📸 Blood Meridian (or Evening Redness in the West) - Thiên Đỉnh Máu (hay Sắc đỏ chiều tà vùng biên viễn) (1985) - Cormac McCarthy

44.webp



"Những ý tưởng của các ngươi thật đáng sợ và trái tim các ngươi thật yếu hèn. Những hành động thương xót và tàn ác của các ngươi thật phi lý, được thực hiện mà không có sự bình thản, như thể chúng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng, các ngươi ngày càng sợ máu. Máu và thời gian."
PAUL VALÉRY

"Không nên nghĩ rằng cuộc sống của bóng tối bị chìm trong khổ đau và lạc mất như thể trong sầu muộn. Không có sầu muộn. Vì sầu muộn là thứ bị nuốt chửng trong cái chết, và cái chết cùng sự chết chóc chính là sự sống của bóng tối."
JACOB BOEHME

"Clark, người dẫn đầu đoàn thám hiểm năm ngoái đến vùng Afar ở phía bắc Ethiopia, cùng đồng nghiệp Tim D. White của UC Berkeley, cũng cho biết rằng việc kiểm tra lại một hộp sọ hóa thạch 300.000 năm tuổi được tìm thấy ở cùng vùng trước đó cho thấy bằng chứng về việc lột da đầu được thực hiện."
The Yuma Daily Sun, ngày 13 tháng 6 năm 1982
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG V (tiếp)

Họ đã đi được khoảng hai dặm thì dừng lại nghỉ, Sproule ngồi với hai chân duỗi ra và hai tay đặt trong lòng, còn thằng nhóc ngồi xổm cách hắn một quãng. Chớp mắt, râu ria xồm xoàm và lem luốc trong bộ quần áo rách rưới.

"Nghe có giống tiếng sấm không?" Sproule nói.

Thằng nhóc ngẩng đầu lên.

"Nghe đi."

Thằng nhóc nhìn lên bầu trời, xanh nhạt, không một vết gợn ngoại trừ mặt trời cháy như một lỗ trắng trên đó.

"Tôi có thể cảm thấy nó phát ra từ lòng đất", Sproule nói.

"Không có gì đâu."

"Nghe đi."

Thằng nhóc đứng dậy và nhìn quanh. Về phía bắc, có một đám bụi nhỏ đang di chuyển. Nó quan sát. Đám bụi không bay lên cũng không thổi đi.

Đó là một chiếc xe la kéo, lọc xọc một cách nặng nề trên đồng bằng, được kéo bởi một con la nhỏ. Người đánh xe có lẽ đang ngủ. Khi ông ta nhìn thấy hai kẻ chạy trốn ở phía trước trên con đường mòn, ông ta dừng con la và bắt đầu kéo nó sang một bên để quay lại, và ông ta đã xoay được nó, nhưng lúc đó thằng nhóc đã nắm lấy dây cương da thô và giữ con vật đứng yên.

Sproule lặc cà lặc cạch chạy tới. Từ phía sau xe, hai đứa trẻ thò đầu ra nhìn. Chúng xám xịt vì bụi, tóc trắng bệch và khuôn mặt hốc hác, trông như những con quỷ lùn nhỏ ngồi thu mình đó. Khi thấy thằng nhóc trước mặt, người đánh xe lùi lại, và người phụ nữ ngồi cạnh ông ta bắt đầu kêu lên những tiếng the thé, rồi chỉ từ chân trời này sang chân trời khác, nhưng nó đã kéo mình lên thùng xe và Sproule lê bước theo sau, và họ nằm đó nhìn lên tấm bạt nóng hôi hổi trong khi hai đứa trẻ co vào góc và nhìn chằm chặp bằng đôi mắt đen như chuột đồng, và chiếc xe lại rẽ về phía nam, bắt đầu lăn bánh với tiếng ầm ầm và lạch cạch.

Có một bình đất đựng nước treo bằng dây da từ thanh chắn trước, thằng nhóc lấy nó xuống và uống, rồi đưa cho Sproule. Sau đó nó lấy lại và uống phần còn lại. Chúng nằm dưới sàn xe giữa những tấm da cũ và những vệt muối đổ vãi, và một lúc sau chúng ngủ thiếp đi.

Trời tối khi chúng vào thị trấn. Sự rung lắc của xe ngừng lại chính là điều đánh thức chúng. Thằng nhóc ngồi dậy và nhìn ra ngoài. Ánh sao trên một con phố bùn. Chiếc xe trống không. Con la thở khò khè và giậm chân trong dây cương. Một lúc sau, người chủ xe bước ra từ bóng tối và dẫn chúng qua một con hẻm vào một cái sân, ông ta lùi con la cho đến khi xe áp sát vào một bức tường, rồi cởi dây cho con la và dẫn nó đi.

Thằng nhóc nằm ngửa ra trên thùng xe nghiêng. Đêm lạnh, nó nằm co gối dưới một tấm da thú có mùi mốc và nước tiểu, ngủ rồi tỉnh suốt đêm, và suốt đêm lũ chó sủa, đến rạng đông tiếng gà gáy vang lên, và nó nghe tiếng ngựa trên đường.

Trong ánh sáng xám đầu tiên, ruồi bắt đầu đậu lên người nó. Chúng chạm vào mặt nó và đánh thức nó, nó phẩy tay đuổi chúng đi. Một lúc sau nó ngồi dậy.

Họ đang ở trong một cái sân có tường bùn trống trải, và có một ngôi nhà làm bằng lau sậy và đất sét. Những con gà bước đi loanh quanh, cục cục và bới đất. Một cậu bé từ trong nhà đi ra, tụt quần và đại tiện giữa sân, rồi đứng dậy và đi vào trong.

Thằng nhóc nhìn Sproule. Hắn đang nằm úp mặt xuống ván xe. Hắn được đắp một phần chăn và ruồi đang bò trên người hắn. Thằng nhóc đưa tay lay hắn. Hắn lạnh và cứng đờ như gỗ. Lũ ruồi bay lên, rồi lại đậu xuống.

Thằng nhóc đang đứng bên xe tiểu tiện thì bọn lính cưỡi ngựa vào sân. Chúng tóm lấy nó, trói tay ra sau lưng, nhìn vào thùng xe và nói chuyện với nhau, rồi dẫn nó ra phố.

Nó bị đưa đến một tòa nhà bằng đất nện và nhốt trong một căn phòng trống. Nó ngồi dưới sàn trong khi một thằng nhóc với mắt hoang dã với khẩu súng hỏa mai cũ canh chừng nó. Một lúc sau, họ đến và dẫn nó ra ngoài.

Họ dẫn nó qua những con phố bùn hẹp, và nó có thể nghe thấy tiếng nhạc như một khúc kèn chào mừng càng lúc càng lớn. Đầu tiên là lũ trẻ con đi cùng nó, rồi đến người già, và cuối cùng là một đám đông dân làng da nâu, tất cả đều mặc đồ trắng bằng vải cotton như những người phục vụ trong một viện dưỡng, những người phụ nữ quàng khăn rebozo sẫm màu, một số để ngực trần, khuôn mặt nhuộm đỏ bằng đất sét đỏ, hút những điếu xì gà nhỏ. Số lượng của họ ngày càng đông, và những người lính gác với súng hỏa mai vác trên vai cau mày và quát tháo đám người chen lấn, và họ tiếp tục đi dọc theo bức tường đất nện cao của một nhà thờ và tiến vào quảng trường.

Một khu chợ đang mở. Một gánh thuốc lang rong, một rạp xiếc sơ khai. Họ đi qua những chiếc lồng bằng gỗ liễu vững chắc nhồi nhét đầy rắn độc, với những con rắn xanh vôi khổng lồ bắt được từ những nơi xa hơn về phía nam, hay những con thằn lằn hạt cườm với cái miệng đen ướt nhẹp đầy nọc độc. Một lão hủi gầy guộc giơ lên những nắm sán dây từ một cái lọ cho mọi người xem và rao bán thuốc của mình để trị chúng, và họ bị chen ép giữa những tên lang băm thô lỗ khác, những người bán hàng rong và những kẻ ăn xin, cho đến khi tất cả cuối cùng dừng lại trước một cái giàn gỗ, trên đó đặt một bình thủy tinh đựng rượu mescal trong suốt. Trong thùng chứa này, với mái tóc bay lơ lửng và đôi mắt ngước lên trên khuôn mặt xanh xao, là một cái đầu người.

Họ kéo nó lên phía trước với những tiếng hét và điệu bộ. "Nhìn, nhìn đi!”, họ kêu lên. Thằng nhóc đứng trước bình thủy tinh và họ giục nó phải nhìn ngắm cái bình, và chúng xoay nó xung quanh để cái đầu vô hồn trong bình phải đối diện với nó. Đó là đại úy White. Mới đây còn ở trong cuộc chiến chống lại bọn vô đạo. Thằng nhóc nhìn vào đôi mắt chết chìm và vô hồn của người chỉ huy cũ của mình.

Thằng nhóc nhìn quanh những người dân làng và bọn lính, tất cả đều đang nhìn mình, rồi nó nhổ nước bọt và lau miệng. “Chẳng có liên quan gì với tôi”, nó nói.

Bọn chúng nhốt nó vào một cái chuồng đá cũ cùng với ba kẻ tàn tạ khác trốn khỏi cuộc viễn chinh. Cả bọn ngồi sững sờ, chớp mắt dựa vào tường, hoặc đi vòng quanh chuồng dọc theo những vệt móng ngựa và móng la khô cằn, rồi nôn ọe và ỉa chảy trong khi bọn trẻ con trên tường thành la hét chế giễu.

Nó kết thân với một thiếu niên gầy gò đến từ Georgia. “Tôi ốm như chó ấy”, cậu ta nói. “Tôi sợ mình sẽ chết, rồi tôi lại sợ là mình không chết.”

“Tôi đã thấy một người cưỡi trên con ngựa của đại úy ở vùng quê phía bắc nơi đây rồi”, thằng nhóc nói với cậu ta.

“Ờ”, thiếu niên quê Georgia đáp. “Bọn nó giết ông ấy, giết Clark, và một thằng khác tôi không biết tên. Bọn tôi vào thị trấn, và ngay ngày hôm sau chúng đã nhốt bọn tôi vào xà lim, và chính thằng cưỡi ngựa khốn nạn đó đang ở dưới đó với bọn lính canh, cười đùa nhậu nhẹt và đánh bài, nó và tên chỉ huy cược nhau để xem ai được con ngựa của đại úy và ai được khẩu súng lục của ông ta. Tôi đoán cậu đã thấy cái đầu của đại úy rồi.”

“Tôi đã thấy nó. Đó là điều tồi tệ nhất tôi từng thấy trong đời.”

“Đáng lẽ ai đó đã phải ngâm đầu lão vào bình từ lâu rồi. Theo đúng quy luật, họ cũng nên ngâm cái đầu của tôi. Vì đã từng dây dưa với một gã ngu như thế.”

Đám tù nhân khốn khổ di chuyển khi ngày càng lên, từ bức tường này sang bức tường khác để tránh nắng. Thiếu niên quê Georgia kể cho nó nghe về những người đồng đội xấu số được bày trên những phiến đá lạnh ngắt, chết cứng trong khu chợ. Vị đại úy không đầu nằm trong một vũng bùn, bị lũ lợn gặm dở. Cậu ta kéo gót giày trên bụi đất và khoét một chỗ nhỏ cho gót chân nghỉ ngơi. “Bọn chúng định gửi chúng ta xuống thành phố Chihuahua”, thiếu niên nói.

“Sao cậu biết?”

“Người ta nói thế. Tôi không biết.”

“Ai nói?”

“Thằng Shipman đằng kia. Nó nói được một ít tiếng bọn chúng.”

Đứa bé nhìn về phía người được nhắc đến. Nó lắc đầu và nhổ một cái khô khốc.

Suốt cả ngày, lũ trẻ con ngồi trên tường thành, thay phiên nhau nhìn chúng, chỉ trỏ và nói nhảm. Chúng đi quanh lan can và cố tình đái xuống những người đang ngủ dưới bóng râm, nhưng bọn tù nhân luôn cảnh giác. Lúc đầu vài đứa ném đá, nhưng thằng nhóc nhặt một hòn đá to bằng trứng gà giữa bụi, và với một cú liệng, nó hạ gọn một thằng nhóc từ trên tường xuống, không một tiếng động ngoài tiếng rơi thịch nhẹ phía bên kia bức tường.

“Giờ thì cậu đã ra tay rồi đấy”, tên thiếu niên Georgia nói.

