Truyện về Tăng Minh Phụng

  • Tạo bởi Tạo bởi cosmow
  • Start date Start date
Đơn giản chưa hiệu công sản là gì nên bị nó thịt.
Hiếm có đại gia nào chết mà đc dân thương như Tăng Minh Phụng, hồi t xem cái video kể về ông tô đọc comment ở dưới toàn thấy nhân viên cũ của ông vào comment biết ơn ông. Sau nghe mấy đài bên hải ngoại mới biết ông bị vợ chồng Dũng lò vôi hại và 1 phần cũng là quá ngây thơ, k hiểu cs là gì như m nói.
 
Hiếm có đại gia nào chết mà đc dân thương như Tăng Minh Phụng, hồi t xem cái video kể về ông tô đọc comment ở dưới toàn thấy nhân viên cũ của ông vào comment biết ơn ông. Sau nghe mấy đài bên hải ngoại mới biết ông bị vợ chồng Dũng lò vôi hại và 1 phần cũng là quá ngây thơ, k hiểu cs là gì như m nói.
Bà Nam (Năm) cải cách ruộng đất, công ơn với nó như vậy, nó còn thịt thì tụi này tuổi gì.
 
Hiếm có đại gia nào chết mà đc dân thương như Tăng Minh Phụng, hồi t xem cái video kể về ông tô đọc comment ở dưới toàn thấy nhân viên cũ của ông vào comment biết ơn ông. Sau nghe mấy đài bên hải ngoại mới biết ông bị vợ chồng Dũng lò vôi hại và 1 phần cũng là quá ngây thơ, k hiểu cs là gì như m nói.
Ông Dũng thôi, còn bà Hừng lúc này đang làm gái 😄
 
HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 2): KHẾ ƯỚC ÔNG TÁO VÀ CUỘC CHẠM TRÁN ĐỊNH MỆNH TẠI CHỢ LỚN
*********************************************

Sau cái buổi sáng định mệnh ở ngã tư Bình Thới ấy, cuộc đời Bảy Phụng rẽ sang một hướng mà chính những người viết kịch bản táo bạo nhất ở Chợ Lớn cũng không dám nghĩ tới.

Người ta thấy gã “Bảy Khùng” không còn chạy xe lôi chở dép nhựa đi bán dạo nữa. Thay vào đó, mỗi buổi chiều, Bảy Phụng tắm rửa sạch sẽ, mặc cái áo sơ mi ủi phẳng phiu, đạp xe đến trước cổng đồn Công an Quận 11 để đón cô Sương. Ban đầu, đồng đội của cô Sương xì xầm bàn tán:

- Cái thằng cha người Tiều chạy xe lôi hay bị phạt đó mà, chắc lại tính năn nỉ xin xỏ gì đây.

Nhưng không, họ thấy cô Sương leo lên sau xe Bảy Phụng, nụ cười e ấp nhưng ánh mắt thì kiên định lạ thường.

Cuối năm 1987, một đám cưới diễn ra. Không rình rang kèn trống, không xe hoa lộng lẫy, nhưng mâm cỗ hôm đó lại có mặt những nhân vật khiến cả khu Chợ Lớn phải kiêng dè. Bàn tiệc được chia làm hai nửa rõ rệt. Những người đàn ông mặc áo đại cán, nói giọng Bắc trầm ấm, những vị chỉ huy trong ngành công an... họ đến vì nể mặt cô dâu. Người ta đồn rằng, cô Sương không chỉ là một nữ cảnh sát bình thường. Sau lưng cô là cái bóng của những “cây đại thụ” trong chính trường miền Nam thời bấy giờ, những người coi cô như con cháu trong nhà. Bên kia là những người đàn ông Hoa kiều trầm mặc, nói tiếng Triều Châu, tiếng Quảng Đông xì xào, tay đeo nhẫn ngọc bích, ánh mắt sắc sảo như dao cạo – đó là “nhà trai”, đại diện cho bang hội Triều Quảng.

Tuần trăng mật chưa qua, Bảy Phụng đã biến mất vào những con hẻm sâu hút của Quận 11. Anh không đi chơi. Anh đi “huy động vốn”. Dù có vợ làm công an, nhưng ngân hàng nhà nước thời đó chưa có cơ chế cho tư nhân vay tiền tấn để mở xưởng. Bảy Phụng phải tìm về cội nguồn: Bang hội Triều Châu.

Tại một gian phòng kín phía sau Thất Phủ Miếu (nơi thờ các vị tổ nghề người Hoa), Bảy Phụng quỳ trước mặt các “Chú Ba”, “Chú Thím” – những trưởng lão nắm giữ túi tiền của cả khu Chợ Lớn.

- Ngộ muốn chuyển nghề. Không làm dép nhựa nữa. Ngộ muốn làm may mặc. – Bảy Phụng nói, trán lấm tấm mồ hôi. Một lão gia vuốt râu, hỏi:

- May mặc cần máy móc, cần nhà xưởng lớn. Tiền đâu nị làm? Mà bán cho ai?

- Bán cho Tây! – Bảy Phụng đáp gọn lỏn:

- Vợ ngộ lo được cái giấy phép xuất đi Đông Âu. Bên đó đang lạnh, đang thiếu quần áo. Chỉ cần có hàng là có tiền rúp với đô-la. Ngộ cần các chú hùn vốn. Ngộ lấy cái mạng này ra thế chấp.

Không khí im lặng như tờ. Trong giới làm ăn người Hoa, chữ Tín quý hơn vàng. Một tờ giấy nợ viết tay có giá trị hơn cả trăm hợp đồng công chứng. Các lão gia nhìn nhau. Họ nhìn thấy sau lưng Bảy Phụng không chỉ là cô vợ công an quyền lực, mà còn là một cái “vận” đang lên hừng hực. Họ ngửi thấy mùi tiền.

- Được! Bang hội sẽ lập một dây “hụi chết” cho nị. 40 người đứng tên vay, gom tiền đưa nị làm vốn. Nhưng nhớ kỹ, nị mà gãy gánh, là cả cái Chợ Lớn này sụp theo. Lúc đó đừng trách luật giang hồ.

Bảy Phụng dập đầu tạ ơn. Khi anh bước ra khỏi miếu, bóng anh đổ dài trên sân gạch dưới ánh trăng. Người ta nói, cái bóng đó không giống người thường, nó gù gù, lưng cõng một cái bao tải nặng trĩu, y hệt dáng dấp của Ông Táo đang gánh củi về trời. Khế ước 7/3 đã bắt đầu vận hành: Anh vay của trần gian, nhưng người bảo lãnh là Thần linh. 40 cái tên đã ký vào tờ giấy bảo lãnh cho Bảy Phụng. Họ là ai? Họ không phải là những cái tên xuất hiện trên báo. Họ là những ông chủ vựa vải Soái Kình Lâm, những trùm vận tải bến Bình Đông, và đặc biệt là nhóm “Ngũ Bang” (5 bang hội lớn: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Khách Gia). Trong đó, có sự hậu thuẫn ngầm của gia tộc họ Trầm/Thẩm (vốn nổi danh về buôn bán gỗ và chế biến lâm sản lúc bấy giờ) và nhóm thương nhân gốc Hoa đang nắm giữ nguồn nguyên liệu dệt may nhập lậu từ biên giới.

Tại sao họ chọn Phụng? Vì Bảy Phụng là người Tiều (Triều Châu) – nhóm người đoàn kết và liều lĩnh nhất trong cộng đồng Hoa kiều. Và quan trọng hơn, Bảy Phụng có “lá bùa hộ mệnh” là cô Sương. Các lão gia Chợ Lớn tính toán rất nhanh:

- Thằng Phụng có gan, vợ nó có quan hệ. Đổ tiền cho nó là đổ tiền mua một con đường máu để hàng hóa của bang hội được hợp thức hóa xuất đi Tây.

Có tiền của bang hội, Bảy Phụng mua đứt những lô máy may cũ từ các xí nghiệp nhà nước giải thể, thuê thợ về sửa lại. Năm 1988, biển hiệu “Tổ hợp May Minh Phụng” chính thức được treo lên. Từ bỏ nghề dép nhựa lấm lem, Bảy Phụng chuyển sang làm may mặc. Tại sao lại là may mặc? Vì Đông Âu và Liên Xô đang “đói” hàng. Với sự mách nước của vợ và mạng lưới quan hệ ngầm, Bảy Phụng biết rằng: Chỉ cần có hàng, xuất đi là có tiền, mà là tiền rouble chuyển đổi, tiền dollar. Tiếng máy may chạy rào rào như mưa rào suốt ngày đêm tại các phân xưởng ở Lạc Long Quân. Thế là, hàng tấn vải vóc, chỉ may, phụ liệu được các “Chú Ba, Thím Sáu” ở Chợ Lớn bơm chịu (trả chậm) cho Minh Phụng. Nhà xưởng Minh Phụng sáng đèn 24/7, tiếng máy may át cả tiếng mưa.

Còn tiếp…
 
Thằng thớt copy bài của quyhoc đường phố ko ghi nguồn hả m, trước có thằng post rồi
 
KẾ TIẾP PHẦN 2 (phân đoạn 2).

Và cũng may mắn làm sao, từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thời kỳ Đổi Mới, nhưng ranh giới giữa “tư bản tư nhân” và “bóc lột” còn rất mong manh. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm thế thượng phong. Tăng Minh Phụng bị soi mói, bị các đoàn kiểm tra liên ngành ghé thăm liên tục. Có lúc tưởng chừng như bị niêm phong nhà xưởng vì quy mô quá lớn so với quy định. Đúng lúc dầu sôi lửa bỏng, một chiếc xe Volga đen bóng dừng trước cổng xưởng may ở Lạc Long Quân. Người bước xuống xe là một ông già dáng người quắc thước, nụ cười hào sảng, mặc chiếc áo sơ-mi cộc tay giản dị. Đó là Cụ Sáu, “kiến trúc sư trưởng” của nền kinh tế thị trường.

Sự xuất hiện của Cụ Sáu không phải ngẫu nhiên. Trước đó, trong những bữa cơm thân mật tại tư gia, cô Sương – với tư cách là đứa cháu nghĩa tình – đã khéo léo kể về tâm huyết của chồng:

- Ảnh làm ngày làm đêm, chỉ mong tạo việc làm cho dân nghèo Quận 11, mang ngoại tệ về cho Ba Sáu xây dựng đất nước.

Cụ Sáu, người vốn trọng thực tiễn, ghét lý thuyết giáo điều, đã quyết định “vi hành”.

Cụ đi dạo quanh xưởng, nhìn hàng ngàn công nhân đang hăng say làm việc, nhìn những container hàng xuất khẩu xếp lớp. Cụ gật đầu, vỗ vai Tăng Minh Phụng:

- Làm ăn thế này là tốt! Tư nhân hay nhà nước không quan trọng, miễn là mèo trắng hay mèo đen bắt được chuột là mèo tốt – trước đây tôi nghe ông Đặng Tiểu Bình từng nói thế. Chú cứ mạnh dạn mà làm, có gì khó khăn cứ báo cáo.

Cái vỗ vai ấy đã được các phóng viên tháp tùng chụp lại. Sáng hôm sau, bức ảnh Cụ Sáu thăm xưởng Minh Phụng xuất hiện trên trang nhất các báo lớn.

Hiệu ứng của cái vỗ vai đó diệu kỳ hơn bất kỳ văn bản pháp lý nào. Giới quan chức và ngân hàng rỉ tai nhau:

- Thằng Phụng là người của Cụ Sáu. Đừng có dại mà đụng vào.

Với tư cách là người nhà của “Ông Lớn”, cộng với sự khôn khéo của một người vợ hiền, cô Sương đi gõ cửa từng cơ quan Thương nghiệp, từng Cục Xuất nhập khẩu.

- Các anh giúp cho anh Bảy nhà em. Ảnh làm ăn đàng hoàng, tạo công ăn việc làm cho mấy ngàn người lao động nghèo. Hàng này xuất đi trả nợ cho nước bạn, là làm đẹp mặt đất nước.

Những tờ giấy phép Quota (Hạn ngạch) quý hơn kim cương được ký duyệt. Những container quần áo gió, áo khoác, đồ bộ của Minh Phụng được thông quan thẳng tiến sang Nga, Tiệp-khắc, Ba-lan. Ở bên kia bán cầu, thị trường Đông Âu đang khát hàng hóa tiêu dùng. Hàng Minh Phụng sang đến đâu, bán hết sạch đến đó. Ngoại tệ chảy ngược về Việt Nam như thác lũ.

Cánh cửa kho bạc nhà nước chính thức mở toang. Tăng Minh Phụng từ chỗ phải vay lãi ngày của bang hội Chợ Lớn, nay đường hoàng bước vào ngân hàng ký những hợp đồng vay ưu đãi hàng triệu đô-la. Ông trả sạch nợ cho bang hội, giữ trọn chữ Tín, khiến vị thế của ông ở Chợ Lớn lên hàng “đại ca”. Ông đóng thuế đầy đủ, tạo việc làm, khiến vị thế của ông ở chính trường lên hàng “Anh hùng lao động”.

Năm 1993, Bảy Phụng không còn là Bảy Phụng xe lôi nữa. Ông là Tăng Minh Phụng – ông vua không ngai của ngành dệt may tư nhân.

Thời điểm đó, người dân Quận 11 bắt đầu rỉ tai nhau về một hiện tượng lạ. Tăng Minh Phụng tiền vô như nước sông Đà, nhưng tiền ra cũng như thác lũ. Ông dường như bị một lực đẩy vô hình nào đó thôi thúc phải... cho tiền đi.

Nhớ lời thề “7 phần cho đời, 3 phần giữ lại” trước anh linh Mẫu Trầu, Bảy Phụng thực hành bố thí một cách điên cuồng. Từ Tổ hợp may Minh Phụng ban đầu giờ đã trở thành Công Ty TNHH may xuất khẩu Minh Phụng. Công nhân trong xưởng may Minh Phụng không chỉ được trả lương cao nhất Sài Gòn, mà hễ nhà ai có tang ma, hiếu hỉ, bệnh tật, ông chủ Bảy đều xuất hiện, tay cầm phong bì dày cộp, dúi vào tay họ mà không cần ký nhận. Những người bạn thuở hàn vi, những đối tác từng giúp đỡ ông dù chỉ một bát cơm, giờ quay lại tìm, ông đều tặng nhà, tặng xe. Giới làm ăn Chợ Lớn gọi ông là “Mạnh Thường Quân tái thế”. Nhưng chỉ có cô Sương, trong những đêm thanh vắng, mới thấy chồng mình ngồi thở dốc, mồ hôi vã ra như tắm sau mỗi lần làm từ thiện.

