Cảnh báo lừa đảo‼️ Tau thấy 1 số tư tưởng nho khổng rất hay mà sao lại bị chửi, xh vẹm bây giờ loạn 1 phần vì dân ko biết nho khổng

Tử viết: “Xảo ngôn, lệnh sắc, túc cung, Tả Khâu Minh[79] sỉ chi, Khâu diệc sỉ chi. Nặc oán nhihữu kì nhân,Tả Khâu Minh sỉ chi, Khâu diệc sỉ chi.”Dịch. – Khổng tử nói: “Nói năng khéo léo, nét mặt giả bộ niềm nở, thái độ quá cung kính,ông Tả Khâu Minh lấy vậy làm xấu hổ, Khâu này cũng lấy vậy làm xấu hổ. Giấu lòng oán màbề ngoài làm bộ thân thiện với người, ông Tả Khâu Minh lấy vậy làm xấu hổ, Khâu này cũnglấy vậy làm xấu hổ.

Nhan Uyên, Quí Lộ thị. Tử viết: “Hạp các ngôn nhĩ chí?Tử Lộ viết: “Nguyện xa mã, y khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tế chi nhi vô hám.”Nhan Uyên viết: “Nguyện vô phạt thiện, vô thi lao.”Tử Lộ viết: “Nguyện văn tử chi chí.”Tử viết: “Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiểu giả hoài chi.”Dịch. – Nhan Uyên và Quí Lộ theo hầu. Khổng tử bảo: “Sao không kể chí hướng của cácanh cho ta nghe?”Tử Lộ thưa: “Con mong có xe, ngựa, áo lông cừu nhẹ để các bạn cùng hưởng, dù có hư nát,con cũng không hận.”Nhan Uyên thưa: “Con không muốn khoe điều hay, kể công lao của con.”Tử Lộ thưa: “Xin thầy cho chúng con biết chí thầy.”Khổng tử đáp: “Ta muốn các người già được an vui, các bạn bè tin lẫn nhau, các trẻ emđược săn sóc vỗ về (như vậy là muốn truyền đạo, cải tạo xã hội).Hoặc: “Ta muốn các người già yên lòng nơi ta, các bạn bè tin cậy nơi ta, các người trẻđược an ủi nơi[80] ta (như vậy là muốn mình giữ được đạo hiếu thuận với người già, đạothành tín với bạn, thi ân với người trẻ)

Tử viết: “Dĩ hĩ hồ, ngô vị kiến năng, kiến kì quá nhi nội tự tụng giả dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Hết rồi (hoặc quá rồi), ta chưa thấy người nào thấy lỗi của mình mà tự trách mình cả.
 
Tử viết: “Ung dã khả sử nam diện.”Trọng Cung vấn Tử Tang Bá tử. Tử viết: “Khả dã, giản.”Trọng Cung viết: “Cư kính nhi hành giản, dĩ lâm kì dân, bất diệc khả hồ? Cư giản nhi hànhgiản, vô nãi đại giản hồ”. Tử viết: “Ung chi ngôn nhiên”[81].Dịch. – Khổng tử nói: “Anh Cung có thể làm vua được[82].”Trọng Cung (tức Nhiễm Ung) hỏi Tử Tang Bá tử ra sao. Khổng tử đáp: “Cũng được (hoặccũng khá), giản dị[83]“. Trọng Cung bảo: “Tự mình thì cung kính, mà giản dị trong việc trị dân,chẳng phải là giản dị trong việc trị dân, chẳng là tốt ư? Nếu tự mình thì giản dị (xuề xoà) màgiản dị trong việc trị dân, chẳng phải là giản dị thái quá sao?” Khổng tử bảo: “Anh Ung nóiphải đó

Ai Công vấn: “Đệ tử thục vi hiếu học?” Khổng tử đối viết: “Hữu Nhan Hồi giả hiếu học, bấtthiên nộ, bất nhị quá; bất hạnh đoản mệnh tử hĩ, kim dã tắc vô[84], vị văn hiếu học giả dã.”Dịch. – Vua Lỗ Ai công hỏi: “Học trò của thầy, ai là người hiếu học?” Khổng tử đáp: “CóNhan Hồi là người hiếu học, không giận lây, không phạm một lỗi nào tới hai lần; chẳng mayđã mất sớm rồi, nay không có người nào như vậy nữa, tôi không nghe nói có ai hiếu học cả.”Chú thích. – Chúng ta để ý: hiếu học theo Khổng tử là ham sửa mình, học đạo.
 