Thằng nhóc nhìn trân.

“Bọn chúng sẽ xông vào đây với roi vọt và đủ thứ trên đời.”

Thằng nhóc nhổ nước bọt. “Đố chúng nó mà dám xông vào đây để vụt roi.”

Quả nhiên chúng không vào. Một người đàn bà mang đến cho chúng những bát đậu và những miếng bánh tortilla cháy trên một cái đĩa bằng đất sét chưa nung. Trông bà có vẻ tất bật, bà mỉm cười với chúng, và bà đã giấu kẹo dưới khăn choàng, bên dưới đáy bát còn có những miếng thịt mang từ bàn ăn của chính bà.

Ba ngày sau, trên lưng những con la nhỏ bé ốm yếu, cả bọn lên đường đến thủ phủ như lời tiên đoán.

Bọn họ suốt năm ngày qua sa mạc và núi non, qua những ngôi làng đầy bụi bặm nơi dân chúng kéo ra để xem chúng. Những người hộ tống của chúng trong nhiều bộ đồng phục cũ kỹ nhưng vẫn còn vẻ sang trọng, còn các tù nhân thì trong giẻ rách. Bọn họ đã được phát chăn, và vào ban đêm, ngồi xổm bên những đống lửa giữa sa mạc, đám người bị mặt trời làm đen, gầy trơ xương và quấn mình trong những tấm áo choàng serape này, trông bọn họ giống như những người nông nô thấp kém nhất của Chúa. Những người lính không ai nói được tiếng Anh, và họ ra hiệu cho tù nhân bằng tiếng ậm ừ hoặc cử chỉ. Họ được trang bị xuềnh xoàng và rất sợ đám da đỏ tiếp cận. Họ cuốn thuốc lá trong vỏ ngô và ngồi bên đống lửa trong im lặng và lắng nghe màn đêm. Lời nói của họ, khi có nói chuyện, thường là về phù thủy hoặc những điều tồi tệ hơn, và luôn luôn cố gắng phân tích một tiếng nói hay tiếng kêu nào đó trong số những tiếng kêu không phải của loài thú đứng đắn vọng ra từ bóng tối.

“Người ta hay nói rằng con sói đồng cỏ là một phù thủy giả trang. Không ít lần phù thủy cải trang giả làm một con sói đồng cỏ.”

“Và bọn da đỏ cũng vậy. Chúng thường kêu như sói đồng cỏ.”

“Thế tiếng vừa kêu đó là gì?”

“Chẳng có gì. Một con cú. Chỉ vậy thôi.”


“Có lẽ vậy.”

Khi đoàn người cưỡi ngựa qua đèo trên núi và nhìn xuống thành phố, viên trung sĩ của đoàn hộ tống cho ngựa dừng lại và nói với người đàn ông phía sau mình, và người này xuống ngựa, lấy những sợi dây da thô từ túi yên và tiến đến chỗ các tù nhân, ra hiệu cho họ bắt chéo cổ tay và đưa ra, chỉ cho đám tù nhân cách làm bằng chính tay mình. Gã trói từng người theo cách đó, rồi cả đoàn tiếp tục cưỡi ngựa lên đường.

Đám tù nhân tiến vào thành phố trong một trận mưa rác từ người dân, bị lùa như gia súc qua những con đường lát đá cuội, với những tiếng hò hét vang lên từ phía sau dành cho đám lính, những kẻ mỉm cười một cách đàng hoàng và gật đầu giữa những bông hoa và những chén rượu được mời, lùa đám tù binh rách rưới qua quảng trường nơi nước bắn tung lên trong đài phun và những kẻ nhàn rỗi ngả mình trên những ghế ngồi chạm khắc bằng đá phiến trắng, rồi qua dinh thự của thống đốc và qua nhà thờ lớn nơi những con kền kền đậu dọc theo các mái hiên đầy bụi và giữa các hốc tường trên mặt tiền chạm khắc, ngay bên cạnh các tượng Chúa Jesus và các tông đồ, những con chim dang rộng bộ lông sẫm màu của chúng trong những tư thế khoan dung kỳ lạ, trong khi xung quanh chúng, trong gió phất phới những mảnh da đầu khô của những người da đỏ bị tàn sát xâu thành chuỗi, những mái tóc dài xỉn màu đu đưa như các sợi tơ của một số loài sinh vật biển, và những mảnh da khô vỗ vào đá.

Họ đi qua những người ăn xin già bên cửa nhà thờ với bàn tay nhăn nheo xòe ra, những kẻ ăn xin tàn tật mặc rách rưới với ánh mắt buồn bã, và những đứa trẻ ngủ trong bóng râm với ruồi bò trên khuôn mặt vô hồn. Những đồng xu đồng tối màu trong đĩa tiền, đôi mắt teo tóp của người mù. Những tay thư lại ngồi xổm bên bậc thềm với bút lông, bình mực và bát cát, những người hủi rên rỉ qua các con đường và những con chó trụi lông trông như được tạo nên hoàn toàn từ xương, và những người bán bánh tamales hấp và những bà già với khuôn mặt sạm đen và khắc khổ như vùng đất, ngồi xổm trong rãnh nước bên những bếp than, nơi những miếng thịt đen đặc không tên xèo xèo và bắn tung tóe dầu mỡ. Những đứa trẻ mồ côi lang thang như những người lùn cáu kỉnh, và những kẻ khờ khạo, những kẻ say sưa chảy dãi và quờ quạng xung quanh trong những khu chợ nhỏ của thành phố lớn. Các tù nhân cưỡi ngựa qua cảnh tượng tàn sát trong các quầy thịt và mùi sáp ong nơi những xâu ruột đen kịt ruồi treo lủng lẳng, và những mảng thịt lột da đỏ rực giờ đã tối lại theo bóng chiều, và những chiếc sọ trần trụi của bò và cừu với đôi mắt xanh xám ngây dại nhìn hoang dại, và những xác cứng của hươu, heo vòi, vịt, chim cút và vẹt, tất cả các loài hoang dã từ vùng quê xung quanh đều bị treo ngược đầu trên móc.

Họ bị bắt xuống ngựa và bị lùa đi bộ qua đám đông, xuống những bậc đá cũ và qua một bậu cửa mòn như xà phòng, qua một cánh cổng sắt nhỏ hẹp vào một hầm đá mát mẻ, vốn đã là nhà tù từ lâu, để chiếm chỗ của mình giữa những hồn ma của các vị tử đạo và người yêu nước xưa, trong khi cánh cổng kêu lách cách khép lại sau lưng họ.

Khi đôi mắt thôi còn mù lòa vì bóng tối, họ bắt đầu nhận ra những bóng người đang co ro nép dọc theo bức tường. Những ổ rơm khẽ động đậy như lũ chuột làm tổ bị quấy nhiễu. Tiếng ngáy khe khẽ vọng lên. Bên ngoài, tiếng xe ngựa lộc cộc lăn qua, tiếng móng ngựa gõ trầm đục trên mặt đường. Xuyên qua những phiến đá dày của ngục thất, vọng đến tiếng búa nện mơ hồ từ một lò rèn ở một góc khác của nhà lao. Thằng nhóc đảo mắt nhìn quanh. Trên nền đá lấm bẩn vương vãi những mẩu tim nến đã cháy đen, nằm giữa những vũng mỡ nến đông đặc ngả màu xám đục. Từ các bức tường buông xuống từng sợi nước dãi khô quắt. Lác đác vài cái tên bị cào khắc lên đá, chỉ vừa đủ để ánh sáng hiếm hoi tìm thấy. Nó ngồi xổm xuống, dụi mắt. Có người chỉ mặc quần lót bước ngang trước mặt nó đến chiếc thùng đặt giữa phòng, đứng đó rồi tè vào trong. Xong xuôi, gã quay lại, tiến về phía nó. Gã cao lớn, tóc để dài chấm vai. Gã lê chân qua đống rơm rồi đứng nhìn chằm chằm xuống nó.

"Chú mày không nhận ra ta à?" Toadvine hỏi.

Thằng nhóc khạc một bãi nước bọt, nheo mắt ngước nhìn.

"Có nhận ra chứ," nó đáp. "Có lột da ông đem thuộc ở xưởng da thì tôi cũng nhận ra được cái bộ da ấy."​
 
CHƯƠNG VI

Ngoài đường phố – Tên răng bọc vàng – Los heréticos (Những kẻ dị giáo) – Một cựu binh của cuộc chiến vừa qua – Mier – Đại tá Doniphan – Lễ chôn cất của người Lipan – Những kẻ tìm vàng – Những kẻ săn da đầu – Phán quan – Thoát khỏi nhà tù – Et de ceo se mettent en le pays (Và họ tiến vào nơi chốn này)

Khi trời sáng, đám người lần lượt bò dậy khỏi đống rơm, ngồi chồm hổm trên gót chân và nhìn những kẻ mới bị tống vào, chẳng chút tò mò. Họ gần như bán khỏa thân. kẻ thì tặc lưỡi, kẻ khụt khịt mũi, cựa quậy, gãi gộc và bới móc khắp người như một bầy vượn. Một vệt sáng dè sẻn rửa sạch bóng tối nơi ô cửa sổ nhỏ xíu trên cao, và ngoài phố đã vẳng lên tiếng rao đầu ngày của người bán hàng rong.

Bữa sáng của họ là những bát cháo hạt thông nguội lạnh. Ăn xong, họ bị khóa xiềng rồi bị lùa ra đường, xích sắt leng keng, thân thể bốc mùi hôi thối. Suốt cả ngày họ bị một tên cai ngục răng bọc vàng, một tên bệnh hoạn lệch lạc, giám sát. Hắn cầm một chiếc roi quất bằng da sống tết bện, dồn ép họ bò bằng đầu gối dọc theo những rãnh thoát nước, hốt nhặt mọi thứ rác rưởi và chất bẩn. Họ lết dưới bánh những chiếc xe hàng rong, len qua đôi chân của đám ăn mày, kéo lê phía sau những bao tải đầy rác. Đến chiều, họ ngồi trong bóng râm dưới chân một bức tường, ăn bữa cơm ít ỏi của mình và nhìn hai con chó đang dính nhau sau khi giao phối, vừa lách vừa bước chập chững giữa lòng đường.

"Ê, nhóc. Thấy đời phố xá thế nào?" Toadvine hỏi.

"Tới giờ thì tôi thấy nó chả đáng cái mẹ gì."

"Ta cứ chờ mãi xem có ngày nào chốn đô thị hợp với ta không, mà chờ hoài vẫn chưa thấy."

Cả hai kín đáo liếc tên cai ngục khi hắn đi ngang qua, hai tay chắp sau lưng, chiếc mũ lệch che một bên mắt. Thằng nhóc khạc xuống đất.

"Ta thấy nó trước." Toadvine nói.

"Thấy ai trước?"

"Chú mày biết là ai rồi còn gì. Thằng cai răng vàng kia kìa."

Thằng nhóc nhìn theo dáng gã cai đang đủng đỉnh bước đi.

"Điều ta lo nhất là lỡ có chuyện gì xảy ra với nó. Ngày nào ta cũng cầu Chúa phù hộ cho nó."

"Ông tính chui ra khỏi cái mớ rắc rối này bằng cách nào?"

"Rồi cũng ra thôi. Chỗ này đâu phải cárcel."

"Cárcel là gì?"

"Nhà tù của bang. Trong đó có một đống lão già vào từ hồi những năm hai mươi (1820), đến giờ vẫn còn sống dai như đỉa."

Thằng nhóc lại nhìn hai con chó.

Đám tù đứng dậy, lê bước ra dưới ánh nắng. Một chiếc chuông nhỏ đang ngân lên, và một cỗ xe tiến dọc con phố. Đám tù đứng nép dọc lề đường, tháo mũ khỏi đầu. Đi trước là người cầm cờ hiệu, vừa đi vừa rung chuông, rồi đến cỗ xe. Trên thành xe có vẽ một con mắt, bốn con la kéo xe chậm rãi đưa Mình Thánh Chúa đến với một linh hồn đang hấp hối. Một vị linh mục béo tốt lảo đảo bước theo sau, tay nâng một pho tượng thánh. Những tên lính gác len vào giữa đám tù, giật phăng những chiếc mũ khỏi đầu những kẻ mới tới rồi dúi chúng trở lại vào tay họ, ép cả bọn phải bỏ mũ như những kẻ ngoại đạo đứng trước điều thiêng liêng. Khi cỗ xe đi qua, họ lại đội mũ lên và tiếp tục bước. Hai con chó vẫn đứng dính chặt, đuôi quay về hai phía đối nhau. Cách đó không xa, thêm hai con chó khác ngồi xổm, bộ da lỏng lẻo phủ lên những thân hình chỉ còn da bọc xương. Chúng nhìn đôi chó đang dính nhau, rồi nhìn đoàn tù nhân lách cách xiềng xích đi khuất dần lên con phố. Trong màn hơi nóng rung rinh, tất cả những sinh thể ấy, người, chó, la, đều nhấp nhô như những phép màu đã bị thu nhỏ đến mức tàn tạ. Chỉ còn là những hình dạng thô sơ, được dựng lên từ lời kể truyền miệng, sau khi chính những nguyên mẫu của chúng đã phai mờ khỏi ký ức con người.