- Mình à, sao mình cho tiền mà mặt mình sợ hãi vậy?

- Anh không cho đi không được Sương ơi. Tiền này nặng lắm. Anh cảm giác như mình đang cầm những hòn than nóng của Trời. Nếu không chuyền tay cho người khác, nó sẽ đốt cháy tay anh.

Hóa ra, sự hào phóng của Tăng Minh Phụng tất nhiên ngoài lòng tốt ra, còn vì để thực hiện xả năng lượng theo cam kết với đấng siêu nhiên. Ông biết mình đang vay nợ của Quỷ thần, nên ông phải liên tục “trả lãi” cho chúng sinh để cân bằng cán cân âm dương.

Dù cầm trong tay hàng ngàn tỷ đồng, nhưng Bảy Phụng sống như một tu sĩ khổ hạnh giữa chốn phồn hoa. Không rượu chè, không gái gú, bữa trưa thường trực chỉ là ổ bánh mì kẹp thịt hoặc tô bún bò vỉa hè ăn vội cùng tài xế. Người đời bảo ông “diễn”. Nhưng họ không hiểu, với người mang mệnh Phá Quân (Hao tán), việc hưởng thụ vật chất tầm thường không mang lại khoái cảm. Khoái cảm của ông nằm ở những nơi kỳ lạ khác.

Hai địa điểm mà “Ông vua không ngai” này thường lui tới nhất, không phải vũ trường hay sân golf, mà là bàn bida và tiệm hớt tóc.

Tại những CLB Bida kín đáo, người ta thấy Bảy Phụng cầm cơ, mắt nheo lại, nhìn chằm chằm vào những viên bi màu sắc. Ông không chơi để giải trí. Với ông, mặt bàn nỉ xanh kia chính là sa bàn chiến lược. Mỗi cú A-băng (đánh bật băng) là một đường đi nước bước để lách qua khe cửa hẹp của cơ chế. Viên bi cái là dòng tiền, viên bi mục tiêu là những lô đất vàng. Ông tính toán góc độ, lực đẩy, độ xoáy... y hệt như cách ông tính toán việc xoay vòng vốn giữa hàng chục công ty con. Tiếng bi chạm nhau cốp, cốp vang lên khô khốc trong đêm vắng như tiếng gõ cửa của định mệnh. Những người chơi cùng ông kể lại, có những lúc ông đánh một đường cơ tuyệt đẹp, nhưng lại buông gậy thở dài:

- Chạy đằng trời cũng không thoát thế bi này.

Phải chăng, trên bàn bida ấy, ông đã nhìn thấy trước thế cờ “bí” của cuộc đời mình?

Và khi đầu óc căng như dây đàn vì những con số nợ nần, Bảy Phụng tìm đến “thiền viện” của riêng mình: Những tiệm hớt tóc, ráy tai hạng sang ở trung tâm Quận 5. Ông nằm đó, mắt nhắm nghiền, mặc cho người thợ cạo lướt lưỡi dao sắc lạnh trên cổ. Trong văn hóa kinh doanh Sài Gòn xưa, tiệm hớt tóc là “trung tâm tình báo” vỉa hè. Những câu chuyện về quy hoạch, về thay đổi nhân sự, về giá đất lên xuống... trôi nổi trong không gian sực nức mùi dầu gội và phấn rôm. Bảy Phụng nằm im như pho tượng, nhưng đôi tai ông mở to để thu nạp tất cả. Ông “thiền” trong tiếng kéo cắt tóc lách cách. Ông gột rửa bụi trần và áp lực ngàn tỷ bằng những đường ráy tai êm ái. Có lần, người thợ cạo quen thuộc thấy ông chủ Bảy ngủ quên, khóe mắt rỉ ra một giọt nước mắt.

- Xì thẩu ơi xì thẩu (“xì thẩu” trong tiếng người Hoa nghĩa là ông chủ), ông mệt lắm sao?

Còn tiếp….
 
KẾ TIẾP PHẦN 2 (phân đoạn 3).

Bảy Phụng giật mình tỉnh dậy, ánh mắt mờ đục nhìn vào gương. Trong gương, ông không thấy mình. Ông thấy bóng dáng một người đàn ông mặc áo bà ba, tay cầm quạt mo đang đứng sau lưng mỉm cười.

- Ngộ không mệt. Ngộ chỉ đang nghe tiếng đất thở. – Ông đáp, giọng lạc đi.

Những năm tháng yên bình và thịnh vượng đó (năm 1992), ông đang nằm trong tiệm hớt tóc mà trăn trở: Tiền nhiều quá. Tiền từ Đông Âu đổ về, tiền từ Ngân hàng bơm ra. Ông không biết làm gì cho hết. Sản xuất may mặc đã bão hòa. Ông sợ tiền để không sẽ bốc hơi (lạm phát). Và rồi, một ý nghĩ lóe lên, điên rồ và định mệnh. Ông nhìn tấm bản đồ Sài Gòn treo trên tường. Ông không nhìn thấy nhà cửa. Ông nhìn thấy đất. Đất đai đang ngủ yên dưới chân những rừng cao su ở Sông Bé, những bãi sình lầy ở Vũng Tàu. “Phải mua đất! Chỉ có đất mới giữ được tiền của Mẹ!” Tiền mặt thì bốc hơi, hàng hóa thì hư hỏng, chỉ có Đất là vĩnh cửu. Lời nguyền của Mẫu Trầu: “Tài sản 10 phần, giữ 3 phần” đang bị lung lay bởi một ma lực mới. Ma lực của sự sở hữu vĩnh cửu. Ông bước ra khỏi tiệm hớt tóc, nhìn về hướng Đông Bắc của Sài Gòn – nơi có những cánh rừng cao su bạt ngàn.

Vào một buổi sáng chủ nhật trong không khí mùa tết năm 1993, đoàn xe của Tăng Minh Phụng lặng lẽ rời Sài Gòn hướng về Biên Hòa. Không kèn trống, không cờ phướn, nhưng sức nặng của đoàn xe ấy khiến mặt đường nhựa lún xuống. Trong cốp xe không phải là hành lý, mà là những bao tải tiền mặt được cột chặt bằng dây thun, mùi giấy bạc mới in nồng nặc đến mức những con chim sẻ đậu trên dây điện ven đường cũng phải hắt hơi. Bảy Phụng đưa vợ con về Quan Âm Tu Viện. Ông về để thực hiện một cuộc giao dịch sòng phẳng nhất cuộc đời mình: Trả lãi cho Thần linh.

Ngôi chùa nằm tĩnh lặng dưới bóng những cây cổ thụ trăm năm, nơi hương khói không bao giờ dứt. Bảy Phụng quỳ xuống trước bảo tháp của Mẫu Trầu, cái lưng gù gù của ông run lên bần bật. Ông không khấn xin giàu sang nữa, vì ông đã quá giàu. Ông khấn xin sự bình an.

- Mẹ ơi, con mang tiền về trả cho đời. Con xin quy y cửa Phật, xin Mẹ nhận con làm đệ tử, để con bớt nặng lòng.

Vị trụ trì đương nhiệm nhìn người đàn ông đang quỳ mọp dưới chân mình, nhìn thấy sau lưng ông ta không phải là hào quang, mà là một ngọn núi lửa đang chực chờ phun trào. Sư thầy đặt tay lên vai Bảy Phụng, giọng trầm buồn như tiếng chuông chiều:

- Thầy ban cho anh pháp danh Minh Lưu. “Minh” là trí tuệ sáng suốt. “Lưu” là dòng nước chảy, là sự lưu thông. Thầy chỉ dặn anh, tiền bạc cũng như dòng nước. Nước tụ lại một chỗ là nước chết, nước phải chảy mới là nước sống. Anh muốn giàu bền vững, đồng tiền của con phải lưu thông không ngừng. Nhập vào rồi phải xuất ra, có vay thì phải có trả, có nhận thì phải có cho. Chữ “Lưu” này sẽ giúp dập tắt ngọn lửa tham vọng thiêu đốt trong anh.

Nhưng rồi, sư thầy hạ giọng, nói thêm một câu mà lúc đó Bảy Phụng vì quá hân hoan nên đã không suy ngẫm kỹ:

- Cơ mà anh hãy nhớ: “Thủy năng tải chu, diệc năng phúc chu”. Nước có thể nâng thuyền, nhưng nước cũng có thể lật thuyền. Dòng chảy mà xiết quá thì thành lũ lụt cuốn trôi hết láng. Giữ cho dòng nước ấy bình lặng, chớ nên tạo sóng dữ.

Bảy Phụng nghe chữ “lưu thông” thì như mở cờ trong bụng. Với đầu óc của một doanh nhân, ông hiểu đó là Dòng Tiền. Ông tin rằng Thần Phật đang ủng hộ triết lý kinh doanh “xoay vòng vốn” của mình. Ông lạy tạ ba lạy, nước mắt rưng rưng vì xúc động, tin rằng mình đã nắm được bí quyết thiên cơ.

Ông không ngờ rằng, chữ “Lưu” ấy sau này lại vận vào đời ông theo cách tàn khốc nhất: Dòng tiền chảy quá nhanh, quá mạnh, biến thành cơn đại hồng thủy nhấn chìm cả đế chế Minh Phụng và Epco vào ngục tối.

Từ hôm đó, Tăng Minh Phụng chính thức trở thành đệ tử dòng Non Bồng. Ông đổ tiền vào xây dựng cô nhi viện, trường học, trạm xá. Ông điên cuồng làm từ thiện như một kẻ đang tát nước ra khỏi con thuyền đang bị rò rỉ. Nhưng lạ thay, ông càng tát nước ra, tiền lại càng chảy vào mạnh hơn. Những lô đất ông mua chơi chơi ở ngoại ô bỗng dưng tăng giá gấp mười, gấp trăm lần sau một đêm quy hoạch. Đất đai như có linh hồn, chúng sinh sôi nảy nở, chúng bò vào giấc ngủ của ông, đòi ông phải mua thêm, mua thêm nữa.

Và để nuôi nấng “bầy thú đất đai” háu đói ấy, dòng tiền từ xưởng may là không đủ. Bảy Phụng cần một nguồn năng lượng hạt nhân. Ông cần một người biết cách biến những tờ giấy A4 thành hàng triệu đô-la.

Đúng lúc Bảy Phụng đang loay hoay giữa núi vàng và bùn lầy, thì ở Quận 3, trong một tòa nhà văn phòng máy lạnh chạy vo vo, có một người đàn ông khác đang ngồi nhìn qua cửa kính, ngắm nhìn dòng người hối hả.

Đó là Liên Khui Thìn. Khác hẳn với vẻ phong trần, xắn tay áo của Bảy Phụng, Liên Khui Thìn là hiện thân của giới trí thức mới. Ông người Khánh Hòa, dáng vẻ thư sinh, đeo kính trắng, nói chuyện nhẹ nhàng như một giáo sư đại học. Ông là Giám đốc Epco – một công ty TNHH nhưng mang trong mình “dòng máu xanh” của Quận 3, nắm giữ những giấy phép xuất nhập khẩu quyền lực nhất và mối quan hệ trực tiếp với các ngân hàng quốc tế.

Thìn không biết may áo. Nhưng Thìn biết cách vẽ ra những ma trận tài chính. Thìn biết cách biến một con tàu chở phân bón đang lênh đênh trên biển thành một tấm séc bảo lãnh trị giá triệu đô ngay khi nó chưa cập cảng. Thìn là một “kiến trúc sư của những con số”.

Một ngày nọ, Bảy Phụng cần nhập một lô máy móc thiết bị khổng lồ từ Nhật Bản để mở rộng xưởng, nhưng hạn mức ngoại tệ của ông đã cạn. Ngân hàng lắc đầu. Trong cơn bí bách, một người quen trong giới ngân hàng – Phạm Nhật Hồng – đã ghé tai ông:

- Anh muốn có Đô-la, anh phải tìm đến Epco. Tìm gặp anh Thìn. Chỉ có cái đầu của anh Thìn mới giải được bài toán này.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tại trụ sở Epco. Bảy Phụng bước vào, mang theo cái nóng hầm hập và mùi mồ hôi của Quận 11 vào văn phòng lạnh lẽo của Quận 3. Ông đặt lên bàn một ổ bánh mì thịt dở dang và một xấp hồ sơ đất đai dày cộp.

- Ngộ có đất. Ngộ có xưởng. Ngộ có hàng ngàn công nhân. Nhưng ngộ thiếu tiền mặt để xoay. Anh giúp ngộ, ngộ sẽ không để anh thiệt.

Liên Khui Thìn nhìn người đàn ông đối diện. Thìn không nhìn thấy ổ bánh mì. Thìn nhìn thấy năng lượng. Thìn là người thông minh, và người thông minh thường bị thu hút bởi những kẻ liều lĩnh. Thìn nhận ra Tăng Minh Phụng chính là mảnh ghép còn thiếu của mình. Epco có cơ chế, có hạn mức tín dụng, nhưng thiếu một “cơ thể sống” khổng lồ để dòng tiền lưu thông. Minh Phụng chính là cơ thể đó.

- Anh Phụng, đất của anh là đất chết nếu nó nằm im. – Thìn đẩy gọng kính, ánh mắt lóe lên một tia sáng sắc sảo.

- Nhưng nếu chúng ta đưa nó vào ngân hàng, nó sẽ thành vàng ròng. Tôi có cách để ngân hàng định giá lô đất ruộng của anh thành đất khu công nghiệp. Chúng ta sẽ dùng tiền đó để nhập hàng, rồi dùng hàng để thế chấp mua đất tiếp.

- Làm vậy có sao không? – Bảy Phụng hỏi, bản năng của người nông dân trỗi dậy.

- Không sao cả. – Thìn mỉm cười, nụ cười của một nhà ảo thuật.

- Cả thế giới này vận hành bằng nợ. Miễn là chúng ta trả được lãi, thì nợ chính là tài sản. Hai ta hợp lại thì đất của cả miền Nam này sẽ nằm trong túi tụi mình.