  1. "Nam diện" (Hướng về phía Nam): Đây là cách nói cổ chỉ việc làm vua hoặc bậc công hầu đại phu cai trị một phương. Khổng Tử khen Nhiễm Ung có tư cách của một nhà lãnh đạo vì ông hội đủ đức hạnh và sự sáng suốt.
  2. Sự phân biệt giữa "Cư kính" và "Cư giản":
    • Cư kính nhi hành giản: Bản thân người lãnh đạo phải nghiêm cẩn, cung kính với chức trách (Cư kính), nhưng khi ban hành chính sách thì phải đơn giản, ít phiền hà cho dân (Hành giản). Đây là lý tưởng của nhà Nho: nghiêm khắc với mình nhưng khoan dung, giản lược với dân.
    • Cư giản nhi hành giản: Nếu bản thân người lãnh đạo đã xuề xòa, thiếu nghiêm túc (Cư giản) mà chính sách lại còn quá đơn giản thì sẽ dẫn đến sự cẩu thả, vô kỷ luật (Đại giản).
Nhiễm Ung đã rất sắc sảo khi nhận ra rằng cái "Giản" của Tử Tang Bá Tử có nguy cơ rơi vào sự cẩu thả nếu không bắt nguồn từ một nội tâm "Cung kính".
 
Tử Hoa[85] sứ ư Tề, Nhiễm tử[86] vi kì mẫu thỉnh túc.Tử viết: “Dữ chi phủ”. Thỉnh ích. Viết: “Dữ chi dữu”. Nhiễm tử dữ chi túc ngũ bỉnh. Tửviết: “Xích chi thích Tề dã, thừa phì mã, y khinh cừu. Ngô văn chi dã: “Quân tử chu cấp bấtkế phú.”Nguyên Tư vi chi tể. Dữ chi túc cửu bách. Từ. Tử viết: “Vô! Dĩ dữ nhĩ lân lí, hương đảnghồ?Dịch. – Tử Hoa đi sứ nước Tề, Nhiễm Hữu xin cấp lúa cho mẹ Tử Hoa. Khổng tử bảo: “Cấpcho một phũ (6 đấu 4 thăng). Nhiễm Hữu xin thêm, Khổng tử bảo: “Cho một dữu (16 đấu)”.Nhiễm tử cấp cho một bỉnh (16 hộc, mỗi hộc là 10 đấu). Khổng tử bảo: “Anh Xích đi sang Tề,cưỡi ngựa mập, mặc áo cừu nhẹ (ý nói giàu sang). Ta nghe nói: Người quân tử chu cấp chokẻ nghèo chứ không làm giàu thêm cho người giàu.”Nguyên Tư làm quan Tể. Khổng tử phát cho chín[87] trăm (hộc hay đấu, không rõ). NguyênTư từ chối. Khổng tử nói: “Đừng! Sao không đem lúa cấp cho những người nghèo trong làngxóm, láng giềng?”

Tử vị Trọng Cung[88] viết: “Lê ngưu chi tử, tuynh (hoặc tinh) thả giác, tuy dục vật dụng,sơn xuyên kì xá chư?Dịch. – Khổng tử nói về Trọng Cung: “Con của con bò lang[89] lông đỏ mà sừng ngay ngắn;dù người ta không muốn dùng nó làm vật cúng tế (vì chê nó là con của bò lang) nhưng thầnnúi sông đâu có bỏ nó (mà không hưởng).

Tử viết: “Hồi dã, kì tâm tam nguyệt bất vi nhân, kì dư tắc nhật nguyệt chí yên nhi dĩ hĩ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Anh Hồi (Nhan Uyên), lòng ba tháng không lìa đạo nhân, còn cácanh khác, một ngày, một tháng là cùng.”
 