Một người đàn ông trải chỗ nằm giữa Toadvine và một gã cựu binh gốc Kentucky khác. Gã cựu binh ấy quay lại đây để tìm lại cô người yêu có đôi mắt đen mà gã đã bỏ lại hai năm trước, thời điểm đoàn quân của Doniphan kéo về hướng đông đến Saltillo, khi các sĩ quan phải xua đuổi hàng trăm cô gái trẻ cải trang thành con trai cứ bền bỉ lẽo đẽo theo sau. Giờ đây, ban ngày gã đứng một mình giữa phố trong xiềng xích với vẻ mặt bình thản đến lạ, ánh mắt nhìn vượt lên trên đầu đám dân thị trấn như đang hướng về một nơi xa xăm. Đêm đến, gã kể cho họ nghe về những năm tháng phiêu bạt ở miền Tây. Một chiến binh hòa nhã, một người đàn ông ít lời.

Gã từng chinh chiến ở trấn Mier, nơi cuộc chém giết tàn khốc đến mức những máng thoát nước, rãnh cống và cả vòi xối từ mái nhà đều phun máu xuống thành từng dòng như mưa trút. Gã kể rằng những quả chuông đồng cổ thời Tây Ban Nha giòn đến độ chỉ cần trúng một viên đạn là nổ tung. Gã nhớ lại lần mình ngồi tựa vào tường, chiếc chân bị đạn xé nát duỗi dài trên nền đá lát, lắng nghe tiếng súng thưa dần rồi tắt hẳn, nhường chỗ cho một khoảng im lặng kỳ quái. Trong sự im lặng ấy, một tiếng ì ầm trầm thấp dần nổi lên. Ban đầu gã ngỡ là sấm, nhưng rồi một quả đạn đại bác từ góc phố lăn ra, nảy lóc cóc trên mặt đá như cái bát rơi, nảy ngang qua mặt gã rồi biến mất ở cuối đường.

Gã kể về ngày binh đoàn của gã tràn vào chiếm thành Chihuahua, một tập hợp những kẻ rách rưới, chiến đấu trong những bộ đồ lót xơ xác. Những quả đạn đại bác bằng đồng nguyên khối lao sượt qua bãi cỏ trông như những mặt trời nhỏ đang bỏ chạy, đến mức ngay cả lũ ngựa cũng học được cách né sang bên hoặc dang rộng chân cho đạn lăn qua dưới bụng. Gã kể về các quý bà trong thành phố đánh xe ngựa lên đồi dã ngoại, vừa ăn uống vừa thưởng thức trận đánh như xem trình diễn. Rồi đến đêm, khi mọi người ngồi quanh đống lửa, họ vẫn nghe tiếng rên rỉ của những người hấp hối vọng lên từ cánh đồng, và dưới ánh đèn lồng, chiếc xe chở xác chậm chạp len qua giữa họ, tựa như cỗ xe tang bước ra từ cõi Luyện ngục.

"Bọn chúng gan dạ thì có gan dạ đấy," gã cựu binh nói, "nhưng đánh trận thì chẳng biết đánh. Chúng cứ cố thủ lì lợm. Người ta kể rằng có những thằng bị phát hiện vẫn còn bị xích vào càng khẩu pháo của mình, cả đội ngựa kéo pháo cũng còn nguyên, nhưng nếu có thật thì tao chưa từng thấy tận mắt. Bọn tao nhồi thuốc súng vào lỗ khóa cổng thành bên kia. Thổi tung cánh cổng. Người trong thành trông như lũ chuột bị lột da. Những gã Mexico trắng bệch nhất mà mày từng thấy. Chúng quỳ sụp xuống, bắt đầu hôn chân bọn tao với đủ mọi trò. Lão Bill thì thả hết bọn chúng. Mẹ kiếp, lão có biết chúng đã làm gì đâu. Chỉ dặn đừng có ăn cắp thứ gì. Thế mà dĩ nhiên chúng cuỗm sạch mọi thứ với tới được. Lão cho đánh roi hai đứa, cả hai đều chết vì trận đòn. Ngay hôm sau lại có một tốp khác dắt trộm mấy con la chạy mất. Bill bèn treo cổ cả lũ ngu ấy. Và chúng cũng chết ráo. Nhưng tao thì chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày chính mình lại ngồi tù thế này."

Họ ngồi xếp bằng dưới ánh nến, bốc thức ăn từ những chiếc bát đất bằng tay không.

Thằng nhóc ngẩng đầu lên.

Nó lấy ngón tay khều khều trong bát.

"Cái gì đây?" nó hỏi.

"Thịt bò hảo hạng đấy, con trai. Thịt bò tót từ đấu trường. Tối chủ nhật nào cũng được ăn món này. Cứ nhai đi. Đừng để chúng nó nghĩ chú mày yếu."

Thằng nhóc nhai. Nó vừa nhai vừa kể cho họ nghe cuộc chạm trán với bọn Comanche. Họ cũng vừa nhai vừa lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu.

"Tao mừng vì đã lỡ cái vụ đấy," gã cựu binh nói. "Bọn đó là một lũ chó đẻ tàn ác. Tao biết có một lão sống trên vùng Llano, gần mấy khu dân gốc Đức ở. Chúng bắt được lão, cướp ngựa, lấy sạch mọi thứ rồi bỏ mặc lão tự cuốc bộ. Sáu ngày sau lão mới bò được vào Fredericksburg, trần như nhộng, chỉ bằng hai tay với hai đầu gối. Mày biết chúng đã làm gì không? Chúng lột sạch gan bàn chân của lão."

Toadvine lắc đầu xuýt xoa. Gã hất cằm về phía gã cựu binh.

"Lão già đời này biết rõ tụi nó đấy," gã bảo thằng nhóc. "Đã từng đánh nhau với chúng rồi, phải không, ông ngoại?"

Gã cựu binh khoát tay.

"Chỉ bắn vài thằng đi ăn cắp ngựa thôi. Ở dưới phía Saltillo. Có gì ghê gớm đâu. Dưới đó có một cái hang, vốn là nơi chôn cất của người Lipan. Phải đến cả ngàn người da đỏ nằm trong ấy. Ai nấy vẫn ngồi thành vòng như lúc còn sống. Mặc những tấm áo choàng đẹp nhất, quấn những tấm chăn tốt nhất. Cung tên, dao găm, đồ đạc, hạt cườm... đủ cả. Đám Mexico khuân sạch mọi thứ. Lột hết quần áo trên xác họ. Chẳng chừa lại gì. Có người còn khiêng nguyên cả xác về nhà, đặt ở góc phòng, mặc đẹp như búp bê. Nhưng ra khỏi không khí khô trong hang, xác bắt đầu mục rữa từng mảng, cuối cùng đành phải đem quẳng đi. Về sau lại có mấy tay người Mỹ chui vào, lột nốt da đầu và những gì còn sót lại rồi mang xuống Durango bán. Có bán được hay không thì tao chịu. Tao đoán lúc đó mấy xác da đỏ ấy cũng phải chết cả trăm năm rồi."

Toadvine đang dùng một chiếc bánh tortilla gấp lại để lau mỡ trong bát của mình. Gã nheo mắt nhìn thằng nhóc trong ánh nến. "Chú mày nghĩ bọn mình có thể kiếm được bao nhiêu cho hàm răng của lão răng vàng kia?" gã nói.

Họ thấy những gã Argonaut vá víu từ các bang miền Đông lùa từng đoàn la đi qua phố, trên đường vượt núi xuống vùng duyên hải, những kẻ đi săn vàng, những gã phiêu bạt sa đọa đang trôi dạt về phía Tây như một cơn dịch bệnh luôn dõi theo hướng mặt trời. Bọn họ gật đầu hoặc cất tiếng chào đám tù nhân, tiện tay ném xuống đường vài cọng thuốc lá cùng ít đồng lẻ. Họ thấy những cô gái trẻ mắt đen, mặt điểm phấn son, miệng phì phèo những điếu xì gà nhỏ, tay trong tay dạo bước trên phố và ngang nhiên nhìn chòng chọc vào đám tù mà chẳng chút e e dè. Họ thấy cả chính viên thống đốc với dáng người thẳng tắp, nghiêm nghị, ngồi trong cỗ xe ngựa sang trọng giăng rèm lụa đang lộc cộc lăn bánh ra từ cánh cổng đôi của dinh thự.

Rồi một hôm, họ bắt gặp một bầy người mang gương mặt dữ tợn, cưỡi trên lưng những con ngựa lùn da đỏ chưa từng đóng móng, nửa say nửa tỉnh phi nước đại qua từng góc phố. Râu tóc họ xồm xoàm, hoang dã, khoác trên mình những tấm da thú khâu bằng gân động vật. Họ trang bị đủ loại vũ khí hạng nặng: từ những khẩu súng lục to nặng khủng khiếp, những con dao Bowie dài như thanh đại kiếm, cho tới những khẩu súng trường hai nòng ngắn với cỡ nòng to đến mức nhét vừa cả ngón tay cái. Bộ yên cương của ngựa được làm bằng da người, dây cương bện từ tóc người và điểm xuyết bằng những chiếc răng người. Trên cổ những gã ngồi trên yên, kẻ thì khoác áo thánh phục, kẻ lại đeo chuỗi dây xâu bằng những vành tai người đã khô quắt, đen sẫm. Ngược lại, những con ngựa trông như bị lột trần tới lớp thịt sống, ánh mắt hoang dại và nhe răng nanh như chó hoang.

Đi cùng đoàn còn có một số gã man rợ gần như trần truồng, lảo đảo trên yên vì ngấm men rượu, bẩn thỉu, tàn bạo và đầy nguy hiểm. Toàn bộ bầy người ấy giáng xuống tựa như một cuộc xâm lược từ vùng đất ngoại giáo xa xôi nào đó, nơi chúng cùng đồng loại vẫn hằng ngày ăn thịt người.

Đi đầu cả bọn, cưỡi ngựa với thân hình đồ sộ và gương mặt trần trụi đến trẻ thơ, là tay Phán quan nọ. Đôi má ông ta hồng hào. Ông ta mỉm cười, cúi đầu chào các quý bà, rồi nhấc chiếc mũ bẩn thỉu lên theo phép lịch sự. Khi bỏ mũ xuống, vòm đầu khổng lồ của ông ta hiện ra, trắng đến lóa mắt, tròn trịa hoàn hảo đến mức trông như được vẽ lên chứ không phải da thịt. Ông ta cùng đám ô hợp bốc mùi hôi hám đi xuyên qua những con phố chết lặng vì kinh ngạc, rồi dừng trước dinh thống đốc. Tên thủ lĩnh của họ, một người đàn ông nhỏ con, tóc đen, đập cửa xin vào bằng cách lấy mũi ủng đá thẳng vào cánh cửa gỗ sồi. Cửa lập tức mở. Cả bọn thúc ngựa tiến vào, tất cả đều vào, rồi cánh cửa khép lại sau lưng họ.

"Các ông bạn," Toadvine lên tiếng, "ta dám lấy cả Chúa lẫn quỷ ra mà cam đoan là ta biết vụ này là chuyện gì rồi."

Ngày hôm sau, phán quan đứng ngoài phố cùng mấy người khác, phì phèo một điếu xì gà, thong thả đung đưa người trên gót chân. Ông ta đi một đôi ủng da dê non loại tốt, chăm chú quan sát đám tù nhân đang quỳ dọc theo rãnh nước, dùng tay trần vốc từng nắm rác bẩn. Thằng nhóc cũng đang nhìn Phán quan. Khi ánh mắt Phán quan bắt gặp nó, ông ta rút điếu xì gà khỏi miệng rồi mỉm cười, hoặc dường như là mỉm cười, rồi ông ta lại ngậm điếu xì gà vào giữa hai hàm răng.

