồn vợ tề gia, làm chủ tịt nước bình thiên hạ dẹp loạn 3x đang ngon thì bị @Trọng Lú hãm chứ ko giờ hoá rồng, râu ria phấp phới bay ko trung đi mưa về gió rồi.
phúc nể tề gia đéo đâu , ko coi livestream của Hằng Đại Nam à
 
vẫn có đứa ham thích thứ văn chương tri hồ giả dã cơ à

Tử viết: Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã. Có nghĩa là: thầy Tử nói Ta chưa từng thấy xàm mơ nào ham thích đạo đức được bằng hám gái cả!

t góp vui 1 câu
 
Tử viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học; tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc; ngũ thậpnhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận; thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tựlập (tức khắc kỉ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tứccó trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, lễ, nghĩa); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết đượcviệc nào sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi biết theo mệnh trời(chữ nhĩ ở đây không có nghĩa là tai, mà có nghĩa là dĩ = đã)[34]; bảy mươi tuổi theo lòngmuốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lí (không phải suy nghĩ, gắng sứcmà hành động tự nhiên, hợp đạo lí).Chú thích. – Có người hiểu lập [立] là tự mình biết theo chính đạo; chúng tôi theo nhữngcâu “lập ư lễ” (Thiên Thái Bá, bài 8), “bất tri lễ vô dĩ lập” (Thiên Nghiêu viết, bài 3) mà dịchnhư trên. – Thiên mệnh [天命] có người hiểu là luật trời, sự biến hoá, diễn tiến trong vũtrụ. – Nhĩ thuận [耳順], hầu hết các sách đều giảng là: tai thuận, tức nghe ai nói thì hiểuđược ngay người đó nghĩ gì, muốn nói gì, có ý gì.

Mạnh Ý tử vấn hiếu. Tử viết: “vô vi[35].”Phàn Trì ngự, tử cáo chi viết: “Mạnh tôn vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết: “vô vi”. Phàn Trìviết: “Hà vị dã?” Tử viết: “Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”Dịch. – Mạnh Ý tử hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Không trái.”(Một hôm) Phàn Trì đánh xe (cho Khổng tử). Khổng tử bảo: “Mạnh Tôn hỏi ta về đạo hiếu,ta đáp: “không trái”. Phàn Trì hỏi: “Thầy đáp như vậy nghĩa là gì?” Khổng tử đáp: “Cha mẹsống thì phụng sự cho hợp lễ, mất rồi thì tống táng cho hợp lễ, cúng tế cho hợp lễ.”Chú thích. – Mạnh Ý tử, họ Trọng Tôn, tên Hà Kị, là một đại phu nước Lỗ. Theo Tả truyệnthì Mạnh Hi tử, cha Mạnh Ý tử, trước khi chết, dặn Ý tử phải lại Khổng tử xin học lễ. MạnhTôn cũng là Mạnh Ý tử. – Phàn Trì, họ Phàn, tên Tu, tự Tử Trì, học trò Khổng tử.
 
Mạnh Vũ Bá vấn hiếu. Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu.”Dịch. – Mạnh Vũ Bá hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Cha mẹ chỉ lo cho con bị bệnh tật.”Chú thích. – Bài này có nhiều cách hiểu. Hiểu như chúng tôi dịch thì chữ kì chỉ con cái. Cóthể Mạnh Vũ Bá, tên là Trệ, con Mạnh Ý tử, chơi bời quá độ, không giữ gìn sức khoẻ, khiếncha mẹ lo, nên Khổng tử khuyên vậy. Ai làm cha mẹ cũng lo nhất cho con khi chúng đau ốm.Có người giảng hơi khác: người con có hiếu thì thận trọng trong mọi việc, không làm gìcho cha mẹ phải lo; duy có bệnh tật là không đề phòng được, cho nên chỉ lo mình có bệnhtật, khiến cha mẹ buồn.Lại có thuyết cho chữ kì chỉ cha mẹ. Người con mà lo cha mẹ bệnh tật (hết sức săn sóc sứckhoẻ của cha mẹ) là người con có hiếu.

Tử Du vấn hiếu. Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã giai nănghữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ?”Dịch. – Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Ngày nay người ta hiếu là có thể nuôi chamẹ, nhưng đến chó, ngựa kia, người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác gì?”Chú thích. – Tử Du, họ Ngôn, tên Yển, học trò Khổng tử.Có người cho hiểu như trên thì lời Khổng tử gay gắt quá, so sánh việc nuôi cha mẹ (củahạng con có hiếu) với việc nuôi chó ngựa; cho nên bảo hai chữ khuyển mã chỉ bọn con bấthiếu không kính cha mẹ. Tôi nghĩ Khổng tử tính tình ôn hoà, có mắng bọn đó thì chỉ gọi làbất nhân, chứ không tàn nhẫn đến bảo họ là chó ngựa.Lại có thuyết hiểu là: loài vật như chó ngựa cũng biết nuôi cha mẹ chúng. Điều đó khôngđúng: chó, ngựa khi lớn rồi, không nhận ra cha mẹ nữa, hoặc nhận được thì cũng không hềnuôi cha mẹ.Một thuyết nữa: chó giữ nhà, ngựa chở nặng, như vậy là chó, ngựa cũng nuôi người,nhưng chúng không biết cung kính; người nuôi cha mẹ mà không cung kính thì khác gì chóngựa nuôi chủ. Cũng ép nữa.