Cứ như thế, hai gã đàn ông rất hăng máu và say mưa, cầm trên tay ổ bánh mì thịt 1.000 đồng và thảo luận về những câu chuyện tỷ đô. Cái bắt tay hôm đó giữa Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn không chỉ là sự hợp tác kinh doanh. Đó là sự va chạm giữa hai thiên thạch. Một bên là Hỏa (Minh Phụng – Lửa nhiệt huyết, sản xuất), một bên là Thủy (Liên Khui Thìn – Dòng chảy tài chính, mưu lược). Theo lý thuyết Ngũ hành, Thủy khắc Hỏa. Nhưng nếu Thủy và Hỏa gặp nhau ở nhiệt độ cực điểm, chúng sẽ tạo ra Hơi nước – thứ năng lượng đẩy cỗ máy hơi nước chạy với tốc độ kinh hoàng.

Và cỗ máy Minh Phụng–Epco bắt đầu lăn bánh, nghiền nát mọi quy tắc an toàn của hệ thống ngân hàng thời bấy giờ, lao vun vút về phía vực thẳm với tốc độ của ánh sáng. Thời gian không được đo bằng giờ, mà bằng tốc độ của những chữ ký. Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn đã thiết lập một “Nhà kính vạn hoa”. Họ đặt một lô đất vào giữa, rồi dựng lên hàng chục tấm gương xung quanh. Mỗi tấm gương là một “Công ty con”. Lô đất phản chiếu qua gương này sang gương khác, mỗi lần phản chiếu, giá trị của nó lại tăng lên gấp đôi, gấp ba. Ngân hàng nhìn vào, lóa mắt bởi ánh hào quang ảo ảnh ấy, và họ mở kho tiền. Để mở được cánh cửa kho bạc Nhà nước, họ cần một “người gác cổng” biết cách làm mù mắt các quy trình kiểm soát. Đó là lúc Phạm Nhật Hồng – Giám đốc Incombank (tiền thân của VietinBank) chi nhánh TP.HCM – bước ra từ màn sương.

Còn tiếp…
 
KẾ TIẾP PHẦN 2 (phân đoạn cuối)

Không ai biết chính xác giữa Liên Khui Thìn và Phạm Nhật Hồng, Tăng Minh Phụng quen biết ai trước, nhưng chắc chắn trước đó họ đều biết đến lẫn nhau, cho đến khi ngồi chung bàn “liên minh sinh tử”. Có người nói họ gặp nhau trong một bữa tiệc “rửa tiền” (nghĩa đen: những đồng tiền cũ nát được đổi thành tiền mới) tại một biệt thự kín cổng cao tường ở Quận 3. Phạm Nhật Hồng, người nắm giữ chìa khóa của kho vàng quốc gia, nhìn thấy ở hai người đàn ông này một sức hấp dẫn chết người. Một kẻ có cơ chế (Thìn), một kẻ có lực lượng (Phụng).

- Tôi không thể cho các anh vay tiền để buôn đất. Luật cấm. – Hồng nói, giọng lạnh băng.

- Chúng tôi không vay tiền buôn đất. – Liên Khui Thìn mỉm cười, đặt lên bàn một tập hồ sơ dày cộp.

- Chúng tôi vay tiền để mua “tư liệu sản xuất”. Những mảnh đất sình lầy kia, qua lăng kính của tôi, sẽ trở thành những nhà máy, những khu công nghiệp tương lai. Anh không giải ngân cho đất, anh giải ngân cho giấc mơ công nghiệp hóa.

Phạm Nhật Hồng nhìn vào mắt Tăng Minh Phụng. Ông thấy trong đó ngọn lửa của một tín đồ cuồng tín. Một kẻ dám thế chấp cả mạng sống cho giấc mơ. Và Hồng đã gật đầu. Cái gật đầu ấy đã biến Phạm Nhật Hồng từ một cán bộ ngân hàng mẫn cán thành một nhà giả kim. Ông biến những bãi đất hoang giá trị 1 đồng thành tài sản thế chấp giá trị 10 đồng trên giấy tờ. Những tờ giấy A4 đóng dấu đỏ chót bay ra khỏi ngân hàng, hóa thành những dòng thác tiền mặt chảy vào túi Minh Phụng và Epco.

Nhưng để vận hành ma trận mua bán lòng vòng nhằm nâng khống giá trị đất đai, ba người họ không thể làm một mình. Họ cần những con rối. Những con rối biết ký tên và không biết hỏi. Tăng Minh Phụng lôi người em trai ruột thịt – Tăng Bình Trọng – ra khỏi bóng tối bình yên. Liên Khui Thìn gọi người em trai – Liên Khôi Dương – vào cuộc chơi.

Hai người em trai ấy, Trọng và Dương, giống như những cái bóng của hai người anh khổng lồ. Họ được đặt vào ghế Giám đốc của hàng chục “Công ty Ma” – những công ty chỉ có cái biển hiệu và con dấu. Hàng ngày, công việc duy nhất của họ là ký. Ký mỏi tay. Ký đến mức mực bút bi hòa lẫn với mồ hôi chảy xuống mặt bàn. Họ ký hợp đồng mua bán khống: Công ty A của em Phụng bán miếng đất cho Công ty B của em Thìn, rồi Công ty B bán lại cho Công ty C... Mỗi lần bán, giá đất lại tăng lên một nấc thang, và ngân hàng lại bơm thêm tiền.

Trọng và Dương sống trong sợ hãi. Trong những giấc mơ, họ thấy mình bị chôn vùi dưới núi giấy tờ. Nhưng họ không thể dừng lại. Họ bị trói buộc bởi huyết thống và lòng trung thành của gia tộc. Họ là những con tốt thí trên bàn cờ của các ông anh.

Còn cô Sương vợ Bảy Phụng? Bà ngồi ở vị trí “thủ kho”, tay nắm chặt chùm chìa khóa két sắt. Bà nhìn thấy dòng tiền chảy vào ồ ạt, nhưng bà cũng ngửi thấy mùi khét của sự hủy diệt. Bà cố gắng dùng những mối quan hệ chính trị cũ của mình để che chắn, để “đỡ đạn” cho chồng mỗi khi có đoàn thanh tra. Nhưng tốc độ của cỗ xe Minh Phụng quá nhanh, nhanh đến mức không một chiếc ô dù nào có thể che chắn nổi. Bà trở thành người phụ nữ hậu phương lặng lẽ, gom góp từng đồng lẻ để lo cho mai sau.

Tăng Minh Phụng hầu như không bao giờ nhúng tay vào cờ bạc, rượu chè, gái gú, ngay cả người vợ của ông càng tin chắc điều đó hơn, và người bạn Liên Khui Thìn dĩ nhiên cũng biết. Ông dồn hết dục năng của bản thân vào kiếm tiền và làm giàu, có tiền, ông lại vung ra không tiếc tay để tưởng thưởng cho nhân viên và những người xung quanh. Ai cũng cảm kích và gọi ông như một “nhà từ thiện hơn là doanh nhân”. Khi gần kết thúc một năm 1993 với thắng lợi quá giòn giã, Tăng Minh Phụng chiêu đãi vợ con và những người anh em của mình một bữa tiệc ra trò trong bầu không khí của một nơi đặc quánh mùi vịt quay, mùi nhang trầm và mùi của những toan tính – Tửu lầu Ái Huê. Giữa lúc ông nâng ly cùng mọi người, thì có một người phụ nữ tay cầm một ly rượu Mao đài đến bàn của ông để chúc mừng:

- Phụng Thất ca, mừng ca làm ăn phát tài.

Ông nhận ra người đàn bà này. Họ cùng khởi nghiệp từ vải vóc, nhưng con đường đi đã rẽ lối.

- A Muội, nghe nói muội bỏ nghề vải, chuyển sang làm nhà hàng, khách sạn rồi hỉ?

Ông ngó thấy A Muội mặc chiếc sườn xám màu huyết dụ, cổ đeo chuỗi ngọc trai trắng muốt. Khác với Tăng Minh Phụng mồ hôi nhễ nhại, bà ngồi đó, khô ráo, lạnh lẽo và tĩnh lặng như một con rắn hổ mang đang cuộn mình. Bên cạnh bà là một người đàn ông lạ mặt, nói tiếng Quảng Đông pha lẫn tiếng Anh, dáng vẻ phong lưu, tay nâng ly bia vàng óng sủi bọt trắng xóa.

- Chắc Thất ca cũng biết, muội đã có con đường đi riêng rồi. (Chỉ về phía người đàn ông) Nay muội có dẫn theo phu quân, ảnh mới từ Đức Quốc về Hồng Kông rồi đáp chuyến bay sang đây, mới từ phi trường về là vội qua đây dự tiệc trà với mấy trưởng lão bang hội và chúc mừng đại ca đó. Phu quân của em mới ký được hợp đồng làm ăn lớn, nhập sỉ Bia Đức tươi về Sài Gòn đó nha. – A Muội cười khanh khách.

- Wao, định phân phối thiết bị nhà hàng và bia cho cả Sài Gòn. Huynh muội mình tâm ý lớn gặp nhau rồi đó.

- Phải, hihi, vải vóc chỉ để che thân. Còn “chỗ đứng” mới là thứ thiên hạ cần. Phải không đại ca ha?

Vị đại gia Hồng Kông kia cũng bước lại, nói bằng giọng lơ lớ:

- Nice to meet you! Mr. Phụng! “Ngó-măn-léi anh hóu-nòi hóu-lấu” (Tôi nghe danh anh đã lâu rồi). Néi mái kò su lam chòi-mat? Chòng syù à? (Anh mua rừng cao su để làm gì? Trồng cây sao?).

- M̀-hài. Ngó wúi téng lam pìn sì sị. Ngó wúi kìn dāi-dāi ge gung-yìp kêu hài Đông-nam-a chōi yāt (Không. Tôi sẽ biến rừng thành thành phố. Tôi sẽ xây những khu công nghiệp lớn nhất Đông Nam Á). – Bảy Phụng nói đầy tự hào.

- Thật đáng mặt trượng phu Á châu! Anh xây thành phố ở trong rừng, anh phải đợi 10 năm người ta mới đến. Còn vợ chồng tôi, chúng tôi dự định mua những căn nhà nát ở đường Nguyễn Huệ, Đồng Khởi. Chúng tôi đập đi xây lại. Ngày mai mở cửa, khách đã đứng xếp hàng đầy đường. Anh buôn tương lai, còn chúng tôi buôn hiện tại. – Vị đại gia cười khẩy với nụ cười sắc như dao cạo.

Câu nói đó như một gáo nước lạnh tát vào mặt Phụng.

Sau bữa tiệc là đến bữa trà, các vị trưởng lão của bang hội đang ngồi bàn chuyện với nhau. Một vị Trưởng lão già nhất, tay mân mê quân cờ mạt chược, cất tiếng:

- A Phụng, nị vay tiền của bang hội hơi nhiều rồi. Đất Sông Bé của nị mênh mông quá, nhưng giấy tờ thì lằng nhằng. Nghe nói nị dựa vào Cụ Sáu?

- Dạ, Cụ Sáu ủng hộ con. Ngay cả Anh Ba ở Sông Bé cũng chào đón con đó. – Phụng đáp nhanh.

Vị Trưởng lão lắc đầu:

- Quan nhất thời, dân vạn đại. Cụ Sáu rồi cũng phải về hưu. Khi Cụ về rồi, ai đỡ lưng cho nị? Cái dù của nị to, nhưng nó làm bằng giấy. – Rồi lại quay sang nhìn người phụ nữ mặc sườn xám.

- Còn A Muội, nghe nói nị vừa kết nghĩa chị em với bà Tư, bà Ba nào đó trên Trung ương?

- Dạ thưa chú, con phận đàn bà yếu đuối, phải tìm bóng cây tùng bách để nương nhờ. Chị Hai của con thương con như ruột thịt. Còn chồng con đây, ảnh có dòng tiền từ các quỹ đầu tư Hồng Kông, không cần vay tiền của các chú, chỉ xin các chú cho một tiếng nói ủng hộ để làm ăn cho thuận cái tình hương thân.

Tiếng quân cờ mạt chược gõ xuống bàn “Cốp!” Đó là tiếng búa của định mệnh.

- A Phụng, từ tháng này, bang hội sẽ siết lại hạn mức của nị. Nị phải tự bơi thôi. Còn A Muội, Chợ Lớn này là của nị.

Tăng Minh Phụng bước ra khỏi Tửu lầu Ái Huê. Trời Sài Gòn đổ cơn mưa tầm tã. Lần đầu tiên, ông cảm thấy lạnh thấu xương. Bang hội – bầu sữa mẹ nuôi ông lớn – đã cai sữa. Họ đã nhìn thấy một con phượng hoàng mới rực rỡ hơn, khôn ngoan hơn con phượng hoàng lửa đang tự thiêu đốt mình. Ông nhìn thấy hai vợ chồng vị đại gia Hồng Kông bước lên chiếc xe Mercedes đen bóng. Trước khi cửa kính xe kéo lên, ông thấy ánh mắt của muội muội nhìn ông. Không phải là sự thương hại, mà là sự tiễn biệt. Bà biết, tài sản của người đàn ông này rồi trong tương lai bà sẽ là người dọn dẹp những gì ông để lại.

Chính trong cơn tuyệt vọng bị bang hội từ chối đó, Tăng Minh Phụng mới điên cuồng lao vào vòng tay của Liên Khui Thìn và Phạm Nhật Hồng. Bị cắt bầu sữa “vốn hội”, ông buộc phải hút cạn bầu sữa “vốn công” để duy trì sự sống. Và đó là khởi đầu của sự kết thúc.