Đêm đó, Toadvine gọi cả nhóm lại, và họ ngồi xổm bên bức tường, nói chuyện thì thầm.

"Hắn tên là Glanton", Toadvine nói. "Hắn có một bản hợp đồng với Trias. Họ sẽ trả cho hắn một trăm đô la cho từng mỗi mẩu da đầu được chứng nhận, và một nghìn cho cái đầu của tên Gómez. Ta đã nói với hắn là có ba đứa mình. Các quý ông, chúng ta đang ra khỏi cái ổ khốn nạn này đấy."

"Chúng ta chẳng có đồ gì cả."

"Dĩ nhiên thằng cha này biết điều đó. Hắn nói hắn sẽ tìm bất kỳ ai là tay chắc chắn, và sẽ khấu trừ vào phần chia chác của các tân binh. Vậy nên đừng có để lộ ra là tụi mình không phải dân săn da đầu dạn dày, vì ta đã khai rằng tụi mình là ba đứa giỏi nhất."

Ba ngày sau, họ cưỡi ngựa thành hàng một ra khỏi những con phố, cùng với thống đốc và đoàn tùy tùng của ông ta, thống đốc trên một con ngựa bạch màu xám nhạt, và nhóm sát thủ trên những con ngựa chiến nhỏ của họ, mỉm cười và cúi chào, và những cô gái da ngăm xinh đẹp ném hoa từ cửa sổ, vài người gửi những nụ hôn gió, và những đứa trẻ nhỏ chạy theo bên cạnh, và những ông già vẫy mũ và hò reo chúc mừng, còn Toadvine, thằng nhóc và người cựu binh đi cuối đoàn, đôi chân của người cựu binh thọc vào những chiếc túi bao chân tapaderos treo gần chạm đất, do chân hắn quá dài còn ngựa lại quá thấp. Ra đến rìa thành phố, bên cạnh cống dẫn nước đá cũ, nơi thống đốc ban phép lành cho chúng, nâng cốc chúc sức khỏe và vận may của chúng trong một nghi lễ đơn giản, rồi chúng rẽ lên con đường về miền thượng du.​
 
PHỤ LỤC 2
Về nguồn gốc và bản chất tâm linh của việc lột da đầu (scalping) với người bản địa
+ Nguồn gốc tiền Columbus: Nhiều bằng chứng khảo cổ học và tài liệu cho thấy lột da đầu đã tồn tại ở châu Mỹ trước khi người châu Âu đến, không phải do người da trắng "dạy" cho người bản địa . Các nhà nhân chủng học tìm thấy dấu vết trên hộp sọ có niên đại trước tiếp xúc .

+ Ý nghĩa linh hồn: Nhiều bộ lạc coi da đầu (đặc biệt là "scalp lock" – chỏm tóc trên đỉnh đầu) là nơi trú ngụ của linh hồn hoặc bản sắc tinh thần của một người . Lấy da đầu đồng nghĩa với việc chiếm đoạt hoặc tiêu diệt phần hồn của kẻ thù .

+ Sự bất tử: Một số quan niệm cho rằng nếu bị lột da đầu, linh hồn kẻ thù sẽ không thể siêu thoát hoặc sẽ phải chịu đựng ở thế giới bên kia​

Các nghi lễ và thực hành văn hóa với việc lột da đầu
+ Nghi thức trước chiến đấu: Các chiến binh thường thực hiện nghi lễ thanh tẩy (vapor bath) và cầu nguyện với "medicine bag" trước khi ra trận để tìm kiếm sự bảo trợ của thần linh .

+ Nghi thức sau chiến thắng (Scalp Dance): Sau khi trở về, các chiến binh tổ chức "vũ điệu da đầu" để trưng bày chiến lợi phẩm và tôn vinh lòng dũng cảm . Phụ nữ trong bộ lạc thường tham gia điệu nhảy này, đôi khi mang theo da đầu của kẻ thù .

+ Chăm sóc chiến lợi phẩm: Da đầu không chỉ là vật trang trí mà còn được chăm sóc cẩn thận. Chúng được căng trên vòng gỗ, bôi màu, trang trí bằng vải và treo trên cột hoặc túp lều .

+ Trang phục nghi lễ: Một số tù trưởng may "áo da đầu" (scalp shirt) từ những da đầu họ thu thập được. Chiếc áo này thể hiện địa vị và lòng dũng cảm, thậm chí được chôn cùng khi họ qua đời.​

Động cơ tâm lý và xã hội
+ Chứng minh lòng dũng cảm: Trong nhiều bộ lạc, da đầu là bằng chứng xác thực cho chiến công. Một chiến binh chỉ được công nhận là dũng cảm khi có da đầu của kẻ thù .

+ Nghi thức huấn luyện thanh thiếu niên: Các cậu bé tham gia "trận chiến giả" để học cách lột da đầu bằng dao gỗ, qua đó rèn luyện kỹ năng và tinh thần chiến binh .

+ Giải tỏa tâm lý: Một số phụ nữ Sioux khi cảm thấy "trái tim tồi tệ" (bad heart) thường đi theo các nhóm chiến binh, và khi chiến thắng, họ tự tay lột da đầu kẻ thù để giải tỏa cảm xúc tiêu cực​

=======================================================================
Những quan điểm chính của Thomas Hobbes (1588-1679) về bản chất con người
Hobbes có một quan niệm cơ học và khá lạnh về con người: con người là những sinh vật có ham muốn, sợ hãi, lý trí tính toán và luôn vận động để duy trì sự tồn tại của mình.

1. Con người, trước hết, là một sinh vật có ham muốn. Trong The Elements of Law (1640), De Cive (1642) và đặc biệt là Leviathan (1651), Hobbes xem appetite/desire và aversion là những động lực căn bản của hành vi. Con người không hành động trước hết vì một “thiện tính” trừu tượng, mà vì muốn đạt được điều mình ham muốn, tránh những thứ mình sợ hoặc ghét, và tìm kiếm sự an toàn, tiện nghi cùng những điều có lợi cho mình. Vì ham muốn của con người luôn thay đổi, nên cái gọi là “thiện” và “ác” không phải những phẩm chất tuyệt đối tồn tại độc lập với con người. Trong Leviathan, Hobbes viết đại ý rằng cái một người gọi là "good" chính là đối tượng của dục vọng của người ấy, còn "evil" là đối tượng của ác cảm.
2. Aristotle từng nói đến summum bonum, tức một thiện tối cao mà đời sống con người hướng tới, nhưng Hobbes bác bỏ cách nhìn này. Theo ông, không có một trạng thái cuối cùng gọi là “hạnh phúc hoàn toàn” mà con người đạt được rồi dừng lại. Trong Leviathan, Hobbes mô tả đời người như một tiến trình liên tục từ ham muốn này sang ham muốn khác: khi đạt được một mục tiêu, một mục tiêu khác lại xuất hiện. Vì thế, con người không chỉ “muốn hạnh phúc”; họ muốn tiếp tục muốn, theo nghĩa luôn tìm kiếm những điều kiện mới cho sự tồn tại và thỏa mãn. Đây là một trong những nét rất hiện đại ở Hobbes.

3. “Felicity” là sự tiến triển liên tục của ham muốn. Hobbes định nghĩa hạnh phúc (felicity) không phải là một trạng thái nghỉ ngơi, mà là “continual success in obtaining those things which a man from time to time desireth” — nghĩa là hạnh phúc nằm ở sự thành công liên tục trong việc đạt được những thứ mình lần lượt ham muốn. Vì vậy, một đời sống hoàn toàn tĩnh tại không phải thiên đường theo Hobbes. Con người cần tiếp tục có khả năng hành động, đạt được mục tiêu và bảo đảm tương lai. Từ đó có thể thấy, con người về bản chất là sinh vật hướng về tương lai.

4. Con người còn có một ham muốn đặc biệt: quyền lực. Một trong những luận điểm nổi tiếng nhất của Leviathan là con người có “a perpetual and restless desire of power after power”. “Power” ở đây không chỉ có nghĩa là quyền lực chính trị, mà còn bao gồm tiền bạc, địa vị, danh tiếng, quan hệ, kiến thức, khả năng gây ảnh hưởng và những phương tiện giúp đạt được các mục tiêu tương lai. Lý do con người theo đuổi quyền lực liên tục là vì quyền lực hiện tại là phương tiện để bảo đảm quyền lực và lợi ích trong tương lai. Từ đó có thể thấy, con người không chỉ muốn có thứ mình cần hôm nay; họ muốn có đủ năng lực để tiếp tục đạt được thứ mình cần ngày mai.

5. Con người về cơ bản là bình đẳng về năng lực gây hại cho nhau. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng trong Leviathan, chương XIII. Hobbes không nói mọi người có năng lực giống hệt nhau — người này khỏe hơn, thông minh hơn, giàu hơn người kia. Nhưng sự khác biệt ấy không đủ lớn để một người có thể chắc chắn an toàn trước những người khác. Người yếu hơn vẫn có thể dùng mưu mẹo, liên minh với người khác, phục kích, sử dụng công cụ, hoặc đơn giản là chờ cơ hội. Do đó, “equality” của Hobbes trước hết là sự bình đẳng về tính dễ bị tổn thương: một người mạnh đến đâu cũng phải tính đến khả năng người khác giết mình.
=======================================================================
Một số bức minh họa của Samuel Chamberlain (1829 - 1908), người thừa nhận đã đi cùng với John Joel Glanton (và phán quan Holden) suốt hành trình dọc biên cương Mỹ - Mexico
x.png
Cứu nàng Carmeleita khỏi tên chột (El Tuerto)

cx.png

Người đẹp và dã thú

test.png

Cơn cuồng sát của người dân Arkansas

x.png

Thị trấn San Ildefonso Pueblo - bang Nuevo León, Mexico

proof.png

Trở lại pháo đài Monterrey
cx.png

Bắn chết một tên Mễ

zxgl2w05l8kc1.png

Phán quan Holden giảng về địa chất
 
CHƯƠNG VII

Jackson Trắng và Đen – Một cuộc gặp ở ngoại ô – Súng Colt kiểu Whitneyville – Một phiên tòa – Phán quan giữa những người tranh chấp – Người da đỏ Delaware – Kẻ đến từ Tasmania (Van Diemen's Land) – Một trang trại hacienda – Thị trấn Conralitos – Những lữ khách của một miền đất cổ xưa (Pasajeros de un país antiguo) – Nơi diễn ra một vụ thảm sát – Úm ba la (Hiccius Doccius) – Lễ gọi tên các số phận – Không bánh xe trên một dòng sông tối – Cơn gió tội lỗi – Điều thứ ba (Tertium quid) – Thị trấn Janos – Glanton lấy một cái da đầu – Jackson lên sân khấu.

Trong toán người ấy có hai kẻ cùng mang họ Jackson, một da đen, một da trắng, cả hai đều tên John. Giữa họ có mối thù sâu nặng. Trên đường cưỡi ngựa men theo những dãy núi trọc lốc, gã da trắng thường ghìm ngựa tụt lại, áp sát bên gã da đen rồi cố tình bước vào phần bóng mà thân hình gã kia đổ xuống trên mặt đất đá cằn cỗi, như thể mượn chính cái bóng ấy làm chỗ tránh nắng, vừa đi vừa rỉ tai hắn điều gì đó. Gã da đen liền ghìm hoặc thúc ngựa để tránh xa. Tựa hồ gã da trắng đã xâm phạm chính thân thể mình, vô tình chạm đến một nghi thức ngủ yên đâu đó trong dòng máu đen hoặc trong linh hồn đen của hắn, khiến cái bóng mà hắn che xuống mặt đất dưới ánh mặt trời cũng mang một phần con người hắn, và vì thế có thể bị xúc phạm hay nguy hại. Gã da trắng chỉ cười, rồi khe khẽ ngân nga với hắn những lời nghe chẳng khác gì lời tỏ tình. Mọi người đều theo dõi xem chuyện ấy sẽ kết thúc ra sao, nhưng không ai buồn ngăn cản một trong hai đổi hướng. Mỗi lần Glanton ngoái nhìn dọc hàng ngũ phía sau, dường như gã chỉ đơn giản kiểm đếm họ như những người khác trong toán rồi lại quay đầu tiếp tục đi.