Tử Hạ vấn hiếu. Tử viết: “Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu tửu thực, tiên sinh soạn,tằng thị dĩ vi hiếu hồ?”Dịch. – Tử Hạ hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Khó ở chỗ giữ được nét mặt vui vẻ. Khi chacó việc, con phải khó nhọc (để giúp cha), hoặc khi có cơm rượu, mời cha ăn uống, như vậy làhiếu chăng?”Chú thích. – Chữ sắc [色] trong bài trỏ nét mặt của con. Tử Hạ cương trực, nên Khổng tửkhuyên như vậy. Nhưng có người cho là nét mặt của cha mẹ: con phải làm sao cho cha mẹlúc nào cũng vui vẻ.
 
Tử viết: Thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”Dịch. – Khổng tử nói: “Xem việc làm của một người, tìm hiểu vì lẽ gì họ làm việc ấy, xétxem họ (làm việc đó) có an tâm (hay vui vẻ) không, như vậy người ta còn giấu mình saođược?

Tử viết: “Quân tử bất khí.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử không phải là một đồ dùng” (nghĩa là chỉ dùng vàođược một việc, mà phải hiểu rộng, biết nhiều, làm được nhiều việc).

Tử Cống vấn quân tử. Tử viết: “Tiên hành kì ngôn, nhi hậu tòng chi.”Dịch. – Tử Cống hỏi thế nào là quân tử. Khổng tử đáp: “Làm trước điều mình muốn nóirồi hãy nói sau.

Tử viết: “Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị nhi bất chu.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử thân với mọi người mà không kết đảng vì tư lợi;tiểu nhân kết đảng vì tư lợi mà không thân với mọi người.
 
Tử viết: “Do, hối nhữ[37] tri chi hồ! Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Anh Do, ta dạy cho anh thế nào là “biết” này. Biết điều gì thì nhậnlà biết, không biết thì nhận không biết, như vậy là biết.”Chú thích. – Do là tên, họ là Trọng. Trọng Do tự là Tử Lộ, người nước Lỗ, học trò Khổngtử, có sức mạnh, giỏi chính trị, kém Khổng tử mười tuổi.
 
Tử viết: “Nhân nhi vô tín, bất tri kì khả dã. Đại xa vô nghê, tiểu xa vô ngột, kì hà dĩ hànhchi tai?”Dịch. – Khổng tử nói: “Người mà không đức tín thì không hiểu sao thành người được(hoặc làm nên việc được). Cũng như xe lớn không có đòn nghê (đòn gỗ ngang để buộc trâu);xe nhỏ không có đòn ngột (đòn gỗ cong để buộc ngựa) làm sao mà đi được?
 
Phương Tây may mắn đéo bị nho nhồi sọ, ko giờ đéo có mấy thứ như định luật tồn tại để mà nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ
Thứ t nể nhất là tư tưởng của đám Hy Lạp La Mã xưa để lại nhiều thành tựu ảnh hưởng tới tận ngày nay, chứ đám Khổng Nho chỉ là đám Đông Á bệnh phu sinh ra để buscu triều đình nhiệt tình và đái vào mặt bọn dân đen ngu loz thời đó, bọn nó éo khác gì bọn bodo dlv hiện giờ
 
Phương Tây may mắn đéo bị nho nhồi sọ, ko giờ đéo có mấy thứ như định luật tồn tại để mà nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ
Thứ t nể nhất là tư tưởng của đám Hy Lạp La Mã xưa để lại nhiều thành tựu ảnh hưởng tới tận ngày nay, chứ đám Khổng Nho chỉ là đám Đông Á bệnh phu sinh ra để buscu triều đình nhiệt tình và đái vào mặt bọn dân đen ngu loz thời đó, bọn nó éo khác gì bọn bodo dlv hiện giờ
mày đọc những lý thuyết của nho giáo mà tau đăng đi mày thấy nó có sai ko
 
mày đọc những lý thuyết của nho giáo mà tau đăng đi mày thấy nó có sai ko
chỉ nói lên 1 khía cạnh thôi, kiểu cách nhìn chủ quan về 1 vấn đề, giống như 1 trái táo khổng giáo nó chỉ nhìn vào mặt trước còn bọn hy lạp la mã bọn nó nhìn vào bản chất của trái táo, rồi từ đó khoa học sau này nghiên cứu về nguyên tử phân tử những thứ cấu tạo nên quả táo. Đó là sự khác biệt giữa con khỉ và con người đó m.
Còn m nhìn vấn đề dựa trên đúng sai thì khó nói vì nhận thức sai đúng dưới cảm xúc con người nó rất mơ hồ, kiểu m ko tìm dc lỗi sai thì m cho rằng là nó đúng hoặc m ko chứng mình dc nó đúng thì nó sai... Nên khi cãi nhau sai cũng có thể thành đúng mà đúng cũng có thể thành sai
 