Không rõ rồi bộ phim kịch tính đó sẽ đi về đâu? Những gì đang giày vò tâm can của ông trong màn đêm buông xuống, rồi sáng mai khi thức dậy, rủi ro giáng xuống đầu Tăng đại gia sẽ là gì? Xem Phần 3 sẽ rõ…

Bài học cần nhắn nhủ: Khép lại Phần 2, chúng ta không thấy sự hả hê của kẻ giàu sang, mà thấy nỗi cô đơn tột cùng của một con người đang chạy đua với cái bóng của chính mình. Tăng Minh Phụng mang mệnh Phá Quân (Hao Tán) và được ví như Ông Táo. Định mệnh của Ông Táo là gì? Là Giữ Lửa cho nhân gian, là gánh củi, là chịu nóng, để người đời có cơm ăn áo mặc. Ông Táo không bao giờ là chủ nhân của ngôi nhà. Ông chỉ là người phục vụ. Bi kịch của Bảy Phụng là ông đã lầm tưởng mình là “Ông Chủ”. Ông ngỡ rằng số tiền khổng lồ chảy qua tay mình là của mình. Nhưng không, như Mẫu Trầu đã cảnh báo: “Con là Thủ kho”. Khi người thủ kho nảy sinh lòng tham muốn chiếm hữu kho tàng làm của riêng (biến dòng tiền lưu thông thành đất đai bất động), Khế ước bị vi phạm. Ngọn lửa vốn dĩ dùng để nấu cơm nay quay lại thiêu rụi chính người nhóm bếp. Khi bạn cố gắng dùng tốc độ của dòng nước (tín dụng ngắn hạn) để nuôi dưỡng sự tĩnh lặng của đất đai (tài sản dài hạn), bạn đang chống lại quy luật tự nhiên. Nước chảy xiết quá sẽ gây sạt lở đất. Sự sụp đổ của Minh Phụng chính là sự “sạt lở” của cấu trúc tài chính khi Dòng và Tụ mất cân bằng. Tăng Minh Phụng đã mua được ngàn héc-ta đất, nhưng ông đã đánh mất mảnh đất duy nhất mà con người thực sự sở hữu: Sự bình An trong tâm hồn. Ổ bánh mì thịt 1.000 đồng ông ăn vội vã ngon hơn hay những bữa tiệc triệu đô ngon hơn? Có lẽ, trong những giây phút cuối đời, ông mới nhận ra: Hạnh phúc không nằm ở việc sở hữu cả thế giới, mà nằm ở việc biết buông bỏ gánh củi trên vai xuống để ngắm nhìn một cơn mưa chiều.

Còn tiếp
 
Đọc về lão phụng xong, t còn hận mấy thằng bđs hơn
Why

HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 3): TỪ BỮA TIỆC ĐƯỜNG MẬT Ở RỪNG CAO SU ĐẾN CHIẾC QUẠT GÃY TRÊN BÃI BÀU TRŨNG
*********************************************

Vào những ngày tháng Bảy oi ả của năm 1993, khi những cơn mưa chưa kịp gột rửa lớp bụi đỏ dày đặc phủ lên tỉnh Sông Bé, một đoàn xe Mercedes đen bóng, dài như một con trăn khổng lồ, trườn qua những cánh rừng cao su bạt ngàn để tiến vào Dĩ An.

Ngồi trên chiếc xe dẫn đầu là Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn. Bảy Phụng nhìn qua cửa kính, thấy đất ở đây đỏ au như thịt sống. Ông không nhìn thấy bụi bặm, ông nhìn thấy một công trường vĩ đại. Bên cạnh ông, Liên Khui Thìn đang nhẩm tính trong đầu những con số lãi suất, mắt ánh lên vẻ lạnh lùng của một con cá mập đánh hơi thấy mùi máu trong nước.

Họ đến để gặp “Chúa Đất”. Đón tiếp họ tại dinh thự là Bác Ba Sông Bé – người đàn ông có nụ cười hào sảng của một lão nông tri điền nhưng đôi mắt lại sắc sảo như mắt diều hâu. Đứng lùi lại phía sau một bước, trầm mặc như một tảng đá ong, là ông rể Hoàng Gia – thời điểm đó đã lập công ty do nhà nước kiểm soát, người đang nắm giữ chiếc chìa khóa của kho tàng đất đai tỉnh nhà. Gã không cười, cũng không nói. Gã đứng đó như một tảng đá tảng, đôi mắt nheo lại quan sát từng cử chỉ của con mồi, tay chắp sau lưng, ngón tay xoay nhẹ chiếc nhẫn vàng to bản – tín vật của quyền lực ngầm.

Bác Ba Sông Bé ôm chầm lấy Tăng Minh Phụng như người anh em thất lạc lâu ngày. Tiếng cười của ông vang động cả hội trường, làm rung rinh những lá cờ đỏ treo trên tường.

- Trời đất quỷ thần ơi! Chú Bảy đây rồi! Qua đợi chú mà ruột gan nó nóng như lửa đốt rừng! – Bác Ba vỗ vai Phụng chan chát.

Ông ôm chầm lấy Phụng, vỗ chan chát vào lưng vị đại gia Sài Gòn, mạnh đến mức Phụng suýt ho sặc sụa.

- Chú nhìn xem! – Bác Ba chỉ tay ra vùng đất hoang vu trước mặt, giọng nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt.

- Đất Sông Bé mình mênh mông cò bay thẳng cánh, mà dân mình nghèo quá chú Bảy ơi. Qua đêm nào cũng vắt tay lên trán, mơ có một ông Tiên nào đó về đây, biến sỏi đá thành cơm. Mà nay Tiên về thật rồi! Chú chính là cứu tinh, là Bồ-tát sống của bà con xứ này!

Tăng Minh Phụng, người đàn ông vốn quen với sự lạnh lùng của thương trường, bỗng chốc mềm lòng trước sự “chân tình” mộc mạc ấy. Cái tôi vĩ cuồng của ông được bơm căng như quả bóng bay.

Kéo tay Phụng vào phòng tiệc, nơi đã bày sẵn những món đặc sản rừng quý hiếm nhất – tê tê, rắn hổ, những linh vật của đất đai – Bác Ba Sông Bé rót một chén rượu đế đầy tràn, rồi buông ra một câu nói:

- Uống chén này với qua! Nói thiệt với chú Bảy, qua nhìn tướng mạo chú, qua ưng cái bụng lắm. Trán cao, mắt sáng, lại có tâm với dân với nước. Qua giận ông Trời sao sanh chú ra muộn quá.

Ông ngừng lại, thở dài thườn thượt, liếc mắt nhìn sang ông rể Hoàng Gia đang ngồi im lặng rót rượu, rồi quay lại nhìn Phụng với ánh mắt tiếc nuối tột cùng:

- Giá mà qua còn đứa con gái nào nữa, qua gả ngay cho chú! Để chú về làm rể quý của cái xứ Sông Bé này, thì cha con ta hợp lực, có phải là bá chủ cả cái miền Nam này không? Tiếc thay! Mà nghe nói chú đã có gia đình rồi, lấy cô tiểu thư con gái nuôi nhà cụ lớn chứ lị. Qua đến sau đến muộn, lỡ cái duyên tốt này gòi. Phận mỏng duyên thưa!

Câu nói ấy như một mũi dao ngọt ngào cắm phập vào tim Tăng Minh Phụng. Nó vừa nâng tầm Phụng lên hàng “người nhà”, vừa khéo léo gạt bỏ mọi rào cản đề phòng. Phụng cảm thấy mình được yêu thương, được trọng vọng như con cái trong nhà.

Nhưng ở góc bàn, Liên Khui Thìn khẽ rùng mình. Thìn nhìn thấy nụ cười nửa miệng của ông rể Hoàng Gia. Ông con rể thật sự đang ngồi đó, nghe cha vợ mình ước ao có một thằng con rể khác, mà mặt không hề biến sắc.

Ông rể Hoàng Gia nâng ly lên, hướng về phía Tăng Minh Phụng, giọng nói trầm đục như tiếng vọng từ dưới giếng sâu:

- Anh Bảy à, tuy anh không làm rể ba em, nhưng anh về đây đầu tư, thì anh em mình còn thân hơn ruột thịt. Em có đất, anh có tiền. Anh cứ coi Sông Bé như nhà của anh. Em sẽ dọn đường, quét lá, trải thảm đỏ cho anh đi.

Họ nâng ly. Rượu đế cay xé họng, chảy vào ruột gan như lửa. Tăng Minh Phụng uống cạn, cảm thấy dòng máu anh hùng ca đang cuộn chảy. Ông đập tay xuống bàn, tuyên bố dõng dạc:

- Bác Ba thương con như vậy, con xin hứa! Con sẽ vay ngân hàng, con sẽ đổ vào đây ngàn tỷ. Con sẽ biến cái tỉnh nhà mình thành Hồng Kông thứ hai!

Bác Ba Sông Bé cười, nụ cười híp mí che đi ánh nhìn sắc lạnh. Ông gắp cho Phụng một miếng thịt thú rừng còn đỏ hỏn:

- Ăn đi con! Ăn cho có sức mà cày!

Tăng Minh Phụng không nỡ chối từ, vui vẻ ăn miếng thịt ấy, nhìn ông Tăng với ông hoàng ngồi kia, thật chẳng biết ai mới là rể bác Ba. Ông rể Hoàng Gia ngồi bên cạnh, lặng lẽ quan sát, trong đầu như đang tính toán gì đó, nở nụ cười sắc lạnh như băng.

Ngay sau bữa tiệc, khi men rượu đế vẫn còn râm ran trong huyết quản, đoàn người lục tục kéo nhau ra xe. Bác Ba Sông Bé nhất quyết mời Tăng Minh Phụng ngồi chung chiếc xe UAZ “đít vuông” – chiếc xe tróc sơn, bám đầy bụi đỏ nhưng lại là biểu tượng của quyền lực tối thượng tại vùng đất này. Có tài xế cầm lái, ông rể Hoàng Gia và Liên Khui Thìn ngồi ghế phụ, còn hai “ông vua” ngồi băng sau. Chiếc xe gầm rú, xé toạc những cánh rừng cao su già cỗi để tiến vào Dĩ An.

Còn tiếp….
 
Ngọn lửa vốn dĩ dùng để nấu cơm nay quay lại thiêu rụi chính người nhóm bếp. Khi bạn cố gắng dùng tốc độ của dòng nước (tín dụng ngắn hạn) để nuôi dưỡng sự tĩnh lặng của đất đai (tài sản dài hạn), bạn đang chống lại quy luật tự nhiên.
Why

HUYỀN THOẠI VỀ ĐẠI GIA TĂNG MINH PHỤNG (Phần 3): TỪ BỮA TIỆC ĐƯỜNG MẬT Ở RỪNG CAO SU ĐẾN CHIẾC QUẠT GÃY TRÊN BÃI BÀU TRŨNG
*********************************************

Vào những ngày tháng Bảy oi ả của năm 1993, khi những cơn mưa chưa kịp gột rửa lớp bụi đỏ dày đặc phủ lên tỉnh Sông Bé, một đoàn xe Mercedes đen bóng, dài như một con trăn khổng lồ, trườn qua những cánh rừng cao su bạt ngàn để tiến vào Dĩ An.

Ngồi trên chiếc xe dẫn đầu là Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn. Bảy Phụng nhìn qua cửa kính, thấy đất ở đây đỏ au như thịt sống. Ông không nhìn thấy bụi bặm, ông nhìn thấy một công trường vĩ đại. Bên cạnh ông, Liên Khui Thìn đang nhẩm tính trong đầu những con số lãi suất, mắt ánh lên vẻ lạnh lùng của một con cá mập đánh hơi thấy mùi máu trong nước.

Họ đến để gặp “Chúa Đất”. Đón tiếp họ tại dinh thự là Bác Ba Sông Bé – người đàn ông có nụ cười hào sảng của một lão nông tri điền nhưng đôi mắt lại sắc sảo như mắt diều hâu. Đứng lùi lại phía sau một bước, trầm mặc như một tảng đá ong, là ông rể Hoàng Gia – thời điểm đó đã lập công ty do nhà nước kiểm soát, người đang nắm giữ chiếc chìa khóa của kho tàng đất đai tỉnh nhà. Gã không cười, cũng không nói. Gã đứng đó như một tảng đá tảng, đôi mắt nheo lại quan sát từng cử chỉ của con mồi, tay chắp sau lưng, ngón tay xoay nhẹ chiếc nhẫn vàng to bản – tín vật của quyền lực ngầm.

Bác Ba Sông Bé ôm chầm lấy Tăng Minh Phụng như người anh em thất lạc lâu ngày. Tiếng cười của ông vang động cả hội trường, làm rung rinh những lá cờ đỏ treo trên tường.

- Trời đất quỷ thần ơi! Chú Bảy đây rồi! Qua đợi chú mà ruột gan nó nóng như lửa đốt rừng! – Bác Ba vỗ vai Phụng chan chát.

Ông ôm chầm lấy Phụng, vỗ chan chát vào lưng vị đại gia Sài Gòn, mạnh đến mức Phụng suýt ho sặc sụa.

- Chú nhìn xem! – Bác Ba chỉ tay ra vùng đất hoang vu trước mặt, giọng nghẹn ngào, rưng rưng nước mắt.

- Đất Sông Bé mình mênh mông cò bay thẳng cánh, mà dân mình nghèo quá chú Bảy ơi. Qua đêm nào cũng vắt tay lên trán, mơ có một ông Tiên nào đó về đây, biến sỏi đá thành cơm. Mà nay Tiên về thật rồi! Chú chính là cứu tinh, là Bồ-tát sống của bà con xứ này!

Tăng Minh Phụng, người đàn ông vốn quen với sự lạnh lùng của thương trường, bỗng chốc mềm lòng trước sự “chân tình” mộc mạc ấy. Cái tôi vĩ cuồng của ông được bơm căng như quả bóng bay.

Kéo tay Phụng vào phòng tiệc, nơi đã bày sẵn những món đặc sản rừng quý hiếm nhất – tê tê, rắn hổ, những linh vật của đất đai – Bác Ba Sông Bé rót một chén rượu đế đầy tràn, rồi buông ra một câu nói:

- Uống chén này với qua! Nói thiệt với chú Bảy, qua nhìn tướng mạo chú, qua ưng cái bụng lắm. Trán cao, mắt sáng, lại có tâm với dân với nước. Qua giận ông Trời sao sanh chú ra muộn quá.

Ông ngừng lại, thở dài thườn thượt, liếc mắt nhìn sang ông rể Hoàng Gia đang ngồi im lặng rót rượu, rồi quay lại nhìn Phụng với ánh mắt tiếc nuối tột cùng:

- Giá mà qua còn đứa con gái nào nữa, qua gả ngay cho chú! Để chú về làm rể quý của cái xứ Sông Bé này, thì cha con ta hợp lực, có phải là bá chủ cả cái miền Nam này không? Tiếc thay! Mà nghe nói chú đã có gia đình rồi, lấy cô tiểu thư con gái nuôi nhà cụ lớn chứ lị. Qua đến sau đến muộn, lỡ cái duyên tốt này gòi. Phận mỏng duyên thưa!

Câu nói ấy như một mũi dao ngọt ngào cắm phập vào tim Tăng Minh Phụng. Nó vừa nâng tầm Phụng lên hàng “người nhà”, vừa khéo léo gạt bỏ mọi rào cản đề phòng. Phụng cảm thấy mình được yêu thương, được trọng vọng như con cái trong nhà.