Sáng hôm ấy, cả bọn đã tụ tập trong một sân nhỏ phía sau một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố. Hai người khiêng từ trên xe xuống một hòm quân nhu có in khuôn chữ của kho vũ khí từ Baton Rouge. Một người Do Thái gốc Phổ tên Speyer dùng một chiếc dùi và búa đóng móng ngựa cạy nắp hòm. Ông ta lấy ra một gói dài bọc trong thứ giấy gói thịt màu nâu đã thấm loang dầu mỡ, trông như giấy gói bánh từ lò bánh mì. Glanton mở gói, tờ giấy rơi xuống đất. Trong tay hắn là một khẩu súng lục ổ quay Colt sáu phát, nòng dài, theo bằng sáng chế của Colt. Đó là một khẩu súng đồ sộ, được chế tạo cho lính long kỵ binh. Mỗi buồng đạn dài của nó chứa lượng thuốc súng ngang với một khẩu súng trường, và khi nạp đầy, cả khẩu nặng gần năm pound. Những khẩu súng này có thể bắn viên đạn hình nón nặng nửa ounce xuyên qua sáu inch gỗ cứng. Trong hòm có tất cả bốn mươi tám khẩu. Speyer tiếp tục lấy ra những khuôn đúc đạn nhiều lỗ, bình đựng thuốc súng và các dụng cụ khác. Phán quan Holden đang mở bọc một khẩu súng nữa. Đám người chen sát lại. Glanton lau sạch lòng nòng và các buồng đạn, rồi đưa tay nhận lấy bình thuốc súng từ Speyer.

"Khẩu súng này nom dữ dằn thật đấy," một người lên tiếng.

Glanton nhét thuốc nổ vào từng lỗ đạn, đặt viên đạn chì lên rồi dùng cần gạt dưới nòng ép chặt đạn vào sâu bên trong. Khi cả sáu ổ đạn đã nạp xong xuôi, gã gắn kíp nổ vào từng vị trí rồi đảo mắt nhìn quanh.

Trong khoảng sân ấy, ngoài đám thương gia cùng người mua bán thì vẫn còn vài sinh vật sống. Mục tiêu đầu tiên mà Glanton nhắm đến là một con mèo, ngay khoảnh khắc ấy, nó nhẹ nhàng nhảy lên đỉnh bức tường cao từ phía bên kia, êm xơ như một con chim đáp xuống. Nó xoay mình dạo bước giữa những mảnh thủy tinh vỡ cắm lởm chởm trên lớp tường bùn. Glanton nhấc khẩu súng lục khổng lồ bằng một tay, dùng ngón cái gạt búa đập về sau. Tiếng nổ xé tan khoảng không yên lặng chực chờ. Con mèo đơn giản là biến mất, không một giọt máu, không một tiếng kêu, nó bốc hơi hoàn toàn.

Speyer bối rối liếc nhìn mấy người Mexico, nhưng họ chỉ giốm mắt theo dõi Glanton. Gã lại bẻ cò, xoay nòng súng. Ở góc sân, một đàn gà đang bới đất bỗng giật mình đứng dậy, ngơ ngác nghiêng đầu đủ mọi hướng. Khẩu súng lại rung lên, một con gà nổ tung thành đám mây máu và lông vũ. Lũ gà còn lại hoảng loạn chạy lúp xúp, cổ vươn dài, tuyệt nhiên không phát ra tiếng động. Gã bồi thêm phát nữa: con gà thứ hai xoay tít rồi đổ gục, co giật trên đất. Đàn gà hoảng loạn vỗ cánh bay tán loạn, kêu the thé.

Glanton xoay người theo đà súng, nhắm thẳng vào một con dê nhỏ đang đứng ép chặt mình vào tường vì sợ hãi. Phát bắn gạt phăng sự sống của nó, khiến nó gục chết ngay trên bụi đất. Gã xoay sang bắn tiếp một cái bình đất nung, khiến nó vỡ tan tành, tung tóe nước và mảnh vụn. Cuối cùng, Glanton giơ cao khẩu súng, chĩa về phía ngôi nhà rồi nã phát cuối vào quả chuông treo trên tháp đất sét trên nóc. Một tiếng ngân vang trang nghiêm vút lên, đọng lại mãi trong không trung ngay cả khi tiếng vọng của những phát súng đã hoàn toàn tan biến.

Một làn khói thuốc súng xám phủ xuống sân. Glanton đặt cò súng ở vị trí nửa chừng, xoay trục đạn và hạ cò xuống. Một người đàn bà xuất hiện ở ngưỡng cửa của ngôi nhà, và một trong những người Mexico nói với bà ta và bà ta liền quay vào trong.

Glanton nhìn Holden, rồi nhìn sang Speyer.

Lão Do Thái mỉm cười gượng gạo.

"Chúng chẳng đáng năm mươi đô một khẩu đâu."

Speyer nghe liền nghiêm mặt.

"Thế cái mạng ông đáng bao nhiêu tiền?" Lão Do Thái hỏi. "Ở Texas thì năm trăm đô đấy. Nhưng muốn đổi được món tiền ấy thì phải lấy chính cái đít của ông ra mà chiết khấu tờ giấy báo tử."

"Ngài Riddle cho rằng đó là cái giá hợp lý."

"Nhưng ngài Riddle đâu có phải người bỏ tiền túi ra trả."

"Chính ông ấy đang ứng tiền đấy."

Glanton xoay khẩu súng trong tay, ngắm nghía.

"Tôi cứ tưởng mình đã thỏa thuận xong rồi chứ," Speyer nói.

"Chưa có cái gì gọi là thỏa thuận hết."

"Đây là lô súng được chế tạo theo hợp đồng thời chiến. Sau này ông sẽ chẳng kiếm được loại nào như thế nữa đâu."

"Bao giờ tiền đổi chủ thì mới gọi là thỏa thuận. Trước đó thì chưa."

Đúng lúc ấy, một toán lính chừng mười, mười hai người từ ngoài phố bước vào sân, súng đã cầm sẵn trong tư thế sẵn sàng khai hỏa.

Chuyện gì vừa xảy ra ở đây thế?”

Glanton nhìn bọn lính một cách hững hờ.

Không có gì”, Speyer nói. “Mọi chuyện đều ổn cả.

Ổn?” Viên trung sĩ đưa mắt nhìn những con gà chết, con dê chết.

Người đàn bà lại xuất hiện ở cửa.

Mọi chuyện vẫn ổn”, Holden nói. “Đây là việc từ ngài Thống đốc.”​

Viên trung sĩ nhìn chúng, rồi nhìn người đàn bà đứng dưới ngưỡng cửa.

Chúng tôi là bạn của ngài Riddle”, Speyer nói.

"Đi đi," Glanton cất tiếng. "Đừng quên lôi theo cái lũ mọi nửa mùa của ông luôn."

Viên trung sĩ bước lên một bước, dựng hẳn tư thế của một người có thẩm quyền. Glanton khạc xuống đất.

Tay phán quan đã băng qua khoảng cách giữa họ và bây giờ ông ta kéo viên trung sĩ sang một bên và bắt chuyện với hắn. Viên trung sĩ chỉ cao đến nách của vị phán quan, và ông ta nói chuyện một cách nồng nhiệt và ra hiệu bằng những cử chỉ rất rộng rãi, hồ hởi. Bọn lính ngồi xổm trong bụi với khẩu súng hỏa mai của chúng và nhìn vị phán quan mà không biểu lộ cảm xúc.​

"Đừng có đưa cho thằng khốn đó đồng nào", Glanton nói.

Nhưng vị phán quan đã đưa người đàn ông đó tới để giới thiệu một cách trang trọng.

"Xin giới thiệu với quý vị, đây là Trung sĩ Aguilar," ông cất tiếng, vừa nói vừa ôm choàng lấy người sĩ quan rách rưới như một người bạn cũ.

Viên trung sĩ nghiêm trang đưa tay ra.

Bàn tay ấy lơ lửng giữa khoảng không, thu hút ánh mắt của tất cả những người có mặt, như thể chính nó đang chờ được xác nhận hay chấp nhận.​

Rồi Speyer bước lên, nắm lấy.

"Rất hân hạnh được gặp ngài."

"Tôi cũng vậy," viên trung sĩ đáp.

Vị phán quan hộ tống hắn từ người này sang người khác trong đoàn, viên trung sĩ thì trang trọng còn đám người Mỹ thì lầm bầm những lời tục tĩu hoặc lắc đầu im lặng. Bọn lính Mễ ngồi xổm trên gót chân và quan sát từng chuyển động trong trò hề này với cùng một sự thờ ơ đờ đẫn, và cuối cùng vị phán quan tiến tới trước mặt tên Jackson da đen, gã có khuôn mặt đen sạm đầy khó chịu ấy.

Ông ta nhìn ngắm nó và kéo viên trung sĩ lại gần hơn để quan sát cho rõ, rồi bắt đầu một bài giới thiệu công phu bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông ta phác họa cho viên trung sĩ một sự nghiệp đầy nan đề của người đàn ông trước mặt họ, bàn tay ông ta với sự khéo léo tuyệt vời vẽ ra những hình dạng của những con đường khác nhau đã cùng tụ hội về đây trong thẩm quyền tối thượng của cái đang tồn tại, như ông ta từng nói với họ, giống như những sợi dây được kéo qua lỗ của một chiếc nhẫn. Phán quan đưa ra các luận đề để họ suy xét với những liên tưởng về con cháu của Ham, các bộ lạc thất lạc của người Israel trong kinh thánh, một số đoạn từ các nhà thơ Hy Lạp, những suy đoán nhân chủng học về sự truyền bá của các chủng tộc trong sự phân tán và cô lập của chúng thông qua tác nhân của thảm họa địa chất, và một sự đánh giá về các đặc điểm chủng tộc liên quan đến ảnh hưởng khí hậu và địa lý. Viên trung sĩ lắng nghe những điều này và hơn thế nữa với sự chú ý lớn lao, và khi vị phán quan nói xong, hắn bước tới và đưa tay ra.
Jackson da đen phớt lờ Aguilar. Gã quay sang nhìn Phán quan.

"Ông đã nói cái mẹ gì với hắn vậy, Holden?"

"Mong anh đừng xúc phạm ông ta."

"Ông nói cái đéo gì với hắn?"

Gương mặt viên trung sĩ chợt tối lại. Vị phán quan bèn khoác vai hắn, nghiêng người và nói vào tai hắn, và viên trung sĩ gật đầu và bước lui và chào người da đen.

"Ông đã nói gì với hắn vậy, Holden?"

"Ta chỉ bảo rằng bắt tay không phải là phong tục ở quê anh."

"Trước đó cơ. Trước đó ông đã nói gì?"

Phán quan mỉm cười.

"Điều đó không cần thiết," ông ta nói tiếp, "Vì những kẻ trong cuộc bắt buộc phải nắm rõ toàn bộ sự thật về chính biến cố mà mình đang dự phần. Bởi lẽ suy cho cùng, từng hành động của họ—cho dù có thấu hiểu hay không—rồi cũng sẽ trở thành chất liệu để viết nên lịch sử. Thế nhưng theo lẽ công bằng, chừng nào còn có thể, những sự thật ấy phải được gửi gắm vào lời chứng của một bên thứ ba. Và Trung sĩ Aguilar chính là một kẻ như thế.
Mọi sự xúc phạm hướng vào chức trách của ông ta chỉ là chuyện tiểu tiết, nếu đem so với những chệch hướng khỏi nghi lễ lớn lao hơn mà bánh xe định mệnh tuyệt đối đòi hỏi. Lời nói vốn dĩ là những thực thể tồn tại độc lập. Những lời ông ta đã đón nhận thì chẳng một ai có thể tước đoạt khỏi tay ông ta. Quyền uy của chúng vươn xa, vượt lên trên cả sự ngu dốt của chính ông ta về ý nghĩa ẩn đằng sau những lời ấy."

Jackson da đen mồ hôi vã ra như tắm. Một đường gân sẫm màu nơi thái dương gã giật liên hồi như một sợi dây cháy chậm. Cả bọn đã lắng nghe vị phán quan trong im lặng. Một vài kẻ mỉm cười. Một tên sát nhân đần độn từ Missouri cười khúc khích nhẹ như người bị suyễn. Vị phán quan lại quay sang viên trung sĩ và hai bên tiếp tục nói chuyện với nhau, rồi vị phán quan và hắn bước đến chỗ cái thùng gỗ đang đứng trong sân, và vị phán quan chỉ cho hắn xem một trong những khẩu súng lục và giải thích cách vận hành của nó với sự kiên nhẫn tuyệt vời. Bọn lính của viên trung sĩ đã đứng dậy và đợi sẵn. Tại cổng, vị phán quan đặt từng đồng xu vào lòng bàn tay Aguilar và ông ta bắt tay một cách trang trọng với từng người lính bận áo quần rách rưới và khen ngợi tác phong quân sự của họ, rồi cả nhóm đi ra phố.

