Xã hội từ sơ khai dùng Đức trị.
Khi xã hội phân hoá, đạo đức bắt đầu suy đồi thì chuyển qua Lễ trị.
Lễ tàn thì phải dùng Pháp trị.
Dân tộc này, đất nước này tao nghĩ hết cứu rồi mày ơi. Lòng dân như cặc, mà luật pháp lại như lol. Cak lol này gộp lại đẻ ra cái tình trạng đất nước Vietnam quái thai như hiện tại.
1. Dạy tư duy phản biện: "Học phải đi đôi với Nghĩ"
Bọn vua chúa thích dân ngu: "Tao bảo sao mày nghe vậy, cấm cãi".
Khổng Tử dạy ngược lại: Mày học mà không dùng cái đầu để tư duy thì chỉ là thằng ngốc.
Trích dẫn (Thiên Vi Chính, II.15):
"Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi."
(Học mà không suy nghĩ thì mờ tối [bị lừa gạt, không sáng suốt], suy nghĩ mà không học thì nguy hại).
Phân tích: Ông cảnh báo nếu chỉ cắm đầu học (nghe lời thánh hiền/vua quan) mà không chịu "Tư" (tư duy, phản biện) thì sẽ bị "Võng" (mê muội, ai dắt đâu đi đó). Đây là dạy dân biết dùng não, chứ không phải dạy làm cái máy ghi âm.
2. Dạy quyền "Sa thải Vua": Không phục thì biến
Nô lệ (súc vật) thì chủ đánh cũng phải chịu, không được bỏ đi.
Khổng Tử dạy: Mày là người làm công, vua là chủ. Chủ mất dạy thì mày có quyền nghỉ việc.
Trích dẫn (Thiên Thái Bá, VIII.13):
"Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn."
(Thiên hạ có đạo [chính trị tốt] thì ra làm quan, vô đạo [chính trị tồi] thì ở ẩn).
Trích dẫn (Thiên Vệ Linh Công, XV.6):
Khổng Tử khen Sử Ngư, nhưng khen Cư Bá Ngọc cao hơn vì biết co biết duỗi:
"Bang hữu đạo tắc sĩ, bang vô đạo tắc khả quyển nhi hoài chi."
(Nước có đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì biết thu mình lại [cuốn tài năng cất vào lòng] mà tránh xa).
Phân tích: Đây là cái "khôn" nhất của kẻ sĩ. Không có chuyện "Ngu trung" (Vua bảo chết là phải chết). Vua mà ngu, chính quyền mà thối nát, thì ông dạy học trò "Cuốn gói té khẩn cấp" (Ẩn/Quyển nhi hoài chi) để bảo toàn khí tiết. Ông coi quan hệ Vua - Tôi là quan hệ hợp tác (cùng đạo thì làm), không phải quan hệ sở hữu.
3. Dạy nhìn thấu tâm can người khác: Không để bị lừa
Khổng Tử dạy cách "soi" người rất kỹ để không bị bề ngoài hào nhoáng hay lời nói dẻo mồm đánh lừa.
Trích dẫn (Thiên Vi Chính, II.10):
"Thí kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an. Nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?"
(Xem việc người ta làm [mục đích], xét cách người ta làm [phương tiện], xem người ta có vui lòng mà làm không [tâm thái]. Như vậy thì người ta giấu mình sao được? Giấu sao được?).
Phân tích: Ông dạy học trò nhìn người qua 3 lớp: Mục đích \rightarrow Cách thức \rightarrow Động cơ tâm lý. Một người dân nắm được kỹ thuật này thì quan lại tham nhũng hay ngụy quân tử không thể múa mép qua mặt được. Dạy dân "soi" lại quan, thế là làm dân khôn ra chứ gì nữa?
4. Dạy bản lĩnh độc lập: Không dựa dẫm thần thánh hay người khác
Bọn cai trị thích dân yếu đuối, mê tín để dễ sai bảo. Khổng Tử dạy tự lực cánh sinh.
Trích dẫn (Thiên Vệ Linh Công, XV.20):
"Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân."
(Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người).
Trích dẫn (Thiên Ung Dã, VI.20):
"Kính quỷ thần nhi viễn chi."
(Kính quỷ thần nhưng nên tránh xa ra [không dựa dẫm, mê tín]).
Phân tích: Ông dạy con người phải chịu trách nhiệm cho số phận mình ("Cầu chư kỷ"), đừng đi van xin thằng khác, cũng đừng đi cúng bái xin xỏ thần linh. Một con người không sợ ma quỷ, không quỵ lụy xin xỏ, tự đứng trên đôi chân mình thì rất khó bị cai trị.
Kết luận
Mày thấy đó, trong Luận Ngữ, Khổng Tử dạy:
Phải biết nghi ngờ và suy ngẫm (Tư).
Thấy chủ tồi thì phải biết đường mà chuồn (Ẩn).
Phải biết soi xét tâm gan kẻ khác (Quan/Sát).
Phải tự lực, không cầu cạnh (Cầu chư kỷ).
Đó là dạy làm "NGƯỜI TỰ DO".
Chính vì những tư tưởng này làm dân "khôn" quá, khó bảo quá, nên bọn vua chúa đời sau mới ghét. Chúng nó lờ đi mấy câu này, chỉ tô đậm mấy câu "Trung quân", "Hiếu đễ" để biến dân thành cừu