Nhưng ở góc bàn, Liên Khui Thìn khẽ rùng mình. Thìn nhìn thấy nụ cười nửa miệng của ông rể Hoàng Gia. Ông con rể thật sự đang ngồi đó, nghe cha vợ mình ước ao có một thằng con rể khác, mà mặt không hề biến sắc.

Ông rể Hoàng Gia nâng ly lên, hướng về phía Tăng Minh Phụng, giọng nói trầm đục như tiếng vọng từ dưới giếng sâu:

- Anh Bảy à, tuy anh không làm rể ba em, nhưng anh về đây đầu tư, thì anh em mình còn thân hơn ruột thịt. Em có đất, anh có tiền. Anh cứ coi Sông Bé như nhà của anh. Em sẽ dọn đường, quét lá, trải thảm đỏ cho anh đi.

Họ nâng ly. Rượu đế cay xé họng, chảy vào ruột gan như lửa. Tăng Minh Phụng uống cạn, cảm thấy dòng máu anh hùng ca đang cuộn chảy. Ông đập tay xuống bàn, tuyên bố dõng dạc:

- Bác Ba thương con như vậy, con xin hứa! Con sẽ vay ngân hàng, con sẽ đổ vào đây ngàn tỷ. Con sẽ biến cái tỉnh nhà mình thành Hồng Kông thứ hai!

Bác Ba Sông Bé cười, nụ cười híp mí che đi ánh nhìn sắc lạnh. Ông gắp cho Phụng một miếng thịt thú rừng còn đỏ hỏn:

- Ăn đi con! Ăn cho có sức mà cày!

Tăng Minh Phụng không nỡ chối từ, vui vẻ ăn miếng thịt ấy, nhìn ông Tăng với ông hoàng ngồi kia, thật chẳng biết ai mới là rể bác Ba. Ông rể Hoàng Gia ngồi bên cạnh, lặng lẽ quan sát, trong đầu như đang tính toán gì đó, nở nụ cười sắc lạnh như băng.

Ngay sau bữa tiệc, khi men rượu đế vẫn còn râm ran trong huyết quản, đoàn người lục tục kéo nhau ra xe. Bác Ba Sông Bé nhất quyết mời Tăng Minh Phụng ngồi chung chiếc xe UAZ “đít vuông” – chiếc xe tróc sơn, bám đầy bụi đỏ nhưng lại là biểu tượng của quyền lực tối thượng tại vùng đất này. Có tài xế cầm lái, ông rể Hoàng Gia và Liên Khui Thìn ngồi ghế phụ, còn hai “ông vua” ngồi băng sau. Chiếc xe gầm rú, xé toạc những cánh rừng cao su già cỗi để tiến vào Dĩ An.

Còn tiếp….
Đây tml, bơm tiền vào những thứ như đất, thổi giá mọi thứ. Khác nào con vượn vin bây giờ, chẳng qua lão phụng là đứa đi tiên phong bày trò cho đám sau học theo để rồi giờ đất nước như thế đây
 
Phần 5 ( phân đoạn 3)

Tăng Minh Phụng ôm mặt khóc tu tu. Tiếng khóc của con hổ bị thương, nhận ra mình đã cắn nát chính tổ ấm của mình. Trong góc phòng, bóng tối dường như cô đặc lại, hình thành nên bóng dáng mờ ảo của người vợ hiền thục đang ngồi ký giấy, nụ cười tin cậy của bà như ngàn mũi kim châm vào tim Phụng.

Liên Khui Thìn thở dài, tiếng thở dài nặng trĩu của một trí thức nhìn thấu thời cuộc. Ông rót cho Phụng thêm một ly rượu, rồi tự rót cho mình.

- Bảy à, đừng trách mình nữa. Nghiệp duyên cả thôi.

Phụng ngước mắt lên, hỏi câu hỏi đã dằn vặt ông bấy lâu:

- Còn anh, anh Sáu. Anh khác ngộ. Ngộ là dân con buôn Chợ Lớn, ít học, máu liều. Còn anh là trí thức, là Kiến trúc sư danh tiếng. Anh có đầu óc, anh có lý tính. Tại sao... tại sao anh lại đi theo ngộ cái mộng địa ốc điên rồ này? Để giờ đây thân bại danh liệt?

Thìn xoay ly rượu trên tay, nhìn chất lỏng màu hổ phách sóng sánh:

- Vì tui cũng là con người, Bảy à. Kiến trúc sư thì cũng có giấc mơ. Tui chán vẽ nhà trên giấy rồi. Tui muốn vẽ những thành phố thật, những khu công nghiệp thật trên đất nước mình. Ông cho tui thấy cái giấc mơ đó. Ông có lửa, tui có kiến thức. Tui tưởng hai thằng mình hợp lại sẽ dời non lấp bể.

Thìn cười chua chát, nụ cười của kẻ trí thức ngây thơ trước bàn cờ thế cục:

- Nhưng tui quên mất một điều: Thời thế tạo anh hùng, nhưng thời thế cũng giết anh hùng. Tui với ông giống như hai con thiêu thân. Thấy ánh đèn sân khấu hào nhoáng quá, rực rỡ quá thì lao đầu vào. Chúng ta say ánh sáng mà quên mất sức nóng. Cháy thành tro... cũng là cái số. Nhưng Bảy nè... – Giọng Thìn đanh lại.

- Nghe tui nói. Dù ngày mai mình có thắng hay thua, có xảy ra chuyện gì, cũng... đừng quỳ gối. Đừng khóc lóc, đừng van xin, đừng đổ lỗi cho ai hết. Mình là doanh nhân. Mình đã dám chơi ván bài lớn nhất nước này, thì khi ngã ngựa, mình phải ngã cho sang. Đừng để đám “quan lại” ăn trên ngồi trốc đó cười mình hèn. Đừng để đám hậu thế nhìn vào nói thằng Phụng, thằng Thìn là phường lừa đảo hèn nhát. Hãy ngẩng đầu lên mà đi vào tù. Hãy để cho lịch sử phán xét: Chúng ta có thể sai về luật pháp, nhưng chúng ta không sai về khát vọng.

Lời nói của Thìn như gáo nước lạnh tạt vào mặt, nhưng cũng như luồng điện xốc lại tinh thần cho Tăng Minh Phụng. Phụng lau khô nước mắt. Đôi mắt đỏ ngầu bỗng rực sáng trở lại cái thần thái của “Vua Công Thương” ngày nào. Ông đứng dậy:

- Được! Anh Sáu nói phải. – Phụng nâng ly, giọng vang rền.

- Ngộ hứa với anh. Chơi ván bài này, tôi thua Trời, thua Vận, chứ không thua Tài. Ngày mai ra sao mặc kệ. Đêm nay, anh em mình uống cạn ly này. Kiếp sau nếu có làm lại, ngộ vẫn muốn làm anh em với Sáu Thìn!

- Cạn!

Hai cái ly cụng vào nhau. Keng! Âm thanh giòn tan, vang vọng trong căn phòng vắng lặng.

Sáng ngày 24/03/1997. Sài Gòn nắng đẹp một cách tàn nhẫn. Giờ G đã điểm. Tăng Minh Phụng thức dậy sớm, mặc bộ vest màu xanh đen được may đo thủ công từ Ý, thắt chiếc cà vạt lụa đỏ - màu của may mắn. Ông đứng trước gương, chải lại mái tóc bồng bềnh, xịt một chút nước hoa đắt tiền rồi sớm có mặt tại công ty nhà xưởng.

Ông không tin mình sẽ bị bắt. Trong tư duy của ông vẫn tin rằng mình là “con nợ quá lớn để sụp đổ”. Ông tin rằng cuộc họp sáng nay với các quan chức Ngân hàng Nhà nước chỉ là để “giãn nợ”. Ông tin rằng chỉ cần ông còn đứng vững, hệ thống sẽ không dám rút ván.

- Đi thôi! Hôm nay tao sẽ thuyết phục họ. Minh Phụng không thể chết. – Phụng nói với tài xế, giọng đầy uy lực như mọi ngày.

Nhưng khi ông vừa bước ra phòng tiếp khách để chuẩn bị rời đi, một âm thanh kinh hoàng vang lên. “XOẢNG!!!”

Cả căn phòng rung chuyển. Chiếc bể cá khổng lồ dài 3 mét, nơi nuôi con cá Rồng Huyết Long – linh vật trấn trạch trị giá hàng chục cây vàng của Tăng Minh Phụng – bỗng nhiên nổ tung. Không ai chạm vào. Không có động đất. Nó tự vỡ.

Nước tràn ra lênh láng khắp sàn nhà đá cẩm thạch, cuốn theo những mảnh kính sắc nhọn. Con Huyết Long bị hất văng ra ngoài. Nó giãy đành đạch trên thảm, cái miệng há to đớp khí, lớp vảy đỏ rực của nó dần chuyển sang màu xám ngoét của tử khí. Phụng đứng chôn chân, nhìn con cá đang giãy chết dưới chân mình. Ông thấy như chính mình đang nằm đó, ngộp thở, khô cạn và tuyệt vọng.

- Rồng gãy cánh rồi... Hết rồi. Nó báo mình đi trước. – Phụng lẩm bẩm, mặt cắt không còn giọt máu.

Đúng lúc đó, từ ngoài cổng, tiếng còi hụ vang lên. “Ò... e... Ò... e...” Tiếng còi xé toạc không gian yên tĩnh của buổi sáng. Không phải một xe, mà là cả một đoàn xe đặc chủng. Những bước chân rầm rập của lực lượng Cảnh sát Cơ động bắt đầu bao vây tòa nhà.

Cánh cửa bật mở. Những sắc phục màu xanh tràn vào. Lệnh bắt tạm giam và khám xét khẩn cấp được đọc lên. “Tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa”. Tăng Minh Phụng không chống cự. Ông đưa hai tay ra trước, để chiếc còng số 8 lạnh ngắt bập vào cổ tay mình. “Cạch!” Tiếng kim loại va chạm chấm dứt mười mấy gần hai chục năm tung hoành ngang dọc của một trùm kinh doanh.

Khi Phụng bị dẫn giải ra xe, một cảnh tượng chấn động diễn ra. Hàng ngàn công nhân của xưởng may Minh Phụng – những người đang làm việc ca chiều – ùa ra cửa sổ, tràn xuống sân. Họ không nhìn ông như một tội phạm. Họ nhìn ông như một người cha thất thế.

- Chú Bảy! Chú Bảy ơi!

- Đừng bắt Chú Bảy!

Tiếng khóc vang lên nức nở. Những bàn tay chai sần vẫy theo trong vô vọng. Trong mắt họ, ông có thể lừa ngân hàng, lừa nhà nước, nhưng ông chưa bao giờ lừa công nhân một đồng lương, một bữa cơm.

Trước khi bước lên xe thùng, Tăng Minh Phụng xin dừng lại một giây. Ông ngoái đầu nhìn lên nóc tòa nhà. Tấm biển hiệu MINH PHỤNG với logo hình chiếc máy may cách điệu vẫn đứng sừng sững giữa trời xanh. Ông nhìn nó lần cuối, ánh mắt vừa tự hào vừa đau đớn. Đứa con tinh thần của ông, đế chế của ông... nay mai thôi sẽ bị gỡ bỏ, bị sơn đè lên bằng những cái tên khác. Khi chân ông vừa bước xuống bậc tam cấp cuối cùng, bầu trời Sài Gòn đang nắng gắt bỗng tối sầm lại. Những đám mây đen vần vũ kéo đến nhanh như một cái chớp mắt của thần linh.

“ÀO!!!” Một cơn mưa trái mùa trút xuống xối xả. Tháng Ba ở phương Nam vốn là cao điểm mùa khô, trời đất nứt nẻ, vậy mà mưa lại tuôn như thác. Người đời gọi đó là “Thiên Khốc” (Trời khóc). Nước mưa hòa lẫn với nước mắt của hàng ngàn công nhân đang đứng bên đường, tạo thành một dòng sông bi thương chảy tràn qua sân nhà máy.

Ở một chiếc xe đặc chủng khác, bà Sương vợ ông cũng bị dẫn giải ra. Bà không khóc. Bà điềm tĩnh đến lạ lùng, đúng như lời dặn của chồng: “Ngã ngựa cho sang”. Nhưng khi hai chiếc xe tù chạy song song nhau một đoạn ngắn trước cổng công ty, hai vợ chồng nhìn thấy nhau qua lớp kính lưới sắt.

Không ai nói được lời nào. Phụng nhìn vợ, ánh mắt như muốn quỳ xuống: “Anh xin lỗi. Anh kéo em vào ngục tù”. Bà Sương nhìn chồng, ánh mắt dịu dàng nhưng cương nghị: “Em không trách mình. Vợ chồng mình đồng cam cộng khổ”. Hai chiếc xe rẽ sang hai hướng. Một cuộc chia ly không hẹn ngày về. Đó là cái nhìn cuối cùng của họ khi còn là những người tự do.

Đoàn xe hú còi inh ỏi, lao vun vút trên đường phố Sài Gòn để về trại giam T16. Khi xe đi ngang qua Ngã tư Bình Thới (Quận 11) – nơi giao nhau giữa những con phố sầm uất của Chợ Lớn. Tăng Minh Phụng ngồi trong xe, bỗng nhiên rùng mình. Da gà nổi lên dọc sống lưng. Thời gian như bị ai đó bấm nút “tua lại”.

Trong ảo ảnh chập chờn của nắng chiều hòa với nước mưa, giữa dòng xe cộ đông đúc, Phụng nhìn thấy ở góc ngã tư có một người đàn bà. Bà ta mặc áo bà ba cũ nát, tay cầm xấp vé số, đội cái nón lá rách tươm. Bà ta không mời người đi đường mua vé số. Bà ta đứng yên, nhìn thẳng vào chiếc xe tù đang chở Phụng. Bà ta... vẫy tay chào ông. Và mỉm cười. Một ký ức bị chôn vùi mười mấy năm trước bỗng đội mồ sống dậy, rõ mồn một như mới hôm qua: “Con chỉ là Thủ kho của Trời Phật. Con cầm tiền tỷ, nhưng tiền đó là để cứu nhân độ thế. Nếu con tham lam, muốn làm vua một cõi, thì ngã tư này chính là nơi con bắt đầu, và cũng là nơi con kết thúc”.