Vào buổi trưa hôm đó, nhóm lính đánh thuê cưỡi ngựa ra đi, mỗi người được trang bị một cặp súng lục, và rẽ lên con đường về phía thượng du như đã được báo trước.

Nhóm trinh sát cưỡi ngựa trở về vào buổi chiều. Lần đầu tiên trong ngày, đám đàn ông xuống ngựa, để cho ngựa được hồi sức trên một dải đồng trũng cỏ thưa, trong khi Glanton bàn bạc với những người dẫn đường. Sau đó họ lại lên đường, cưỡi mãi cho đến khi trời tối mới hạ trại. Toadvine, lão cựu binh và thằng nhóc ngồi xổm cách những đống lửa một quãng. Họ không hề biết rằng mình có mặt trong toán người ấy là để thay chỗ cho ba kẻ đã chết ngoài sa mạc. Họ quan sát những người Delaware, chiếm vài người trong đoàn. Đám người ấy cũng ngồi tách biệt, thu mình trên gót chân. Một người dùng hòn đá giã những hạt cà phê trong một túi da nai, còn những người khác nhìn trân trân vào ngọn lửa, đôi mắt đen ngòm như nòng súng. Đêm ấy, thằng nhóc trông thấy một người trong số họ đưa tay lần mò giữa lớp than hồng rực cháy, lựa đúng một cục than vừa ý để châm tẩu thuốc.

Trời còn chưa sáng hẳn họ đã thức dậy. Vừa đủ ánh sáng để nhìn thấy, họ liền dồn bắt ngựa và đóng yên. Những dãy núi lởm chởm hiện lên xanh thẫm tinh nguyên trong ánh bình minh. Khắp nơi chim ríu rít cất tiếng. Khi mặt trời nhô lên, nó bắt gặp mặt trăng còn treo phía tây, khiến hai thiên thể đứng đối diện nhau qua bề mặt trái đất, mặt trời trắng rực như sắt nung, còn mặt trăng chỉ là một bản sao nhợt nhạt của nó, tựa như hai đầu của cùng một nòng súng khổng lồ, vượt ra ngoài hai đầu mút ấy là vô số thế giới đang bừng cháy, nhiều đến mức không thể nào đếm xuể. Đoàn kỵ mã nối hàng một, lặng lẽ tiến qua những bụi đậu gai và gai lửa. Tiếng vũ khí va nhẹ leng keng hòa cùng tiếng vòng sắt trên hàm thiếc của ngựa khẽ lanh canh. Mặt trời mỗi lúc một lên cao, mặt trăng dần chìm xuống. Những con ngựa và lũ la còn đẫm sương bắt đầu bốc hơi, cả trên da thịt lẫn trong những khoảng bóng chúng đổ xuống mặt đất.​
 
CHƯƠNG VII (tiếp)

Trời còn chưa sáng hẳn họ đã thức dậy. Vừa đủ ánh sáng để nhìn thấy, họ liền dồn bắt ngựa và đóng yên. Những dãy núi lởm chởm hiện lên xanh thẫm tinh nguyên trong ánh bình minh. Khắp nơi chim ríu rít cất tiếng. Khi mặt trời nhô lên, nó bắt gặp mặt trăng còn treo phía tây, khiến hai thiên thể đứng đối diện nhau qua bề mặt trái đất, mặt trời trắng rực như sắt nung, còn mặt trăng chỉ là một bản sao nhợt nhạt của nó, tựa như hai đầu của cùng một nòng súng khổng lồ, vượt ra ngoài hai đầu mút ấy là vô số thế giới đang bừng cháy, nhiều đến mức không thể nào đếm xuể. Đoàn kỵ mã nối hàng một, lặng lẽ tiến qua những bụi đậu gai và gai lửa. Tiếng vũ khí va nhẹ leng keng hòa cùng tiếng vòng sắt trên hàm thiếc của ngựa khẽ lanh canh. Mặt trời mỗi lúc một lên cao, mặt trăng dần chìm xuống. Những con ngựa và lũ la còn đẫm sương bắt đầu bốc hơi, cả trên da thịt lẫn trong những khoảng bóng chúng đổ xuống mặt đất.

Toadvine kết bạn với một gã đào tẩu từ Tasmania hay Đất Van Diemen tên là Bathcat, kẻ đã trốn sang miền biên viễn này bằng chính đôi chân của mình. Gã gốc xứ Wales, bàn tay phải chỉ còn ba ngón và trong miệng chẳng còn mấy cái răng. Có lẽ Bathcat nhìn thấy ở Toadvine một kẻ đồng cảnh ngộ, một tên trọng phạm bị cắt tai, mang dấu sắt nung trên da thịt, một kẻ đã chọn lối sống chẳng khác gì chính hắn, nên gã đề nghị cá cược xem hai gã Jackson sẽ giết lẫn nhau ra sao, ai sẽ hạ ai trước.

"Tôi có biết hai thằng cha đó đâu," Toadvine nói.

"Thế anh đoán sao?"

Toadvine lặng lẽ nhổ nước bọt sang một bên rồi nhìn gã.

"Tôi chẳng muốn cá," gã đáp.

"Không phải dân đỏ đen à?"

"Còn tùy đánh trò gì."

"Thằng da đen sẽ làm thịt thằng da trắng kia. Cứ nhận kèo với tỷ lệ cược ngon đi."

Toadvine nhìn gã. Chuỗi tai người đeo quanh cổ gã nom như một xâu sung đen đã phơi khô. Gã thì to lớn, thân hình thô kệch. Một mí mắt sụp xuống vì lưỡi dao ngày nào đã cắt đứt những thớ cơ nhỏ nơi ấy. Đồ đạc mang theo thì đủ hạng, thứ tốt lẫn thứ rẻ tiền lẫn lộn. Gã đi một đôi ủng tử tế. Khẩu súng trường cũng là hàng đẹp, được khảm bạc Đức sáng bóng. Nhưng khẩu súng lại được giữ trong một cái bao bằng một đoạn ống cổ của chiếc ủng cũ đã cắt rời. Áo sơ mi thì rách bươm, còn chiếc mũ bốc mùi ôi vì mồ hôi và mỡ đã ngấm lâu ngày.​

"Anh chắc chắn chưa từng săn mấy thằng thổ dân trước đây", Bathcat nói.

"Ai bảo thế?"

"Tôi biết mà."

Toadvine không trả lời.

"Anh sẽ thấy chúng rất linh hoạt đấy."

"Tôi nghe nói vậy."

Gã tù đày từ Tasmania cười mỉm. "Nhiều thứ đã thay đổi", gã nói. "Khi tôi mới đến vùng đất này, có những kẻ mọi rợ ở quanh sông San Saba hầu như chưa từng thấy người da trắng. Chúng đến trại của chúng tôi và chúng tôi chia thức ăn với chúng, và chúng không thể rời mắt khỏi dao của chúng tôi. Hôm sau chúng dẫn cả đàn ngựa vào trại để đổi. Chúng tôi không biết chúng muốn gì. Chúng có dao riêng của chúng, đại loại như vậy. Nhưng điều chúng muốn, anh thấy đấy, là chúng chưa bao giờ thấy xương được cưa thành khúc trong món hầm bao giờ."

Toadvine liếc nhìn lên trán gã, nhưng chiếc mũ đã được kéo sụp gần kín mắt. Gã mỉm cười rồi dùng ngón cái hất vành mũ lên đôi chút. Vết hằn của dải băng quấn mũ in ngang trán gã nom như một vết sẹo, nhưng ngoài ra chẳng còn dấu tích nào khác. Chỉ ở mặt trong cẳng tay dưới là có xăm một dãy số, thứ mà sau này Toadvine sẽ nhìn thấy trong một nhà tắm ở Chihuahua, rồi lại nhìn thấy lần nữa khi hắn chặt hạ phần thân mình của chính gã, lúc xác gã đang bị xiên qua hai gót chân và treo lủng lẳng trên một cành cây giữa vùng hoang địa Pimería Alta vào mùa thu năm ấy.

Họ cưỡi ngựa xuyên qua những bụi xương rồng cholla và nopal, một khu rừng lùn chỉ toàn những loài cây phủ đầy gai nhọn. Cả đoàn vượt qua một khe đá giữa núi rồi đổ xuống vùng đất nơi ngải thơm và lô hội đang trổ hoa. Họ đi tiếp qua một cánh đồng cỏ sa mạc mênh mông, lác đác vài bụi thùa palmilla. Trên các sườn núi, những bức tường đá xám chạy men theo sống núi, uốn xuống triền dốc rồi gãy đổ, ngổn ngang dưới đồng bằng tựa như tàn tích của một thế giới đã sụp đổ.

Đến giữa trưa họ không dừng chân, cũng chẳng nghỉ xế. Mặt trăng trắng đục như quả bông vẫn ngồi lặng lẽ giữa ban ngày, ngự trị ngay nơi khe họng của dãy núi phía đông. Cả đoàn vẫn tiếp tục cắm cúi cưỡi ngựa. Đến nửa đêm, mặt trăng mới đuổi kịp họ, đứng ngạo nghễ ngay đỉnh trời rồi in xuống đồng bằng bên dưới một bức phù điêu màu lam về đoàn người chuyên gieo rắc kinh hoàng ấy, những kẻ đang lặng lẽ tiến về phương bắc trong tiếng vũ khí va vào nhau leng keng.

Đêm ấy, họ ngủ trong khu chuồng gia súc của một trang trại hacienda. Suốt đêm, người ta liên tục giữ lửa cháy trên những mái nhà bằng. Hai tuần trước, một toán nông dân đã bị người Apache chém chết bằng chính những chiếc cuốc của họ, xác còn bị lợn rừng gặm nhấm một phần, trong khi cướp lùa sạch gia súc rồi biến mất vào núi. Glanton ra lệnh mổ một con dê ngay trong chuồng; mùi máu bốc lên khiến đàn ngựa giật mình run rẩy. Dưới ánh lửa bập bùng, những người đàn ông ngồi xổm nướng thịt, xẻo bằng dao rồi ăn thô hoắm, thản nhiên lau những ngón tay đầy mỡ lên tóc rồi nằm gục xuống ngủ ngay trên nền đất nện cứng.

Vào lúc hoàng hôn của ngày thứ ba, họ cưỡi ngựa tiến vào thị trấn Corralitos. Móng ngựa lê sột soạt trên lớp tro đã đóng cứng, còn mặt trời đỏ rực chiếu xuyên qua màn khói dày. Những ống khói của lò luyện quặng đứng thành hàng dưới bầu trời xám tro. Ánh lửa đỏ rực từ các lò nung âm ỉ hắt lên dưới chân những ngọn đồi tối sẫm. Ban ngày trời đã đổ mưa, khiến ánh đèn từ những ngôi nhà gạch bùn thấp lè tè phản chiếu lung linh trên các vũng nước ngập lầy dọc đường. Từ các vũng lầy ấy, những con lợn to xác, nước nhỏ tong tỏng trên mình, vừa rên ủn ỉn vừa lồm cồm đứng dậy trước đoàn ngựa đang tiến tới, nom tựa những con quỷ đần độn bị xua khỏi đầm lầy trong truyện cổ.

Mọi ngôi nhà đều có lỗ châu mai và tường chắn trên mái. Không khí đặc quánh mùi khói thạch tín. Người dân kéo ra xem những kẻ đến từ Texas, đoàn lính đánh thuê được đặt biệt danh như vậy, họ đứng trang nghiêm dọc đường và đăm đăm quan sát từng cử chỉ nhỏ nhất của đoàn người với vẻ kính sợ pha lẫn kinh ngạc.

Họ đóng trại ngay tại quảng trường. Ngọn lửa trại bốc khói làm đen kịt những cây dương, xua bầy chim đang ngủ bay tán loạn, đồng thời thắp sáng cả thị trấn tồi tàn đến tận những chuồng trại tối tăm nhất. Ánh lửa ấy thậm chí còn lôi kéo cả những kẻ mù lòa đang lần bước xiêu vẹo ra khỏi nơi trú ẩn, hai tay họ vươn về phía trước như cố chạm vào một ban ngày chỉ còn tồn tại trong trí tưởng tượng.