Quí Khang tử vấn: “Trọng Do khả sử tòng chính dã dư?” Tử viết: “Do dã quả, ư tòng chínhhồ hà hữu?” Viết: “Tứ dã, khả sử tòng chính dã dư?” Viết: “Tứ dã đạt, ư tòng chính hồ hàhữu?” Viết: “Cầu dã, khả sử tòng chính dã dư?” Viết: “Cầu dã nghệ, ư tòng chính hồ hà hữu?”Dịch. – Quí Khang tử hỏi: “Thầy Trọng Do (Tử Lộ) có thể tòng sự chính trị (tức làm quanđại phu) được không?” Khổng tử đáp: “Trọng Do là người quyết đoán, tòng sự chính trị có gìmà không được?” Hỏi: “Thầy Tứ (Tử Cống) có thể tòng sự chính trị được không?” Khổng tửđáp: “Tứ thông hiểu sự lí, tòng sự chính trị có gì mà không được?” Hỏi: “Thầy Cầu (NhiễmHữu) có thể tòng sự chính trị được không?” Đáp: “Cầu tài nghệ, tòng sự chính trị có gì màkhông được?”
 
Bá Ngưu[91] hữu tật, Tử vấn chi, tự dũ chấp kì thủ, viết: “Vô[92] chi, mệnh hĩ phù? Tư nhândã nhi hữu tư tật dã![93].”Dịch. – Bá Ngưu đau, Khổng tử lại thăm, đứng ngoài cửa sổ, nắm tay Bá Ngưu, bảo: “Vô lí!Do mệnh trời chăng? Con người như vậy mà bị bệnh đó!”

  • Hành động "tự dũ chấp kì thủ" (nắm tay qua cửa sổ): Tại sao Khổng Tử không vào hẳn trong phòng? Theo lễ tiết thời đó, bệnh của Bá Ngưu (tương truyền là bệnh hủi/phong) được coi là ác tật, người bệnh thường phải cách ly. Việc Khổng Tử đứng ngoài cửa sổ nắm tay học trò cho thấy Ngài vừa giữ đúng Lễ, vừa thể hiện tình thầy trò sâu nặng, không quản ngại bệnh tật lây nhiễm. 🤲
  • Lời than "Vô lí" (Vô chi): Chữ "Vô" ở đây thể hiện sự xót xa tột độ. Khổng Tử vốn tin vào Thiên mệnh, nhưng khi thấy một người có đức hạnh như Bá Ngưu lại mắc phải chứng bệnh nan y, Ngài đã phải thốt lên đầy đau đớn. Điều này cho thấy trong tư tưởng nhà Nho, đôi khi thực tế nghiệt ngã khiến con người ta phải nghi ngờ cả sự công bằng của tạo hóa. ⛈️
  • Quan niệm về Mệnh: "Mệnh hĩ phù" (Mệnh trời chăng?). Khổng Tử dùng câu hỏi tu từ để chấp nhận một sự thật phũ phàng: Có những việc nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, dù ta có tu thân tích đức đến đâu. 🌌

Nhiễm Cầu viết: “Phi bất duyệt tử chi đạo, lực bất túc dã”. Tử viết: “Lực bất túc giả, trungđạo nhi phế, kim nhữ hoạch.”Dịch. – Nhiễm Cầu thưa: “Không phải con không thích đạo của thầy, chỉ tại sức con khôngđủ (không theo kịp). Khổng tử bảo: “Nếu sức không đủ thì nửa đường bỏ dở; còn anh thì tựvạch giới hạn để không tiến nữa.
 
Tử vị Tử Hạ viết: “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho.”Dịch. – Khổng tử bảo Tử Hạ: “Anh nên làm nhà nho quân tử, không nên làm nhà nho tiểunhân.”Chú thích. – Theo sách Thuyết văn thì “nho” đã có trước Khổng tử từ lâu và mới đầu trỏcác thuật sĩ, tới thời Khổng tử trở đi, mới trỏ những người trí thức chuẩn bị ra làm quan; từsau Khổng tử trở đi, mới trỏ những người theo đạo Khổng. Khổng tử khuyên Tử Hạ đừngnên làm một nhà nho (người trí thức) chỉ có tài nghệ mà thôi, mà nên làm một nhà nhoquân tử, có đạo đức: Tử Hạ giỏi về văn học, Khổng tử muốn cho Tử Hạ có cả đạo đức caonữa.