Phụng chết lặng. Ngã tư Bình Thới – nơi ông khởi nghiệp với tổ hợp may đầu tiên. Và hôm nay, xe tù chở ông đi qua đúng ngã tư này để đưa ông về cõi chết. Vòng tròn định mệnh đã khép lại. Điểm khởi đầu cũng chính là điểm kết thúc.

Tăng Minh Phụng ngồi trong xe, hai tay bị còng, đầu gục xuống giữa hai đầu gối. Ông đau đớn, hối tiếc tột cùng. Nước mắt trào ra, không kìm nén được nữa. Ông không khóc vì sợ tù tội. Ông khóc vì sự linh ứng đáng sợ của nhân quả.

- Mẫu ơi... con sai rồi. Con đã về lại vạch xuất phát rồi...

Chiếc xe lao qua ngã tư, bỏ lại sau lưng bóng người đàn bà bán vé số dần tan biến vào hư vô. Chỉ còn lại tiếng còi hụ vang vọng, nghe như tiếng cười khanh khách của số phận đang giễu cợt một kiếp người.

Trong một không gian khác, tại Hồng Kông. Đại sư Trần Lãng đang ngồi trong mật thất, đối diện với bàn thờ Tổ. Suốt mấy tháng nay, ông bế quan tu luyện, ngày đêm niệm “Thanh Nang Kinh” để mong trì hoãn hạn kiếp cho Tăng Minh Phụng. Trên tay ông là chuỗi tràng hạt bằng gỗ trầm hương ngàn năm – vật tùy thân đã theo ông tu tập suốt 50 năm qua. Bỗng nhiên... “PẶC!” Sợi dây lụa đỏ xâu chuỗi hạt, vốn dĩ bền như dây cước, tự nhiên đứt phựt. 108 hạt trầm hương rơi lả tả xuống nền gạch, nảy lên lách cách, lách cách như tiếng xương cốt gãy vụn.

Trần Lãng giật mình mở mắt. Tim ông thắt lại một cái đau điếng. Ông ngước nhìn lên bàn thờ. Một cảnh tượng kinh hoàng diễn ra: Trong bát hương chính giữa, nơi ông đặt một hình nhân thế mạng bằng giấy (ghi tên tuổi Tăng Minh Phụng) kèm với lá bùa vàng trấn mệnh (được vẽ bằng máu của ông và Phụng), ngọn lửa bỗng dưng bùng lên dữ dội. Không có gió, không có mồi lửa. Lửa tự phát từ bên trong bát hương, cháy phừng phực với ngọn lửa màu xanh lam ma quái.

Một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng Trần Lãng, rồi xộc thẳng vào tim phổi.

- Ực!

Lồng ngực ông như bị một bàn tay vô hình bóp nát. Một vị tanh nồng dâng lên cổ họng. “PHỤT!” Vị Quốc sư lừng lẫy Hương Cảng, người từng xoay chuyển vận mệnh cho bao tỷ phú, nay không kìm được nữa, phun ra một búng máu tươi đỏ lòm, nhuộm đỏ cả vạt áo tràng lam và đống tràng hạt vương vãi dưới đất.

Trần Lãng ngã gục xuống, tay bấu chặt vào mép bàn thờ, mặt tái mét như sáp nến.

- Xí-phu! Xí-phu! (Sư phụ! Sư phụ!) – Đám đệ tử đứng hầu bên ngoài nghe tiếng động lạ, hốt hoảng chạy xộc vào. Thấy thầy mình nằm trong vũng máu, bát hương bốc cháy nghi ngút, ai nấy đều mặt cắt không còn giọt máu, chân tay bủn rủn.

- Giu cau-ù-che! Fai-tí! Xí-phu chẩu-fo dập-mó la! (Gọi xe cứu thương! Mau lên! Thầy bị tẩu hỏa nhập ma rồi!)

Trần Lãng xua tay, hơi thở thoi thóp như ngọn đèn trước gió. Ông nhìn vào đống tro tàn trên bát hương, khóe miệng rỉ máu nhưng vẫn cố nhếch lên một nụ cười chua chát:

- Mừ-hổ... Mừ-hổ giu... Mố-dụng ca. Dùy-n là... Chân-hẩy dùy-n là. Dùy xỉ... Mòn po. Thín-mình nàn quầy. Ngó dĩ mình uồn mình, tàn-hẩy ní-co dânh ke dịp-lịch thai chùng, Pánh-lòn Mụ mừ-phon qua khụi... Ní-tí hẩy bou-ying! Ngó... ngó diu cánh khụi hằng la... (Đừng... đừng gọi... Vô ích thôi. Hết rồi... Hết thật rồi. Cá đã chết, lưới đã rách. Số Trời không thể kháng lại. Ta dùng dương thọ đổi mạng, nhưng Nghiệp lực của người này quá nặng, bề trên không tha... Đây là nghiệp báo! Ta... ta phải đi theo hắn thôi...)

Nói xong, ông lịm đi trong vòng tay hoảng loạn của các đệ tử. Bên ngoài cửa sổ biệt thự, bầu trời Hồng Kông cũng bắt đầu vần vũ mây đen, sấm chớp rền vang, hòa nhịp cùng cơn mưa oan nghiệt ở Sài Gòn. Một đại sư phong thủy, một đại gia công thương, rồi ông trời sẽ trêu đùa nghiệt ngã với số phận của họ như thế nào? Xem Phần 6 sẽ rõ… (có lẽ cũng là Phần cuối).

Bài học cần nhắn nhủ: Danh vọng và tiền tài giống hệt như kẹo chỉ tơ hồng ấy: rực rỡ, ngọt ngào, được kéo giãn đến tận cùng giới hạn của vật lý. Nhưng bản chất của nó là gì? Là đường và khí. Nó rỗng tuếch bên trong. Khi ta cố kéo giãn lòng tham và quy mô doanh nghiệp vượt quá “độ bền vật liệu” của phước đức, nó sẽ đứt. Kẹo chỉ gặp gió thì tan, cơ nghiệp gặp vận thì nát. Đừng xây lâu đài trên những sợi tơ đường mỏng manh. Hãy xây trên cái “gấu quần” chắc chắn của người thợ may. Cái gấu quần ấy tuy thô sơ, nhưng nó giữ được “ngọc” (cốt lõi/sinh mạng). Hình ảnh Tăng Minh Phụng đi qua ngã tư Bình Thới – nơi khởi nghiệp cũng là nơi kết thúc – là minh chứng hùng hồn cho câu nói của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: “Phản giả Đạo chi động” (Trở lại là cái động của Đạo). Vạn vật trong vũ trụ đều đi theo đường tròn. Anh xuất phát từ cát bụi, anh sẽ trở về cát bụi. Anh xuất phát từ lòng tham muốn làm vua một cõi, anh sẽ bị trả về đúng vạch xuất phát để học lại bài học về sự khiêm cung. Đừng bao giờ khinh thường điểm xuất phát của mình. Và khi đang ở đỉnh cao, hãy nhớ đường về. Nếu Phụng biết dừng lại khi đi hết nửa vòng tròn (lúc giàu có vừa đủ), ông đã viên mãn. Nhưng ông cố đi tiếp nửa vòng còn lại (tham vọng bá chủ), nên ông buộc phải quay về điểm 0. Đoạn Phụng gọi điện thoại và nhận lại những tiếng “Thuê bao...”, “Đi vắng...” là bức tranh trần trụi nhất về thuyết lợi ích. Trong bàn tiệc cuộc đời, khi rượu ngon còn đầy, ai cũng là huynh đệ. Khi chén rượu rơi vỡ, nhìn lại chỉ còn người vợ tào khang và những đứa con thơ. Đừng bao giờ hy sinh gia đình để đổi lấy những mối quan hệ xã hội. Bởi vì khi bão tố ập đến, xã hội sẽ đóng cửa thả chó, chỉ có gia đình là mở cửa đón ta về ăn bữa cơm cuối cùng. Cái chết của con cá Huyết Long và sự thổ huyết của đại sư Trần Lãng là đòn giáng mạnh vào mê tín dị đoan. Phong thủy, bùa chú, hay đổi mạng... chỉ là những kỹ thuật để “lách luật Trời” tạm thời. Nó giống như việc vay nóng tín dụng đen của Tâm linh. Khi nghiệp lực của một cá nhân cộng hưởng với cộng nghiệp (biến động thời cuộc/khủng hoảng kinh tế) quá lớn, thì không một ông Thầy nào đỡ nổi. Bát hương bốc cháy là lời cảnh cáo: Đừng mang tiền bạc trần gian ra để mặc cả với Luật Nhân quả. Lời dặn của Liên Khui Thìn: “Đừng quỳ gối. Chúng ta sai về luật pháp nhưng không sai về khát vọng” là điểm sáng nhân văn rực rỡ nhất. Con người hơn nhau không phải ở lúc thành công, mà ở thái độ khi thất bại. Chấp nhận cái sai, chấp nhận hình phạt, nhưng không đánh mất lòng tự trọng. Dù có rơi xuống vực thẳm, hãy rơi với tư thế của một phượng hoàng gãy cánh, chứ đừng rơi như một con sâu cái kiến. Sự dũng cảm nhận trách nhiệm chính là chiếc phao cứu sinh cuối cùng vớt vát lại danh dự cho hậu thế.

(Còn tiếp)…
 
Phần 6 ( phân đoạn 1)
PHIÊN TÒA THẾ kỷ

Ngay sau chiều định mệnh tháng 3/1997, khi cơn mưa trái mùa ở Sài Gòn chưa kịp khô, Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn đã bị điệu lên một chuyến chuyên cơ đặc biệt. Đó là chuyến bay di lý (chuyển vùng). Một chuyến đi không có vé khứ hồi. Máy bay hạ cánh xuống Hà Nội trong một đêm gió mùa Đông Bắc tràn về muộn. Tăng Minh Phụng, người đàn ông cả đời sống dưới ánh mặt trời rực rỡ của phương Nam, lần đầu tiên cảm nhận được cái lạnh thấu xương của phương Bắc.

Đoàn xe tù chạy thẳng về Trại giam T16 – nằm trơ trọi giữa đồng ruộng heo hút của tỉnh Hà Tây (cũ). Giới giang hồ và tội phạm kinh tế gọi nơi đây là “Lò Bát Quái”. Bởi vì vào đây, vàng thau sẽ bị ngọn lửa của nghiệp vụ nung chảy, mọi bí mật dù chôn sâu dưới 9 tầng địa ngục cũng bị vắt kiệt ra bằng hết.

Cánh cửa buồng giam riêng biệt đóng sầm lại. “Rầm!” Âm thanh đó cắt đứt hoàn toàn sự kết nối của Phụng với thế giới bên ngoài. Không có Liên Khui Thìn, không có Phạm Nhật Hồng, không có vợ con. Chỉ có bốn bức tường đá lạnh lẽo và một ô cửa sổ nhỏ bằng bàn tay, nơi ánh sáng lọt vào một cách dè sẻn như lòng trắc ẩn của pháp luật lúc bấy giờ.

Mùa Hè năm 1997. Cái nóng của vùng đồng bằng sông Hồng hầm hập như thiêu như đốt. Buồng giam biến thành cái lò nung. Phụng ngồi trong đó, mồ hôi tuôn ra như tắm, nhưng ông không thấy nóng. Ông đang bận tính toán. Trong cơn ảo giác của sự cô độc, những mảng rêu mốc trên tường biến thành bản đồ quy hoạch. Những vết nứt trên sàn xi-măng biến thành những con đường ở các khu công nghiệp Bình Dương, Vũng Tàu. Ông dùng móng tay vạch lên tường những con số: Giá đất năm 96... Giá đất năm 97... Lãi suất phạt... Ông vẫn lạc quan một cách điên rồ. Ông tin rằng chỉ cần ông tính toán đúng, Nhà nước sẽ thấy tài sản của ông lớn hơn nợ, và ông sẽ được thả.

Mùa Đông năm 1998. Gió bấc luồn qua khe cửa rít lên từng hồi như tiếng oan hồn đòi mạng. Phụng co ro trong chiếc áo tù mỏng manh, da thịt tím tái. Cái lạnh của miền Bắc bào mòn sức lực của vị đại gia hào hoa ngày nào, biến ông thành một ông già tiều tụy, hốc hác. Nhưng đáng sợ hơn cái lạnh là sự tra tấn của ký ức. Các điều tra viên thay nhau xoay vòng hỏi cung. Sáng, trưa, chiều, tối.

- Lô đất này mua của ai?

- Tiền lại quả cho ai?

- Khoản vay này đi đâu?

Bộ não của Phụng bị “vắt kiệt” như một quả chanh. Ông phải nhớ lại từng bữa nhậu, từng cái bắt tay, từng vali tiền. Mỗi lời khai là một nhát dao cắt đứt thêm một mối quan hệ, đẩy thêm một người quen vào vòng lao lý. Đó là cực hình lớn nhất đối với một người trọng tình nghĩa như ông.

Một buổi sáng mùa thu, khi Phụng đang lẩm bẩm tính giá đất với con thạch sùng trên trần nhà, cai ngục mở cửa:

- Tăng Minh Phụng, ra gặp luật sư.

Tại phòng làm việc, một người đàn ông trung niên với gương mặt cương nghị, đôi mắt sáng và sắc sảo đang ngồi đợi. Đó là luật sư Bùi Quang Nghiêm. Không giống những luật sư chỉ làm cho xong chuyện, ông Nghiêm toát lên cái thần thái “quyết liệt và thấu cảm”. Ông nhìn Bảy Phụng, không phải nhìn một tội phạm, mà nhìn một thân chủ đang bị oan ức về định giá.

Vừa thấy luật sư, câu đầu tiên Phụng hỏi không phải là “Tôi có bị tử hình không?”, mà là:

- Anh Nghiêm! Anh nói với Tòa chưa? Đất Sông Bé của tôi lên giá chưa? Nếu bán theo giá thị trường thì tôi dư tiền trả nợ mà!

Luật sư Nghiêm nén tiếng thở dài. Ông nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc của Phụng, giọng trầm ấm nhưng dứt khoát:

- Anh Bảy, chuyện đất đai chúng tôi đang đấu tranh quyết liệt. Tôi sẽ không để họ định giá rẻ mạt tài sản của anh. Nhưng hôm nay, tôi có tin quan trọng hơn cho anh.

Phụng khựng lại, đôi mắt thâm quầng mở to:

- Tin gì? Vợ tôi... con Sương sao rồi?

Luật sư Nghiêm nhìn thẳng vào mắt Phụng, nói chậm rãi từng từ:

- Chị Sương được về rồi.