Glanton, tay phán quan cùng anh em nhà Brown cưỡi ngựa đến trang trại của Tướng Zuloaga. Tại đây, họ được đón tiếp chu đáo và dùng bữa tối, rồi đêm trôi qua êm đềm, không xảy ra bất kỳ sự cố nào.

Sáng hôm sau, khi cả nhóm đã thắng yên ngựa và tập hợp ngoài quảng trường để lên đường, một gia đình ảo thuật gia lang bạt tiến đến xin được hộ tống an toàn lên vùng thượng địa, xa nhất là đến thị trấn Janos. Glanton ngồi trên lưng ngựa ở đầu đoàn, cúi nhìn họ. Toàn bộ tài sản của họ chất trong những chiếc giỏ thồ rách nát, buộc chằng lên lưng ba con lừa. Họ gồm một người đàn ông, vợ ông ta, một cậu con trai đã lớn và một cô con gái. Cả bốn đều mặc những bộ đồ của chú hề rong. Trên vải còn thêu những ngôi sao và vầng trăng lưỡi liềm. Nhưng những màu sắc từng sặc sỡ ấy giờ đã bạc phếch, nhợt nhạt vì bụi đường. Trông họ như một gia đình dân du mục bị số phận quẳng xuống miền đất dữ này.

Ông già bước lên trước, nắm lấy dây cương ngựa của Glanton.

"Lão bỏ tay khỏi ngựa, mau." Glanton nói.

Ông già không nói được tiếng Anh nhưng đã làm theo lời. Ông ta bắt đầu trình bày hoàn cảnh của mình. Ông ta ra hiệu, ông ta chỉ về phía những người khác. Glanton nhìn ông ta, ai biết được liệu gã có nghe gì không. Gã quay đầu nhìn cậu bé và hai người phụ nữ, rồi lại nhìn xuống ông già.

"Các người là lũ nào thế?" gã hỏii.

Người đàn ông nghiêng tai về phía Glanton và ngước nhìn, miệng há hốc.

"Ta hỏi các người là cái thá gì? Các người là một gánh xiếc à?"

Ông ta nhìn lại về phía những người khác.

"Gánh xiếc", Glanton nói. "Bọn hề ấy."

Mặt ông già sáng lên. "Vâng", ông ta nói. "Vâng, là hề ạ. Cả nhà chúng tôi." Ông ta quay sang cậu con trai. "Casimero! Mấy con vật đâu!"

Casimero chạy đến một con lừa, luồn tay lục lọi giữa đống hành lý. Chốc sau cậu bế ra một đôi con vật đầu trọc, tai vểnh như dơi, chỉ nhỉnh hơn chuột một chút, lông màu nâu nhạt. Cậu bé tung chúng lên không rồi đỡ lấy trên hai lòng bàn tay. Vừa chạm tay cậu, chúng lập tức xoay tít thành từng vòng vô thức như đang múa.

"Nhìn đây! Nhìn đây!" ông lão hô lớn.

Ông lục lọi trong các túi áo. Chẳng mấy chốc, bốn quả bóng gỗ nhỏ đã bay lượn trên đôi tay ông ngay trước đầu ngựa của Glanton. Con ngựa phì mạnh, ngẩng đầu lên. Glanton cúi người khỏi yên, nhổ nước bọt xuống đất rồi dùng mu bàn tay quệt miệng.

"Đúng là cái trò nhảm nhí chết tiệt." gã nói.

Ông lão vẫn tiếp tục tung hứng, vừa làm vừa ngoái đầu gọi vọng về phía hai người đàn bà. Hai con chó vẫn xoay tít biểu diễn. Hai người phụ nữ cũng bắt đầu chuẩn bị cho một màn diễn khác thì Glanton lên tiếng.

"Đủ rồi. Đừng có bày thêm cái trò điên khùng ấy nữa. Muốn đi cùng bọn này thì nhập vào cuối đoàn. Đây chẳng hứa hẹn gì đâu. Lên đường!"

Đoàn người lại leng keng chuyển bánh. Ông lão tung hứng vội vã chạy theo, xua hai người đàn bà về phía mấy con lừa. Cậu bé đứng sững, mắt mở to, ôm hai con chó trong tay, cho đến khi ông lão gọi thì mới cất bước. Họ cưỡi ngựa xuyên qua đám dân chúng, đi ngang những đống xỉ luyện quặng và đất đá thải chất thành những ngọn đồi hình nón. Dân thị trấn đứng nhìn họ rời đi. Có những người đàn ông nắm tay nhau như những đôi tình nhân. Một đứa trẻ dắt một ông lão mù bằng một sợi dây đến một chỗ có thể nhìn rõ đoàn người đi qua.
Đến giữa trưa, họ vượt qua lòng đá của sông Casas Grandes, rồi men theo một bậc đất cao phía trên dòng nước gầy guộc. Họ đi ngang qua một cánh đồng xương nơi nhiều năm trước, lính Mexico đã tàn sát một trại người Apache ở nơi ấy, không loại trừ đàn bà và trẻ con. Xương và sọ người nằm vương vãi dọc theo bậc đất cao suốt nửa dặm. Những cánh tay, cẳng chân bé xíu và những hộp sọ mỏng manh, không còn chiếc răng nào của trẻ sơ sinh nằm ngay nơi chúng bị sát hại, trông như bộ xương của những con khỉ nhỏ. Giữa lớp sỏi còn sót lại những mảnh giỏ đan đã bạc màu vì mưa nắng và những mảnh nồi gốm vỡ. Họ tiếp tục lên đường. Con sông kéo theo một hành lang cây xanh màu vôi chạy xuống từ những dãy núi cằn cỗi. Phía tây là dãy Carcaj, lởm chởm rách nát. Phía bắc là những đỉnh dãy Animas, mờ xa và phủ trong một màu xanh lam.
Đêm ấy họ hạ trại trên một cao nguyên đầy gió, giữa những hàng thông piñon và bách xù. Lửa trại bị gió quật ép rạp về một phía trong bóng tối, tung ra những chuỗi tàn lửa đỏ rực lao vun vút qua các bụi cây thấp.

Gia đình hề dỡ đồ khỏi lưng lừa rồi bắt đầu dựng một chiếc lều lớn màu xám, trên tấm bạt chi chít những ký hiệu huyền thuật. Chiếc lều phần phật đập trong gió, nghiêng ngả rồi dựng phắt lên như một vật sống, trước khi xẹp lép xuống và quấn chặt lấy cả gia đình. Cô con gái nằm rạp xuống đất, ghì chặt lấy một góc lều nhưng vẫn bị kéo lê trên cát. Ông lão chỉ còn có thể bước những bước líu ríu xiêu vẹo, trong khi đôi mắt người đàn bà đờ đẫn dưới ánh lửa.

Đám người trong đoàn lặng lẽ đứng nhìn bốn con người ấy. Tất cả bọn họ đều bám chặt lấy tấm vải đang giật đùng đùng trong gió, để rồi bị kéo dần ra khỏi vùng sáng của lửa trại và mất hút vào sa mạc gào thét, tựa như những kẻ khẩn cầu đang tuyệt vọng bám lấy vạt áo của một nữ thần hoang dại và giận dữ. Những tay lính gác ngoài vòng cảnh giới vẫn thấy chiếc lều lặc lè trôi đi trong đêm, nom ghê rợn như một sinh vật khổng lồ.

Khi gia đình hề quay trở lại, họ đang cãi vã om sòm với nhau. Ông lão lại bước ra mép vùng sáng của lửa trại, đăm đăm nhìn vào màn đêm đen đặc đang cuộn dâng cơn thịnh nộ rồi cất tiếng nói với bóng tối ấy. Ông lão vung nắm tay như đang tranh cãi với chính nó, nhất quyết không chịu quay lại cho đến khi người đàn bà sai cậu con trai ra gọi đích thân. Giờ đây ông chỉ ngồi lặng lẽ nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, trong khi cả gia đình thà thốt dỡ lại hành lý. Họ nhìn ông với vẻ bất an, và cả Glanton cũng đăm đăm nhìn ông.​

"Ê, lão diễn trò kia."

Ông lão tung hứng ngẩng đầu lên. Ông đưa một ngón tay chỉ vào ngực mình.

"Phải, chính lão đấy," Glanton nói.

Ông lão đứng dậy, lững thững bước tới.

Glanton đang hút một điếu xì gà đen, nhỏ và dài. Gã ngước nhìn ông lão.

"Biết bói toán không?"

Đôi mắt ông lão đảo nhanh.

"Ý ông là sao?" ông hỏi.

Glanton ngậm điếu xì gà vào miệng rồi dùng hai tay làm động tác như đang xào một bộ bài.

"Bộ bài," gã nói. "Để xem mệnh ấy."

Ông lão vung một tay lên đầy hào hứng.

"Vâng!" ông đáp, vừa gật đầu lia lịa. "Dĩ nhiên là biết ạ!"

Ông giơ một ngón tay lên, ra hiệu chờ một lát, rồi quay người đi về đống hành lý tạp nham mới dỡ xuống một nửa khỏi lưng lừa.
 
CHƯƠNG VII (tiếp)
Khi trở lại, ông mỉm cười niềm nở, hai tay thoăn thoắt đảo bộ bài một cách điêu luyện.

"Tới đây! Tới đây!" ông gọi.

Người đàn bà đi theo ông già. Ông ngồi xổm trước mặt Glanton và nói với gã bằng giọng rất khẽ. Rồi ông quay sang nhìn người đàn bà, xào bộ bài trong tay, đứng dậy nắm lấy tay bà, dẫn bà đi khỏi ánh lửa một quãng rồi đặt bà ngồi quay mặt vào màn đêm. Bà ta vuốt váy xuống, ngồi ngay ngắn và ông lão lấy từ trong áo ra một chiếc khăn tay rồi dùng nó bịt mắt bà lại.​

"Được rồi," ông cất tiếng gọi. "Bà thấy gì không?"

"Không."

"Không có gì à?"

"Không có gì," người đàn bà đáp.

"Được rồi," ông lão nói.

Ông quay người lại, cầm bộ bài trong tay rồi bước về phía Glanton. Người đàn bà ngồi bất động như một phiến đá.

Glanton khẽ xua tay.

"Cho mấy thằng dưới trướng tôi trước."

Ông lão quay lại.

Gã Jackson đen đang ngồi xổm bên đống lửa quan sát. Khi ông lão xòe bộ bài thành hình cánh quạt, gã đứng dậy bước tới. Ông lão ngước nhìn gã. Ông khép bộ bài lại rồi lại xòe ra một lần nữa và đưa bàn tay trái lướt nhẹ phía trên những lá bài như đang làm một nghi thức và rồi ông chìa bộ bài ra. Jackson rút một lá và gã cúi xuống nhìn lá bài trong tay.​

"Được rồi," ông lão nói. "Được rồi."

Ông đưa ngón trỏ lên đôi môi gầy, ra hiệu mọi người phải im lặng và ông cầm lá bài lên, giơ cao quá đầu và quay người lại, lá bài bật lên một tiếng tách khô khốc. Ông nhìn khắp những người đang ngồi quanh đống lửa, họ hút thuốc và dõi theo. Ông chầm chậm đưa cánh tay quét một vòng trước mặt, lá bài vẫn giơ ra. Trên lá bài là hình một gã khờ trong bộ áo hề Harlequin cùng một con mèo.​

"Là gã khờ!" ông cất tiếng gọi.

"Là gã khờ," người đàn bà lặp lại.

Bà hơi ngẩng cằm lên rồi bà bắt đầu cất một giọng ngâm nga đều đều như hát.

Gã Jackson da đen vừa rút bài đứng lặng trang nghiêm, như một bị cáo đang chờ nghe lời buộc tội. Ánh mắt gã chậm rãi lướt qua từng người trong đoàn. Phán quan Holden ngồi ở phía đầu gió của đống lửa, để trần nửa người trên. Ông ta hiện lên như một vị thần khổng lồ, trắng nhợt. Khi ánh mắt của Jackson chạm đến mình, Phán quan mỉm cười. Người đàn bà ngừng hát và ngọn lửa bị gió cuốn rạp xuống.​

"Ai? Ai thế?" ông lão cất tiếng gọi.

Người đàn bà ngập ngừng.

"Gã da đen," bà đáp.

"Là gã da đen!" ông lão hô lớn, vừa quay người vừa giơ cao lá bài.

Quần áo ông giật phần phật trong gió.

Người đàn bà lại cất giọng, lần này lớn hơn.

Còn Jackson da đen thì quay đầu nhìn những người đồng đội của mình.