Tử Du vi Võ Thành tể. Tử viết: “Nhữ đắc nhân yên nhĩ hồ?” Viết: “Hữu Đam Đài DiệtMinh[94] giả, hành bất do kính, phi công sự, vị thường chí ư Yển chi thất dã.”Dịch. – Tử Du làm chức tể ấp Võ Thành. (tể cũng như trưởng, cầm đầu một cơ quan haycai trị một nơi). Khổng tử hỏi: “Anh đã tìm được người nào tốt chưa”. Tử Du đáp: “Có ĐamĐài Diệt Minh; người ấy không theo đường tắt, không vì việc công thì không đến nhà Yểncon.”
 
Tử viết: “Mạnh Chi Phản[95] bất phạt. Bôn nhi điến, tương nhập môn, sách kì mã, viết: “Phicảm hậu dã, mã bất tiến dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Ông Mạnh Chí Phản không khoe công. Khi thua chạy, ông ở lại sauquân. Lúc sắp vào thành, ông quát con ngựa, bảo: “Không phải tôi dám ở lại sau, chỉ vì conngựa không chạy mau được.

Tử viết: “Thùy năng xuất bất do hộ? Hà mạc do tư đạo dã?”Dịch. – Khổng tử nói: “Ai ra khỏi nhà mà không qua cửa? Thế thì tại sao không theo chínhđạo?”Chú thích. – Ai ra khỏi nhà cũng do cửa, nghĩa là do đường chính, (chứ không trèo tườngchẳng hạn), vậy mà trong việc cư xử lập thân thì người ta lại không theo chính đạo, mà theolối tắt.

Tử viết: “Chất thắng văn tắc dã; văn thắng chất tắc sử; văn chất bân bân, nhiên hậu quântử.”Dịch. – Khổng tử nói: “Chất phác thắng văn nhã thì là người nhà quê mùa, văn nhã thắngchất phác thì là người chép sử (giữ việc văn thư), văn và chất đều nhau mới là người quântử.”
 
Tử viết: “Nhân chi sinh dã trực, võng chi sinh dã hạnh nhi miễn.”Dịch. – Khổng tử nói: “Lẽ sống là phải ngay thẳng, chẳng ngay thẳng mà sống thì maymắn khỏi chết đấy thôi.”

Tử viết: “Tri chi giả bất như hiếu chi giả; hiếu chi giả bất như lạc chi giả.”Dịch. – Khổng tử nói: “Biết (đạo lí) không bằng thích nó; thích nó không bằng vui làmtheo nó (hoặc coi nó là một thú vui).

Tử viết: “Trung nhân dĩ thượng khả dĩ ngứ thượng dã; trung nhân dĩ hạ bất khả dĩ ngứthượng dã.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người có tư chất từ bậc trung trở lên thì có thể giảng đạo lí cao xacho được, từ bực trung trở xuống, không thể giảng đạo lí cao xa cho được
 
Phàn Trì vấn trí. Tử viết: “Vụ nhân[97] chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ”.Vấn nhân. Viết: “Nhân giả tiên nan nhi hậu hoạch, khả vị nhân hĩ.”Dịch. – Phàn Trì hỏi thế nào là trí (sáng suốt). Khổng tử đáp: “Chuyên tâm làm việc nghĩagiúp người, kính trọng quỉ thần nhưng tránh xa, như vậy có thể gọi là trí”. Lại hỏi thế nào lànhân. Đáp: “Người có đức nhân phải chịu khó nhọc làm lụng để rồi sau mới lượm được kếtquả, như vậy có thể gọi là đức nhân.”

Tử viết: “Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn. Trí giả động, nhân giả tĩnh. Trí giả lạc,nhân giả thọ.”Dịch. – Khổng tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì hoạtđộng, người nhân thì trầm tĩnh, người trí vui sống, người nhân sống lâu.”
 