Tăng Minh Phụng như bị điện giật, toàn thân run bắn lên:

- Anh... anh nói sao? Về là sao?

- Chị ấy được tại ngoại hầu tra. Cơ quan điều tra xác định chị ấy chỉ là người ký thay, vai trò không quá nghiêm trọng. Hơn nữa, do chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với phụ nữ đang nuôi con nhỏ, họ cho chị ấy về nhà để khắc phục hậu quả và chăm sóc mấy đứa nhỏ. Chị ấy bị cấm đi khỏi nơi cư trú, nhưng anh yên tâm, chị ấy an toàn và đang ở bên các con. – LS Nghiêm giải thích.

Một khoảng lặng bao trùm căn phòng. Tăng Minh Phụng, người đàn ông đã không khóc khi bị còng tay, không khóc khi bị giam cầm trong cái lạnh cắt da, bỗng nhiên bật ra một tiếng nấc nghẹn ngào.

- Trời ơi...

Ông ôm mặt, bờ vai rung lên bần bật. Nước mắt tuôn ra qua kẽ tay, rơi xuống mặt bàn gỗ tạp. Đó không phải là nước mắt của sợ hãi. Đó là nước mắt của sự giải thoát. Gánh nặng ngàn cân trong lòng ông – nỗi ân hận vì đã kéo người vợ vô tội vào tù – bỗng chốc được trút bỏ.

- Cảm ơn... Cảm ơn Nhà nước... Cảm ơn anh Nghiêm... Vậy là con Sương nó sống rồi. Con tôi có mẹ rồi. Tôi chết cũng nhắm mắt. – Phụng nói trong tiếng nấc.

Trong khoảnh khắc đó, hình ảnh “đại gia ngàn tỷ” tính toán giá đất biến mất. Chỉ còn lại một người chồng, người cha bình thường. Luật sư Nghiêm ngồi lặng im, chứng kiến khoảnh khắc yếu lòng hiếm hoi của con mãnh thú bị sa cơ. Ông nhận ra, đằng sau những con số nợ nần khổng lồ kia, Tăng Minh Phụng vẫn giữ được một “cốt lõi nhân tính” nguyên vẹn.

Phụng ngẩng đầu lên, lau nước mắt, nụ cười méo xệch nhưng ánh lên niềm hy vọng:

- Anh Nghiêm, giờ anh muốn tôi khai gì, tôi khai hết. Muốn tôi nhận tội gì, tôi nhận hết. Miễn là vợ tôi được yên.

Bên ngoài song sắt trại T16, một tia nắng hiếm hoi của mùa đông xuyên qua tầng mây xám xịt, chiếu rọi xuống khoảng sân trại giam. Luật sư Nghiêm trầm ngâm một lúc, rồi quay lại thực tại tàn khốc của hồ sơ vụ án.

- Anh Bảy à, Viện Kiểm sát đang xoáy sâu vào chi tiết này: Anh đã lập ra hàng loạt công ty con “ma”. Tổng cộng 40 pháp nhân. Họ cáo buộc anh dùng các pháp nhân này để đảo nợ và lách luật.

- Anh Nghiêm, anh biết luật mà. Quy định của Ngân hàng lúc đó ngặt nghèo lắm: “Một doanh nghiệp không được vay quá 10% vốn tự có”. Vốn tôi có hạn, nhưng mộng tôi lớn bằng trời. Tôi muốn xây cả một thành phố, làm sao tôi dùng cái vốn cỏn con đó mà làm? Tôi buộc phải đẻ ra 40 đứa con (công ty con), mỗi đứa vay một ít, gom lại mới đủ sức dời non lấp bể. Tôi không lừa ai cả. 40 cái tên đó, cuối cùng cũng chỉ quy về một mình Tăng Minh Phụng này chịu trách nhiệm trả nợ thôi. – Tăng Minh Phụng cười buồn, ánh mắt nhìn xa xăm qua khung cửa sổ đầy bụi.

Luật sư Nghiêm gật đầu, lòng nặng trĩu.

- Thôi, anh nghỉ ngơi đi. Lát nữa sẽ có anh Nguyễn Minh Tâm vào. Anh ấy cần rà soát lại toàn bộ danh mục tài sản của anh. Đây là lá bài sinh tử của chúng ta.

Cánh cửa sắt lại mở. Luật sư Nguyễn Minh Tâm bước vào. Khác với vẻ sương gió và tình cảm của LS Nghiêm, LS Tâm mang phong thái của một học giả: Điềm tĩnh, chỉn chu, tay xách cặp táp chứa đầy giấy tờ và máy tính. Ông ngồi xuống, chỉnh lại gọng kính, mở cuốn sổ tay ra. Không khí trong phòng giam bỗng chốc trở nên nghiêm trang như một sàn giao dịch chứng khoán.

- Chào anh Bảy. Thời gian không còn nhiều. Chúng ta cần hệ thống lại toàn bộ tài sản để chứng minh khả năng thanh toán. Anh nhớ được bao nhiêu?

Trong giây phút ấy, một điều kỳ diệu đã xảy ra. Tăng Minh Phụng nhắm mắt lại. Bóng tối của phòng giam T16 tan biến. Trước mắt ông hiện ra tấm bản đồ miền Nam Việt Nam rực rỡ ánh sáng. Bộ não của ông, vốn bị vắt kiệt bởi những cuộc thẩm vấn, bỗng nhiên khởi động lại như một siêu máy tính. Ông không cần sổ sách. Ông chính là sổ sách.

Phụng bắt đầu đọc, giọng vang vọng như một người đang đọc sấm truyền:

- Ghi đi anh Tâm! Tại Sài Gòn: 169 biệt thự. Địa chỉ: 230 Nguyễn Thị Minh Khai, biệt thự Pasteur, biệt thự Tú Xương... Giá mua năm 95 là... Giá thị trường hiện tại là... Tại Bình Dương: 1,2 triệu mét vuông nhà xưởng. Khu công nghiệp Sóng Thần, dãy A, dãy B... Tại Vũng Tàu, Lâm Đồng: 2,6 triệu mét vuông đất chuyên dùng. Lô đất Chí Linh, lô đất Bãi Dâu...

Luật sư Tâm ghi chép lia lịa, tay ông mỏi nhừ nhưng không dám dừng lại. Ông kinh ngạc tột độ. Làm sao một con người đang bị giam cầm, thiếu ăn thiếu ngủ, lại có thể nhớ chính xác đến từng mét vuông đất, từng đồng xu giá vốn của 78 đơn vị bất động sản rải rác khắp miền Nam như vậy? Đó không phải là trí nhớ. Đó là máu thịt. Tăng Minh Phụng đã khắc từng tấc đất vào vỏ não của mình.

Sau khi danh mục tài sản khổng lồ được liệt kê xong, LS Tâm dừng bút, thở dài. Ông nhìn Phụng với ánh mắt đầy lo âu – ánh mắt của một nhà tài chính nhìn thấy một vụ sụp đổ phi lý.

LS Nghiêm (lúc này đã quay lại) tiếp lời, giọng xót xa:

- Anh Bảy, danh mục này rất ấn tượng. Nếu bán được, dư sức trả nợ. NHƯNG... Chúng tôi đã gửi văn bản kiến nghị Tòa án và Viện kiểm sát cho định giá lại tài sản theo giá thị trường. Có điều Tòa vẫn giữ quan điểm dùng khung giá Nhà nước.

Tăng Minh Phụng sững sờ:

- Khung giá Nhà nước? Giá năm nào?

- Giá theo quy định cũ. Thấp hơn giá thị trường cả chục lần. – LS Tâm chua chát đáp.

Phụng cười, một nụ cười như mếu. Biến vàng thành rơm. Một lô đất Phụng mua 100 lượng vàng, ngân hàng định giá cho vay 70 lượng. Nay Phụng bị bắt, Tòa định giá theo khung nhà nước chỉ còn... 10 lượng. Từ chỗ “tỷ phú”, ông bỗng chốc biến thành kẻ “lừa đảo chiếm đoạt” số tiền chênh lệch khổng lồ kia.

Ánh mắt Phụng rực lên một ngọn lửa kiên định cuối cùng. Ông nắm chặt tay hai vị luật sư:

- Anh Nghiêm, anh Tâm à! Các anh ráng giúp tôi. Nói cho Hội đồng xét xử hiểu. Đất đai là sinh mệnh của tôi. Đừng để nó chết theo tôi. Hãy xin cho tôi được Tại ngoại, hoặc cho tôi Chỉ đạo từ xa. Chỉ cần cho tôi một cái điện thoại, tôi sẽ gọi cho các đối tác, bán đất theo giá thị trường. Tôi cam kết trả đủ gốc lãi cho ngân hàng, thậm chí còn dư tiền nộp ngân sách.

Đến lúc này, Bảy Phụng vẫn tin mình không thể chết, vì ông là “con nợ vĩ đại”. Ông có ngờ đâu đó chỉ là tư duy kinh tế của ông, nó khác nhiều với logic ổn định trật tự thời bấy giờ. Đối với thượng tầng, đôi khi việc “xử bắn một con nợ vĩ đại” để răn đe xã hội và thiết lập lại trật tự còn quan trọng hơn việc thu hồi vài ngàn tỷ đồng. Ông vẫn cặm cụi viết đơn. Những lá đơn đẫm nước mắt và tâm huyết, vẽ ra các phương án tài chính sắc sảo để cứu vãn tình thế. Những lá đơn ấy, ông gửi đi với niềm tin mãnh liệt, mà không biết rằng chúng đang bay vào khoảng không vô định, giống như những tờ tiền âm phủ bị gió cuốn đi ở ngã tư Bình Thới năm nào.

Mùa Hè năm 1999. Sau hai năm bị giam cầm trong cái lạnh của trại T16, Tăng Minh Phụng được đưa trở lại Sài Gòn để chuẩn bị cho phiên tòa sơ thẩm. Chuyến xe tù lăn bánh qua những con phố quen thuộc của Hòn ngọc Viễn Đông. Nhưng Sài Gòn trong mắt Phụng lúc này sao lạ quá. Những tòa nhà cao tầng mới mọc lên, những tấm biển quảng cáo rực rỡ... tất cả đều quay lưng lại với ông. Ông giống như một hồn ma trở về thăm lại dương gian, thấy cảnh cũ người xưa nhưng mình đã không còn thuộc về thế giới này nữa.

Tháng 5/1999. Tòa án Nhân dân TP.HCM nằm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa biến thành một “Đấu trường La-mã” thời hiện đại. Chưa bao giờ lịch sử tố tụng Việt Nam chứng kiến một vụ án quy mô như thế: 77 bị cáo, hàng trăm luật sư và người có quyền lợi liên quan. Hội trường xét xử chật ních, người ta phải kê thêm ghế nhựa dọc các lối đi. An ninh thắt chặt ba vòng bốn lớp. Những sắc phục công an dày đặc như một bức tường xanh ngăn cách thế giới tự do và thế giới tù tội.
 
Phần 6 ( phân đoạn 2)
Bên ngoài cổng tòa, hàng ngàn người dân Sài Gòn tụ tập. Họ đứng chật kín vỉa hè, leo lên cả cây xanh, bám vào hàng rào sắt. Họ nín thở lắng nghe từng lời thẩm vấn vọng ra từ những chiếc loa phóng thanh rè rè. Trong đám đông đó, có những người từng hàm ơn Phụng, có những chủ nợ, và cả những kẻ hiếu kỳ muốn xem “Ông vua ngàn tỷ” giờ ra sao.

Tại khu vực dành cho bị cáo, một cuộc gặp gỡ chấn động diễn ra. Tăng Minh Phụng bị dẫn giải vào. Đi ngay sau ông là Liên Khui Thìn. Hai người đàn ông, hai kiến trúc sư của liên minh Minh Phụng–EPCO, sau 2 năm biệt giam, giờ mới nhìn thấy mặt nhau. Họ sững sờ. Phụng nhìn Thìn: Người trí thức hào hoa ngày nào giờ tóc hoa râm, da nhăn nheo, đôi mắt đờ đẫn sau cặp kính dày. Thìn nhìn Phụng: Con Phượng Hoàng lửa ngày nào giờ chỉ còn là một bộ khung xương gầy guộc trong bộ áo tù rộng thùng thình. Họ không nói gì, chỉ gật đầu chào nhau. Một cái gật đầu chứa đựng cả một thiên sử thi về sự sụp đổ. Họ soi thấy cái chết của chính mình trong hình hài của người kia.

Phụng ngồi xuống ghế bị cáo. Ông dáo dác nhìn quanh. Và ông thấy bà Sương. Vợ ông ngồi ở hàng ghế xa tít phía sau, lẫn trong đám người thân. Bà gầy đi nhiều, đôi mắt trũng sâu vì những đêm thức trắng lo âu. Hai ánh mắt chạm nhau qua rừng cảnh sát bảo vệ. Phụng cố nhếch mép cười. Ông muốn gửi một tín hiệu: “Anh ổn, em đừng lo”. Nhưng cơ mặt ông đã cứng đờ vì đau khổ. Nụ cười ấy méo xệch, trông như một vết nứt trên pho tượng đất nung sắp vỡ vụn. Bà Sương bụm miệng khóc, quay mặt đi không dám nhìn.

Chủ tọa phiên tòa bắt đầu đọc cáo trạng. Những con số vang lên như tiếng búa tạ giáng xuống đầu bị cáo:

- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN... Lạm dụng tín nhiệm... Tổng dư nợ: 5.000 - 6.000 tỷ đồng.

Cả phòng xử án ồ lên kinh hoàng. Loa phóng thanh bên ngoài cũng truyền đi con số khủng khiếp ấy khiến đám đông rùng mình. Vào năm 1997–1999, con số này tương đương hàng trăm triệu đô-la Mỹ, bằng ngân sách của cả một tỉnh lớn. Nó biến Tăng Minh Phụng từ một doanh nhân thành một “siêu tội phạm”.

Ngày tuyên án. Không khí đặc quánh như chì. Tăng Minh Phụng đứng trước vành móng ngựa, hai tay đan chặt vào nhau, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Ông vẫn nuôi một niềm tin ngây thơ: “Mình là con nợ vĩ đại. Mình còn sống thì mới trả được nợ. Họ sẽ cho mình Chung thân để cày trả nợ”. Chủ tọa dõng dạc tuyên bố:

- Bị cáo Tăng Minh Phụng... TỬ HÌNH.