Về Nho học thì có 4 thánh
Khổng Tử
Mạnh Tử
Chu Hy
Vương Dương Minh.

Khổng - Mạnh tạo nên cái Gốc (Đạo đức và Chính trị).
Chu Hy tạo nên cái Khung (Lý luận và Giáo dục).
Vương Dương Minh tạo nên cái Thần (Ý chí và Hành động).
Đặc biệt nhờ có Vương Dương Minh mà nho giáo mới lật mình trở thành 1 môn triết học.

Điểm thú vị là tâm học của Vương Dương Minh rất giống với chủ nghĩa cá nhân hiện đại.

Sự so sánh giữa Tâm học (Dương Minh học) và Chủ nghĩa cá nhân hiện đại (Modern Individualism) là một chủ đề cực kỳ thú vị.
1. Điểm tương đồng: Sự trỗi dậy của "Cái Tôi"
| Đặc điểm | Tâm học Vương Dương Minh | Chủ nghĩa cá nhân hiện đại |
|---|---|---|
| Thẩm quyền | Tâm là chủ: Không tin mù quáng vào sách vở hay thánh hiền nếu tâm thấy không đúng. | Tự chủ (Autonomy): Cá nhân tự quyết định giá trị và niềm tin, không lệ thuộc vào định kiến xã hội. |
| Sự bình đẳng | Ai cũng có thể là Thánh: "Mãn đường đều là thánh nhân" – không phân biệt đẳng cấp. | Bình đẳng cơ hội: Mọi cá nhân đều có quyền phát triển tiềm năng như nhau. |
| Sự chân thực | Thành ý: Sống thật với lương tri của mình, không làm màu, không giả dối. | Tính xác thực (Authenticity): Sống đúng với bản sắc cá nhân (Be yourself). |
2. Sự khác biệt cốt lõi: Mục đích của sự tự do
Dù cả hai đều đề cao cá nhân, nhưng "đích đến" của hai tư tưởng này lại rất khác nhau.
Về nguồn gốc của giá trị:
* Chủ nghĩa cá nhân: Coi trọng cái tôi cá nhân (Ego). Giá trị đến từ mong muốn, quyền lợi và sự khác biệt của mỗi người.
* Tâm học: Coi trọng cái tâm sáng (Lương tri). Vương Dương Minh cho rằng tâm của ta và tâm của vũ trụ là một. Sự tự do của cá nhân là để hòa hợp với đạo lý khách quan (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí), chứ không phải để làm bất cứ điều gì mình thích.
Về mối quan hệ với xã hội:
* Chủ nghĩa cá nhân: Nhấn mạnh vào Quyền lợi. Tôi có quyền tự do miễn là không xâm phạm đến anh.
* Tâm học: Nhấn mạnh vào Trách nhiệm. Khi bạn tìm thấy "Lương tri", bạn sẽ tự khắc thấy đau xót trước nỗi đau của người khác (vạn vật nhất thể). Tự do cá nhân ở đây là để phụng sự xã hội một cách tự nguyện và hiệu quả nhất.
3. Ví dụ về tính cách Nhật
Đây chính là chìa khóa giải thích xã hội Nhật Bản hiện đại:
* Người Nhật tiếp nhận Chủ nghĩa cá nhân ở khía cạnh: Tự chịu trách nhiệm, không làm phiền người khác (Meiwaku), và nỗ lực hết mình để khẳng định bản thân trong công việc.
* Nhưng họ giữ gốc rễ Tâm học ở khía cạnh: Cá nhân phải nằm trong một chỉnh thể. Một nghệ nhân (Shokunin) làm ra sản phẩm hoàn hảo không chỉ để kiếm tiền (cá nhân), mà vì "Lương tri" của họ không cho phép làm ra đồ kém chất lượng (tâm học).
4. Kết luận
* Chủ nghĩa cá nhân hiện đại giống như việc trao cho bạn một chiếc xe và quyền đi bất cứ đâu bạn muốn.
* Tâm học của Vương Dương Minh cũng trao cho bạn chiếc xe đó, nhưng đi kèm một "la bàn nội tâm" (Lương tri) để bạn biết đâu là con đường đúng đắn nhất để đi.
 

Có thể bạn quan tâm

Top