Tử viết: “Cô bất cô, cô tai! Cô tai.”

Dịch. – Khổng tử nói: “Cái cô[98] mà không có cạnh góc thì sao gọi là cái cô! Sao gọi là cái

cô!


một khái niệm cực kỳ quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Khổng Tử: Chính danh (mọi vật phải đúng với tên gọi và bản chất của nó) 🏷️.


  • Cái "Cô" là gì?: "Cô" (觚) vốn là một loại cốc uống rượu thời xưa có 8 cạnh (góc). Đến thời Khổng Tử, người ta thay đổi hình dáng, làm cho nó tròn đi không còn góc cạnh nữa, hoặc làm to hơn sai quy cách cũ, nhưng vẫn giữ tên gọi là "Cô" 🍷.
  • Sự trăn trở của Khổng Tử: Khi thốt lên "Cô bất cô..." (Cái cô mà không phải cái cô), Ngài không chỉ nói về một vật dụng. Đây là một ẩn dụ về sự suy đồi của xã hội. Nếu một vật không còn đúng hình dáng, công dụng đặc trưng của nó mà vẫn mang cái tên cũ, thì đó là sự hỗn loạn về danh nghĩa 🌀.
  • Ý nghĩa Chính danh: Khổng Tử muốn nhấn mạnh: Nếu "Vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con" (Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử) thì xã hội sẽ đại loạn. Việc cái cốc mất góc cạnh chỉ là một biểu hiện nhỏ của việc con người thời đó đang xa rời các chuẩn mực đạo đức và lễ giáo truyền thống ⚖️.

Tể Ngã vấn viết: “Nhân giả, tuy cáo chi viết: “Tỉnh hữu nhân yên”, kì tòng chi dã?” Tử viết:“Hà vi kì nhiên dã? Quân tử khả thệ dã, bất khả hãm dã, khả thi dã, bất khả võng dã.”Dịch. – Tể Ngã hỏi: “Người có đức nhân[99] nghe bảo: “Có người té xuống giếng” thì cónhảy xuống vớt mà chết theo không?” Khổng tử đáp: “Sao lại làm như vậy? Người quân tửcó thể lại giếng xem (rồi tìm cách cứu) chớ không thể để cho người ta hãm hại mình (hoặc:chứ không tự hãm hại mình); có thể bị gạt một cách hợp lí, chứ không thể bị gạt một cách vôlí.
 
ĐM, làm nhớ đến cái đoạn này, thằng nào có tí não thì tự chatgpt mấy câu nó nói, sẽ thấy tàu nó thâm thúy thế nào. Dăm ba cái câu chúng mày trích dân chỉ là bề nổi thôi.

 
ĐM, làm nhớ đến cái đoạn này, thằng nào có tí não thì tự chatgpt mấy câu nó nói, sẽ thấy tàu nó thâm thúy thế nào. Dăm ba cái câu chúng mày trích dân chỉ là bề nổi thôi.


đéo biết gì thì im và đọc đi em

chứ em nói thì ngta biết em đéo biết gì thiệt
 
Tử Cống viết: “Như hữu bác thí ư dân nhi năng tế chúng, hà như? Khả vị nhân hồ?” Tử
viết: “Hà sự ư nhân! Tất dã thánh hồ! Nghiêu, Thuấn kì do bệnh chư! Phù nhân giả, kỉ dục
lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân. Năng cận thủ thí, khả vị nhân chi phương dã dĩ.”
Dịch. – Tử Cống hỏi: “Nếu có người thi ân cho nhân dân và cứu đại chúng, thì người ấy
thế nào. Có thể gọi là người nhân không?” Khổng tử đáp: “Sao chỉ gọi là người nhân thôi?
Phải gọi là bực thánh chứ! Vua Nghiêu, Thuấn cũng chưa làm được như vậy thay. Người
nhân, mình muốn tự lập thì cũng muốn giúp người thành công. Biết từ bụng ta suy ra bụng
người (mình muốn gì thì giúp người được cái đó) đó là phương pháp thực hành của người
nhân.”

Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết bỉ ư ngã Lão Bành.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Ta truyền thuật (đạo của cổ nhân) mà không sáng tác, tin và thích
(kinh điển của) cổ (nhân); ta trộm ví với ông Lão Bành của ta.”
Chú thích. – Chu Hi bảo Lão Bành là một đại phu thời Thương. Có người bảo Lão Bành là
Lão Đam (Lão tử). Người khác lại bảo Lão Bành là Bành Tổ, sống bảy trăm tuổi, bề tôi vua
Nghiêu. Trịnh Huyền bảo Lão Bành là hai người: Lão Đam và Bành Tổ. Không thuyết nào tin
được cả. Sự thực chưa biết là ai.
 
Tử viết: “Đức chi bất tu, học chi bất giảng, văn nghĩa bất năng tỉ, bất thiện bất năng cải, thị
ngô ưu dã.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Đạo đức không sửa tiến, học vấn chẳng giảng tập, nghe được điều
nghĩa mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi, đó là những mối lo của ta.”

Tử viết: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Để tâm chí vào đạo, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân, vui
vẻ lục nghệ (tức lễ, nhạc, xạ, ngự, thư – viết chữ, số – toán pháp).
 
Tử viết: “Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát. Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc
bất phục dã.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Kẻ nào không phát phẫn để tìm hiểu thì ta không mở (giảng cho);
không ráng tỏ ý kiến (muốn nói mà không được) thì ta không khai phát cho. Ta vén cho một
góc rồi mà không tự suy nghĩ tìm ra ba góc kia, thì ta không dạy cho nữa.”
 
Tử vị Nhan Uyên viết: “Dụng chi tắc hành, xá chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù! Tử
Lộ[102] viết: “Tử hành tam quân, tắc thùy dữ”. Tử viết: “Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô
bất dữ dã. Tất dã lâm sự nhi cụ, hiếu mưu nhi thành giả dã.”
Dịch. – Khổng tử bảo Nhan Uyên: “Có ai dùng thì ta đem đạo ra thi hành, không dùng thì
thu tàng (giữ) đạo lí (có người dịch là ở ẩn với đạo lí), chỉ thầy và anh được như vậy thôi!”
Tử Lộ hỏi: “Nếu thầy thống lĩnh tam quân thì thầy lựa ai giúp đỡ?” Khổng tử đáp: “Tay
không mà bắt cọp, không mà lội qua sông[103], chết không tiếc thân, kẻ ấy ta không cho theo
giúp ta. Nhất định là biết kẻ nào lâm sự mà biết lo sợ, thận trọng, khéo mưu tính rồi mới
quyết định (hoặc thành công).

Tử viết: “Phú nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi; như bất khả cầu, tòng
ngô sở hiếu.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Phú quí mà có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu
người (công việc ti tiện), ta cũng làm, phú quí mà không thể cầu được, thì ta cứ theo sở
thích của ta.”
 
Tử chi sở thận: trai, chiến, tật.
Dịch. – Khổng tử thận trong những khi trai giới, chiến tranh và bệnh tật.

Tử tại Tề văn thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị, viết: “Bất đồ vi nhạc chi chí ư tư dã.”
Dịch. – Khổng tử khi ở Tề, nghe nhạc Thiều, ba tháng liền không biết mùi thịt, bảo:
“Không ngờ nhạc đó tác động tới ta được như vậy”. (có người dịch: không ngờ vua Thuấn
làm được khúc nhạc tận thiện, tận mĩ như vậy).
Chú thích. – Về nhạc Thiều, coi bài III.25.
 