"Bà ta nói gì vậy?"

Ông lão diễn trò đã quay người lại, cúi đầu chào nhè nhẹ trước những người ngồi quanh đống lửa.

"Bà ta nói gì thế? Tobin?"

Gã cựu linh mục lắc đầu.

"Tà thuật đấy, Nhọ Nồi à. Tà thuật. Đừng bận tâm đến mụ ta."

"Thế bà ta nói gì hả phán quan?"

Phán quan mỉm cười.

Suốt lúc nãy, ông ta vẫn dùng ngón tay cái lần bắt những sinh vật li ti đang ẩn trong những nếp da nhẵn thín không một sợi lông của mình. Giờ đây ông giơ một bàn tay lên, ngón cái và ngón trỏ khép lại thành một cử chỉ nom như đang ban phép lành. Rồi bất chợt ông ta búng một vật vô hình vào ngọn lửa trước mặt.​

“Bà ta nói gì?"

"Ta nghĩ bà ấy muốn nói rằng trong số phận của anh chứa đựng số phận của tất cả chúng ta."

"Thế số phận ấy là gì?"

Phán quan mỉm cười hiền hòa. Những nếp nhăn trên trán ông xếp thành từng gợn, khiến khuôn mặt ông thoáng giống đầu một con cá heo.

"Anh có phải tay nghiện rượu không, Nhọ Nồi?"

"Cũng chẳng hơn người khác bao nhiêu."

"Ta nghĩ bà ấy muốn khuyên anh nên dè chừng con quỷ mang tên rượu. Một lời khuyên khôn ngoan đấy, anh thấy sao?"

"Thế thì cóc phải bói toán gì cả."

"Chính xác. Vị cựu linh mục đây đã nói đúng."

Jackson da đen cau mày nhìn Phán quan.

Nhưng Phán quan chỉ hơi nghiêng người về phía gã.

"Đừng nhăn vầng trán đen của anh với ta, bạn hiền. Rồi đến cuối cùng, mọi điều sẽ được tỏ lộ cho anh. Cũng như cho mọi người."

Những người ngồi quanh đống lửa dường như đều ngẫm nghĩ lời Phán quan nói.

Có vài người quay đầu nhìn Jackson. Gã đứng đó, lúng túng như một kẻ bất đắc dĩ bị đặt vào vị trí trung tâm của buổi lễ và cuối cùng gã lùi khỏi vùng sáng của đống lửa.

Ông lão diễn trò đứng dậy và ông lại xòe bộ bài thành hình cánh quạt, khẽ lướt chúng trước mặt, rồi chậm rãi đi men theo vòng ngoài của đám người, đưa những lá bài ra như thể chính chúng sẽ tự tìm lấy người mà mình thuộc về.

"Ai? Ai tiếp đây?"

Ông thì thầm giữa họ nhưng không một ai thực lòng muốn rút.

Khi ông đến trước mặt Phán quan, Phán quan vẫn ngồi đó với một bàn tay xòe rộng trên cái bụng đồ sộ của mình, chỉ khẽ giơ một ngón tay lên. Rồi ông ta chỉ.

"Cậu Blasarius trẻ tuổi đằng kia."

Ông lão diễn trò chớp mắt vẻ bối rối.

"Gì cơ?"

"Thằng nhãi kia."

"Cậu trai kia à..."

Ông lão thì thầm.

Ông chậm rãi đưa mắt nhìn quanh, cố ý làm ra vẻ huyền bí, cho đến khi ánh mắt dừng lại ở người mà Phán quan vừa nhắc đến. Ông bước qua đám lính đánh thuê, mỗi lúc một nhanh hơn. Ông dừng lại trước mặt thằng bé.

Ông ngồi xổm xuống, xòe bộ bài và nhịp nhàng quạt những lá bài qua lại bằng một động tác chậm rãi, đều đặn, giống hệt những cử chỉ ve vãn của một số loài chim trong mùa giao phối.​

"Cậu rút một lá đi, một lá thôi…"

Ông già khò khè nói.

Thằng bé nhìn ông rồi nhìn quanh những người đang ngồi bên đống lửa.

"Phải, phải..."

Ông lão giục, chìa bộ bài ra. Thằng bé rút một lá. Nó chưa từng thấy loại bài ấy bao giờ, thế nhưng lá bài trong tay lại khiến nó có một cảm giác kỳ lạ như thể nó đã quen thuộc với mình từ rất lâu. Nó lật ngược lá bài và ngắm nhìn rồi lại lật nó trở về.​

Ông lão diễn trò cầm lấy bàn tay của thằng bé, xoay lá bài để nó có thể nhìn rõ.

Rồi ông lấy lại lá bài, giơ cao lên.

"Là lá Bốn Ly!" ông lớn tiếng xướng.

Người đàn bà ngẩng đầu. Bà trông như một hình nhân bị bịt mắt, bỗng được kéo thức dậy bằng một sợi dây vô hình.​

"Bốn Ly," bà cất tiếng.

Đôi vai bà khẽ chuyển động. Gió luồn qua quần áo và mái tóc bà.

Bà thấy ai vậy?" ông lão gọi.

"Một chàng trai trẻ" bà đáp. "Nam nhân trẻ nhất ở đây, một thiếu niên."

"Một thiếu niên!" ông lão hô lớn.

Ông xoay lá bài cho tất cả mọi người cùng nhìn thấy.

Người đàn bà vẫn ngồi bất động như thế, tựa một nữ thần truyền sấm mù lòa, ngự giữa hai cột Boaz và Jachin, được khắc trên chính lá bài duy nhất trong bộ bài của ông lão mà không một ai trong bọn họ sẽ được nhìn thấy khi nó lật ngửa: hai cây cột là thật, lá bài là thật, còn nữ tiên tri thì giả dối đối với tất cả. Rồi bà bắt đầu cất giọng ngâm.

Phán quan cười, nhưng không một tiếng động. Ông ta hơi cúi người về phía trước, như để nhìn thằng nhóc rõ hơn.

Thằng bé nhìn Tobin, rồi nhìn sang David Brown, rồi nhìn cả Glanton. Nhưng chẳng ai trong bọn họ cười. Còn ông lão diễn trò bói vẫn quỳ trước mặt nó, dõi theo nó với một vẻ chăm chú kỳ lạ. Ông đưa mắt theo hướng nhìn của thằng bé, sang Phán quan, rồi lại quay về phía nó. Khi thằng bé cúi xuống nhìn, ông nở một nụ cười méo xệch.

"Cút xa tôi ra." Thằng nhóc nói.

Ông lão lại nghiêng một bên tai về phía nó. Một cử chỉ quá đỗi quen thuộc, đủ dùng với bất cứ thứ tiếng nào. Cái tai ấy đen sạm và méo mó, như thể vì bao lần chìa ra theo cách ấy mà đã phải hứng không biết bao cú tát, hoặc cũng có lẽ chính những lời người đời mang đến cho ông đã làm nó héo quắt từ lâu.

Thằng nhóc lại nói với ông lão một lần nữa.

Nhưng một người tên Tate, quê Kentucky, từng chiến đấu trong đội Biệt Kỵ binh của McCulloch, cũng như Tobin và vài người khác trong bọn, liền nghiêng người thì thầm điều gì đó với ông lão thầy bói rách rưới. Ông bèn đứng dậy, cúi đầu khe khẽ, rồi lặng lẽ bước đi. Người đàn bà đã thôi cất tiếng ngâm. Ông lão đứng giữa cơn gió đang giật mạnh áo quần. Đống lửa quất một dải lửa dài, nóng rực, bò sát mặt đất.​

"Ai? Ai tiếp đây?"

Ông cất tiếng gọi.

"Sang thủ lĩnh đi." Phán quan lên tiếng.

Đôi mắt ông lão lập tức đi tìm Glanton. Gã vẫn ngồi nguyên đó.

Ông lão quay sang nhìn người đàn bà già. Bà vẫn ngồi tách khỏi mọi người, quay mặt về phía bóng tối. Thân hình bà khẽ lắc lư. Những mảnh áo rách bị gió giật phần phật, như thể chính bà đang lao đi cùng màn đêm.

Ông lão đưa một ngón tay lên môi.

Rồi dang hai tay ra, như muốn nói rằng mình không biết phải làm sao.

"Cứ xem cho thủ lĩnh đi." Phán quan rít lên.

Ông lão quay người và men theo vòng người ngồi quanh đống lửa, đến trước mặt Glanton, rồi ngồi xổm xuống, và ông nâng bộ bài lên bằng cả hai tay, xòe chúng ra dâng trước mặt gã. Nếu ông có nói gì, thì những lời ấy cũng đã bị gió giật mất, không ai nghe thấy. Glanton mỉm cười. Đôi mắt gã nheo lại trước những hạt cát rát buốt đang quất vào mặt. Gã đưa một bàn tay ra rồi khựng lại. Gã nhìn ông lão một lúc rồi rút một lá bài.

Ông lão khép bộ bài lại. Nhét nó vào trong áo. Rồi đưa tay định lấy lá bài từ tay Glanton. Có lẽ ông đã chạm vào nó, mà cũng có lẽ không. Lá bài biến mất dù một thoáng trước nó còn nằm trong tay Glanton nhưng thoáng sau đã không còn. Đôi mắt ông lão giật mạnh, đuổi theo hướng lá bài vừa lao vào màn đêm. Có lẽ Glanton đã kịp nhìn thấy mặt lá bài. Nếu vậy thì nó có ý nghĩa gì đối với hắn? Ông lão vươn tay về phía cõi hỗn mang trần trụi nằm ngoài quầng sáng của đống lửa. Nhưng vừa với tới, ông mất thăng bằng, chúi người về phía trước, đổ sầm lên Glanton. Trong một khoảnh khắc kỳ lạ, hai người quấn lấy nhau. Đôi tay già nua của ông lão vòng ôm lấy người thủ lĩnh, như thể ông đang cố kéo gã vào bộ ngực gầy guộc của mình để dỗ dành.

Glanton chửi thề rồi hất văng ông lão ra. Ngay đúng lúc ấy người đàn bà già bắt đầu cất tiếng ngâm.

Glanton đứng phắt dậy.

Người đàn bà ngửa cằm lên, lảm nhảm vào màn đêm như kẻ lên đồng.

"Dẹp mụ ấy đi." Glanton quát.

"Cỗ xe, cỗ xe lớn!" Bà già gào lên. "Lật ngược rồi! Đó chiếc xe tang! Lá bài của chiến tranh... của báo thù. Ta đã thấy nó... không còn bánh xe... trên một dòng sông tối đen..."

Glanton gọi bà ta và bà ta dừng lại như thể đã nghe thấy gã, nhưng không phải vậy. Bà ta dường như bắt được một mạch suy mới trong những lời tiên đoán của mình.

Cô gái đứng lặng bên rìa màn đêm đang gào rít, âm thầm làm dấu thánh.

Ông lão diễn trò vẫn còn quỳ đúng nơi mình vừa bị hất ngã.

"Mất rồi... mất rồi..." Ông thì thầm.

"Đó là một lời nguyền..." Mụ già thét lên. "Ôi cơn gió sao mà hung ác..."

"Nhân danh Chúa, mụ sẽ câm miệng ngay!" Glanton gầm lên, đồng thời rút khẩu súng lục.

"Cỗ xe chở đầy xác chết, chất đầy xương cốt. Còn chàng trai trẻ thì..."

Phán quan, đồ sộ tựa một thần linh cổ xưa, bước thẳng xuyên qua đống lửa. Những ngọn lửa nhả ông ta ra, như thể lửa vốn dĩ là nguyên tố tự nhiên của chính ông ta vậy. Ông ta giang tay ôm lấy Glanton. Có kẻ giật phăng tấm khăn bịt mắt khỏi mặt bà già. Cả bà lẫn ông lão đều bị xô đẩy, đánh đập rồi đuổi ra xa.

Đến khi cả đoàn lần lượt ngả lưng đi ngủ và đống lửa nhỏ kia vẫn gầm rú trong cơn cuồng phong như một sinh vật sống, thì bốn người nhà gánh diễn vẫn co cụm ngồi đó nơi rìa quầng sáng, giữa đống đồ nghề kỳ quái của mình. Họ lặng lẽ nhìn những ngọn lửa rách rưới bị gió cuốn đi như thể bị hút bởi một xoáy nước nào đó ngoài khoảng không hoang vu, một xoáy nước mà đối với nó, mọi sự di chuyển hay tính toán của con người đều trở nên vô nghĩa.​
 
Top