Nhiễm Hữu viết: “Phu tử vị Vệ quân hồ?” Tử cống viết: “Nặc, ngô tương vấn chi”. Nhập
viết: “Bá Di, Thúc Tề, hà nhân dã. Viết: “Cổ chi hiền nhân dã”. Viết: “Oán hồ?” Viết: “Cầu nhân
nhi đắc nhân, hựu hà oán? Xuất viết: “Phu tử bất vị dã.”
Dịch. – Nhiễm Hữu hỏi: “Thầy ta có thiên vị với vua Tề không?” Tử Cống đáp: “Ừ, tôi cũng
có ý hỏi thầy việc đó”. Rồi vô hỏi Khổng tử: “Thưa thầy, Bá Di và Thúc Tề là người như thế
nào?” Đáp: “Là người hiền xưa”. Lại hỏi: “Hai ông ấy có oán hận gì không?” Đáp: “Cầu nhân
được nhân thì còn oán hận gì nữa?” Tử Cống trở ra bảo Nhiễm Hữu: “Thầy không thiên vị
với vua Vệ đâu.”
Chú thích. – Khổng tử lúc đó ở nước Vệ, mà vua Vệ là Vệ Xuất công bất hiếu, cướp ngôi
cha trong khi cha tị loạn ra nước ngoài; rồi khi cha về, đem quân ra cự cha. Nhiễm Hữu và
Tử Cống nghi Khổng tử có ý định bênh vực vua Vệ, cho nên Tử Cống đem việc Bá Di, Thúc
Tề hỏi để dò ý Khổng tử. Bá Di, Thúc Tề (coi bài V.22) là hai anh em ruột, con vua Cô Trúc,
cuối đời Thương, đầu đời Chu. Bá Di là anh cả, Thúc Tề là em út. Vua Cô Trúc yêu Thúc Tề,
lập di mệnh cho Thúc Tề nối ngôi. Triều đình theo di mệnh, lập Thúc Tề, Thúc Tề không
chịu, nhường lại cho Bá Di cho phải lẽ. Bá Di cũng không chịu, bảo cứ tuân theo lệnh cha.
Không ai chịu nhận rồi trốn cả vào núi, triều đình phải lập người con giữa. Vậy hai người đó
lấy nghĩa làm trọng, trái hẳn với vua Vệ. Khổng tử khen họ tức thị là chê vua Vệ rồi; cho nên
Tử Cống bảo Nhiễm Hữu: “Thầy không thiên vị với vua Vệ đâu”. Coi lời nhận xét về ý nghĩa
và nghệ thuật bài này trong Cổ văn Trung Quốc của tôi, tr.20-21 (Tao Đàn – 1966). Bá Di,
Thúc Tề còn được coi là nhân vì lẽ dám can Võ vương (nhà Chu) đừng đánh nhà Ân (diệt
vua Trụ).
 
Tử viết: “Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi, nhạc diệc tại kì trung hĩ. Bất
nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã như phù vân.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Ăn gạo xấu, uống nước lã, co cánh tay mà gối đầu, trong cảnh đó
cũng có cái vui. Làm điều bất nghĩa mà được giàu sang thì ta coi như mây nổi.”
 
Tử sở nhã ngôn, Thi, Thư, chấp lễ, giai nhã ngôn dã.”
Dịch. – Khổng tử cũng có lúc dùng ngôn ngữ tiêu chuẩn (của triều đình nhà Chu); khi đọc
Thi, Thư và làm lễ, đều dùng ngôn ngữ tiêu chuẩn.
Chú thích. – Thời đó, ngôn ngữ dùng ở triều đình nhà Chu là ngôn ngữ tiêu chuẩn, phổ
thông cho mọi nước (cũng như tiếng Bắc Kinh ngày nay dùng cho cả nước Trung Hoa, cho
nên gọi là tiếng phổ thông). Khổng tử ngày thường dùng ngôn ngữ của Lỗ, nhưng khi đọc
Thi, Thư và làm lễ thì dùng ngôn ngữ của Chu.
Có người hiểu khác hẳn: nhã ngôn là giảng luận và dịch là: Khổng tử hay giảng về Kinh
Thi, Kinh Thư và giữ lễ...”

Diệp công vấn Khổng tử ư Tử Lộ, tử lộ bất đối. Tử viết: “Nhữ hề bất viết: kì vi nhân dã,
phát phẫn vong thực, lạc dĩ vong ưu, bất tri lão chi tương chí vân nhĩ.”
Dịch. – Diệp công (đại phu nước Sở, họ Thâm, tên Chư Lương, hồi đó làm quan lệnh ở
huyện Diệp, tự xưng càn là “công”) hỏi Tử Lộ về Khổng tử, Tử Lộ không đáp. Khổng tử bảo:
“Sao anh không bảo: ấy làm người phất phẫn đọc sách (tìm hiểu đạo lí) đến quên ăn, khi tìm
được rồi thì vui sướng đến quên mọi lo buồn, không biết rằng cái già nó tới nơi rồi, như vậy
đó.”

Tử viết: “Ngã phi sinh nhi tri chi giả, hiếu cổ, mẫn dĩ cầu chi giả dã.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Ta chẳng phải trời sanh ra đã biết đạo lí, ta ưa thích văn hoá cổ mà
siêng năng tìm học.”

Tử bất ngữ: quái, lực, loạn, thần.
Dịch. – Khổng tử không nói về (4 cái này): quái dị, dũng lực, phản loạn, quỉ thần.
 
Tử viết: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên: trạch kì thiện giả nhi tòng chi, kì bất thiện
giả nhi cải chi.”
Dịch. – Khổng tử nói: “Ba người cùng đi (ta với hai người nữa) tất có người làm thầy ta:
lựa cái hay của người này mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình.”
Chú thích. – Có người cho chữ tam (ba) ở đây trỏ một số không nhất định: vài ba hoặc
hơn cũng được.

Tử viết: “Thiên sinh đức ư dư, Hoàn Khôi kì như dư hà?”
Dịch. – Khổng tử nói: “Trời cho ta có phẩm đức, Hoàn Khôi làm gì được ta?”
Chú thích. – Việc này, Tư Mã Thiên chép trong Sử kí: “Khổng tử qua nước Tống cùng với
đệ tử tập về lễ ở dưới một gốc cây lớn. Quan tư mã nước Tống là Hoàn Khôi (không hiểu vì
lẽ gì) muốn giết ông, cho đốn cây đó. Khổng tử (thủng thẳng) đi. Đệ tử bảo: “Mình đi mau
lên”, Khổng tử đáp: “Trời cho ta phẩm đức...”. Coi lời bàn trong cuốn Khổng tử.
 

1. Lời bàn của​


Chu Hi viết đại ý:


“Thánh nhân biết rõ mệnh trời, nên không sợ tai họa. Kẻ kia tuy muốn hại, nhưng không thể trái mệnh trời.”

Ý chính (nguyên tinh thần chú giải):


  • Khổng Tử biết mình có “thiên mệnh”
  • Hoàn Khôi chỉ là nhân lực, không thể thắng “thiên”



2. Lời bàn trong​


Tư Mã Thiên không bình trực tiếp dài dòng, nhưng cách ghi chép mang hàm ý:


Khổng Tử vẫn “thản nhiên” trước nguy hiểm

Các học giả sau tổng kết “lời bàn” từ đoạn này là:


  • Khổng Tử an nhiên trước cái chết
  • Thể hiện đức tin vững chắc vào đạo của mình



3. Lời bàn trong các sách “Khổng Tử truyện / bình truyện”​


Trong các sách kiểu Khổng Tử (nhiều tác giả), thường ghi nhận:


“Đây là chỗ Khổng Tử tự tín vào đức của mình do trời phú, nên không sợ quyền thế.”

Một số bản còn ghi rõ hơn:


  • “Đức đã do trời sinh → không phải người mà hại được”
  • “Thánh nhân không tránh nạn, vì tin mệnh”



4. Lời bàn trong hệ chú giải Nho học cổ​


Tổng hợp từ các chú giải truyền thống:


“Thiên sinh đức” → nói về mệnh
“Kì như dư hà” → coi thường kẻ bạo lực

Và kết luận:


“Người quân tử giữ đạo, nên không sợ chết.”



5. Tóm lại (đúng theo “lời bàn”, không suy luận)​


Các nguồn chú giải đều thống nhất 3 ý:


  1. Khổng Tử tin đức của mình do Trời ban
  2. Vì vậy không sợ bị hại
  3. Xem quyền lực như Hoàn Khôi là không đáng kể
 

Có thể bạn quan tâm

Top