- Bị cáo Liên Khui Thìn... TỬ HÌNH. Bị cáo Phạm Nhật Hồng… Nguyễn Tuấn Phúc… Nguyễn Ngọc Bích… Trần Quang Vinh… TỬ HÌNH… Tòa án cũng đề nghị với Viện Kiểm sát tuyên bị cáo Lê Minh Xử mức án tử hình, Viện Kiểm sát đề nghị xem xét giảm mức án… CHUNG THÂN.

Hai tiếng “TỬ HÌNH” rơi xuống, lạnh lùng và dứt khoát như lưỡi dao máy chém. Phụng sững sờ. Mặt ông biến sắc, chuyển từ đỏ sang trắng bệch, rồi xám ngoét. Đôi chân ông khuỵu xuống, phải bám vào vành móng ngựa mới đứng vững. Mọi tính toán, mọi hy vọng về “cơ chế cứu vớt” tan biến như bọt xà phòng.

Được nói lời sau cùng, Phụng không van xin tha mạng vì sợ chết. Ông van xin sự sống cho tài sản của mình. Giọng ông run rẩy nhưng đầy uất ức, vang vọng khắp phòng xử án:

- Thưa Hội đồng xét xử... Bị cáo không có ý định lừa đảo. Bị cáo chưa bao giờ tẩu tán một đồng nào ra nước ngoài. Tất cả tiền bạc đều nằm trong đất, trong nhà xưởng trên lãnh thổ Việt Nam. Tài sản của bị cáo là mồ hôi nước mắt, là tâm huyết cả đời. Nếu được định giá đúng theo giá thị trường, thì nó thừa sức trả nợ cho các ngân hàng, thậm chí còn dư thừa. Xin hãy cho bị cáo sống... sống để khắc phục hậu quả. Xin đừng biến tài sản ngàn tỷ thành sắt vụn, thành đất hoang...

Lời nói ấy rơi vào thinh không. Hội đồng xét xử giữ nguyên quan điểm: Áp dụng khung giá Nhà nước. Theo thước đo ấy, khối tài sản khổng lồ của Phụng bị định giá thấp trở thành đống rác vô giá trị. Khoản chênh lệch trở thành “tiền chiếm đoạt”. Phụng gục đầu xuống. Đó là nỗi đau lớn nhất của một thương nhân: Chết trên đống vàng bị hóa đá. Ông không chết vì nghèo. Ông chết vì sự lệch pha giữa hai hệ giá trị: Thị trường và Hành chính.

Sau bản án tử hình sơ thẩm chấn động, Tăng Minh Phụng bị di lý đến Khám Chí Hòa – tòa kiến trúc hình bát giác lừng lững giữa lòng thành phố, được xây theo thuật phong thủy “Kiếm Thụ trận” của người Pháp, nơi mà người đời đồn rằng: “Chỉ có đường vào, không có đường ra, trừ khi bay lên trời hoặc đi ngang qua áo quan”. Cánh cổng sắt nặng nề đóng lại sau lưng Phụng. Két... Rầm! Ông bị nuốt chửng vào cái bụng của con quái vật bê tông này. Không khí ở đây đặc quánh mùi ẩm mốc, mùi của hàng ngàn linh hồn tử tù vất vưởng qua bao thế hệ. Phụng nằm trong xà lim biệt giam dành cho tử tù, chân bị cùm vào thanh sắt dài. Mỗi đêm, ông nghe tiếng chuông nhà thờ vang vọng từ xa, tiếng chuông như đếm ngược sinh mệnh của một kẻ sa cơ thất thế.

Một buổi sáng mưa tầm tã, quản giáo mở cửa:

- Tăng Minh Phụng, thăm nuôi.

Phụng lê đôi chân xiềng xích ra phòng thăm gặp. Qua lớp kính ngăn cách mờ đục vì hơi nước, ông thấy một bóng người phụ nữ nhỏ bé, liêu xiêu. Là Sương. Bà đứng đó, tay run run đặt lên mặt kính. Bà không còn là phu nhân đài các đi xe Toyota ngày nào. Tóc bà đã lốm đốm, khuôn mặt hốc hác, đôi mắt trũng sâu chứa đựng cả một đại dương nước mắt.

- Mình ơi... – Phụng thốt lên, giọng vỡ vụn.

Cánh cửa ngăn cách được mở hé theo quy chế đặc biệt. Hai vợ chồng lao vào nhau. Không có ngôn từ nào diễn tả được cái ôm đó. Đó là cái ôm của hai người sống sót sau một trận sóng thần, tìm thấy nhau giữa đống đổ nát hoang tàn. Bà Sương vuốt ve khuôn mặt gầy rộc của chồng, ngón tay bà chạm vào những nếp nhăn mới hằn sâu trên trán ông.

- Ở ngoài sao rồi em? – Phụng hỏi khẽ.

Bà Sương nấc lên:

- Nát hết rồi anh ơi... Ngân hàng, thi hành án... họ xâu xé hết rồi. Họ đến niêm phong nhà xưởng, đuổi công nhân đi. Những cái máy may anh quý như vàng, họ bán sắt vụn cân ký. Những lô đất anh tâm huyết, họ rào lại, cỏ mọc lút đầu người. Em đứng ngoài nhìn mà đứt từng khúc ruột. Thà em ngồi tù thay anh, thà em chịu đói chịu khổ, còn hơn nhìn tâm huyết cả đời anh bị người ta giày xéo rẻ mạt như vậy!

Nghe vợ kể, Tăng Minh Phụng như bị ngàn mũi kim châm vào tim. Nỗi đau mất tài sản không bằng nỗi đau thấy vợ phải gánh chịu sự tàn nhẫn của thế thái nhân tình. Bất ngờ, Phụng khuỵu xuống. Ông quỳ ngay dưới chân vợ mình, giữa phòng thăm nuôi lạnh lẽo.

- Sương! Anh lạy em! – Phụng dập đầu xuống nền gạch, tiếng trán chạm đất nghe cộp một cái khô khốc.

- Anh là thằng chồng tồi. Anh tham vọng quá, anh ngu muội quá. Anh kéo em, kéo con vào cái địa ngục này. Anh ngàn lần xin lỗi em...

Bà Sương hốt hoảng quỳ xuống theo, vội vã nâng khuôn mặt đầm đìa nước mắt của chồng lên. Bà hôn lên đôi mắt đang nhắm nghiền vì đau đớn ấy.

- Mình đừng nói vậy! – Giọng bà kiên định lạ thường, ánh lên cái chất can trường của người phụ nữ Nam Bộ.

- Em chưa bao giờ hối hận. Ngày xưa em chọn mình khi mình còn đạp xe lôi đi giao đồ nhựa. Em yêu cái chí khí của mình, chứ đâu phải yêu cái đống tiền này. Nếu cho em chọn lại... dù biết trước kết cục là tù tội, là tan cửa nát nhà... em vẫn chọn làm vợ mình. Vợ chồng mình có phước cùng hưởng, có họa cùng chia. Mình đừng tự trách nữa, em đau lòng lắm...

Hai vợ chồng ôm nhau khóc giữa bốn bức tường giam. Trong khoảnh khắc ấy, tình cảm của họ rực sáng lên như một ngọn nến, xua tan đi cái ám khí của chốn lao tù. Đó là chút hơi ấm cuối cùng Phụng mang theo trước khi bão tố ập đến.

Hơi ấm của vợ vừa rời đi chưa lâu, thì cái lạnh của lòng người ập đến. Quản giáo thông báo có đoàn luật sư và thư ký đại diện cho “ông rể Hoàng Gia” (đối tác làm ăn cũ ở Bình Dương) vào gặp để bàn công việc. Phụng khấp khởi mừng thầm. Ông nghĩ: “Chắc anh Ba thương tình, vào giúp mình mua lại đất để trả nợ ngân hàng. Anh em từng sống chết có nhau mà”. Nhưng khi đoàn người bước vào, không có cái bắt tay nồng ấm nào cả. Chỉ có những cặp mắt lạnh lùng của dân buôn và xấp hồ sơ dày cộm đặt cái bộp xuống bàn. Vị luật sư đại diện đẩy xấp giấy về phía Phụng:

- Anh Bảy, anh ký vào đây đi. Bên công ty chúng tôi sẽ mua lại toàn bộ quỹ đất dự án Sóng Thần và những lô đất Sông Bé của anh để anh có tiền khắc phục hậu quả.

Phụng cầm tờ hợp đồng lên. Đôi mắt ông lướt qua những con số. Bỗng nhiên, mặt ông đỏ gay, rồi chuyển sang tím tái.

- Cái gì đây? Giá này là sao?

Vị đại diện lạnh lùng đáp:

- Thì theo khung giá Nhà nước thôi anh Bảy. Anh đang là tử tù, tài sản bị kê biên, bán được là may rồi. Anh Ba nể tình xưa nghĩa cũ mới đứng ra ôm cục nợ này giùm anh đấy.

Tăng Minh Phụng run lên bần bật. Ông nhìn con số trong hợp đồng. Rẻ mạt. Bèo bọt. Không, phải gọi là cướp cạn. Mỗi mét vuông đất khu công nghiệp, nơi ông đã đổ hàng tấn tiền để san lấp, làm hạ tầng, giờ đây được định giá ngang bằng... một ký cá nục ngoài chợ.

- Chúng bay... chúng bay là lũ kền kền ăn xác chết! Đất này là máu của tao! Tao đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được. Bây giờ tao sa cơ, tụi bay hùa nhau vào xẻ thịt tao hả? Một mét đất đổi một ký cá nục? Tụi bay coi Tăng Minh Phụng này là thằng ngu sao? – Phụng gầm lên, giọng khản đặc.

Cơn uất hận dâng lên tận cổ họng. Mạch máu trong não Phụng căng ra như muốn đứt tung. Ông cảm thấy vị tanh nồng trong miệng, tức muốn hộc máu. Đó là máu của sự phẫn nộ tột cùng.

- Cút! Cút hết đi! Tao thà chết để đất đó cho cỏ mọc, chứ không bán rẻ cho lũ phản phúc tụi bay!

Phụng gào thét, định lao vào xé nát xấp hồ sơ, nhưng hai cán bộ quản giáo đã kịp thời lao tới, ghì chặt ông xuống. Ông vùng vẫy như một con thú bị thương, mắt long sòng sọc nhìn theo đám người của ông rể đang vội vã thu dọn giấy tờ rút lui.

Cánh cửa buồng giam đóng lại. Tăng Minh Phụng nằm vật xuống sàn xi-măng lạnh lẽo, khóe miệng vẫn còn sủi bọt. Ông cười. Tiếng cười khanh khách vang vọng trong đêm Chí Hòa. Ông nhận ra bài học cuối cùng và đau đớn nhất của cuộc đời doanh nhân: “Khi con sư tử ngã xuống, kẻ đầu tiên lao vào ăn thịt nó không phải là kẻ thù, mà là những con linh cẩu từng đi theo sau lưng nó”.

Sau đó, Tăng Minh Phụng tiếp tục làm đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm Tối cao. Quy trình tố tụng kéo dài đưa ông ra khỏi khu biệt giam tử tù lạnh lẽo, chuyển sang chế độ giam chung ngắn hạn để chờ ngày ra tòa. Trong buồng giam chật hẹp, nơi quy tụ đủ hạng người từ những tay anh chị đâm thuê chém mướn đến những tội phạm kinh tế cò con, sự xuất hiện của Tăng Minh Phụng giống như một con voi lạc vào bầy kiến. Ông không còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhưng cái cốt cách “Đại gia Sài Gòn” thì không song sắt nào nhốt được. Mỗi lần có thăm nuôi, bà Sương gửi vào những món đồ xa xỉ nhất mà bà còn lo liệu được: Thịt kho hột vịt nước dừa (món ăn của nỗi nhớ nhà), những cây thuốc lá 555 ngoại nhập thơm phức. Thay vì cất giấu để dùng dần như bản năng sinh tồn của tù nhân, Phụng trải tờ báo cũ ra giữa sàn xi-măng.

- Anh em, lại đây! Ăn đi cho đỡ nhớ nhà. Hút điếu thuốc cho ấm phổi. – Ông vẫy tay gọi đám tù nhân nghèo rớt mồng tơi đang co ro ở góc phòng.

Trong ánh sáng lờ mờ của buồng giam, khói thuốc lá 555 tỏa ra thơm lừng, quyện với mùi thịt kho béo ngậy, tạo nên một bữa tiệc “Liêu Trai”. Những tên tội phạm sừng sỏ nhất cũng phải cúi đầu nhận điếu thuốc từ tay ông bằng hai tay. Họ gọi ông là “Chú Bảy” với sự kính trọng tuyệt đối. Không phải vì ông giàu (tiền của ông giờ là lá đa), mà vì cái “chơi đẹp”. Ông dạy cho họ bài học mà trường đời chưa dạy: Ngay cả khi sa cơ lỡ vận, ta vẫn có quyền lựa chọn sống như một ông hoàng hay một con chó.

Năm 2000. Cả thế giới tưng bừng pháo hoa đón chào Thiên niên kỷ mới. Máy tính lo sợ sự cố Y2K. Việt Nam hân hoan bước vào thế kỷ XXI hội nhập sâu rộng. Nhưng tại Tòa Phúc thẩm Tối cao tại TP.HCM, thời gian như ngưng đọng lại ở những năm bao cấp cũ kỹ. Tăng Minh Phụng đứng trước vành móng ngựa lần thứ hai. Tóc ông đã bạc thêm một nửa.

Kiểm sát viên cáo buộc:

- Bị cáo đã lập hồ sơ khống, nâng khống giá trị tài sản lên nhiều lần để rút tiền Nhà nước. Hành vi này là lừa đảo có hệ thống, chiếm đoạt tài sản XHCN.

Tăng Minh Phụng ngẩng đầu, đáp một cách mạch lạc:

- Thưa Viện, tôi nâng giá không phải để bỏ túi riêng đi ăn chơi trác táng. Tôi nâng giá để có vốn xoay vòng, nuôi sống bộ máy hàng chục ngàn công nhân, nuôi sống cái mộng khu công nghiệp. Tiền tôi rút ra từ ngân hàng, tôi lại đổ vào đất. Đất vẫn nằm đó, nhà xưởng vẫn nằm đó trên lãnh thổ Việt Nam, có mất đi đâu đâu? Sao lại gọi là chiếm đoạt?

Kiểm sát viên đáp trả bằng thực tế tàn khốc:

- Nhưng hiện tại đất không bán được! Ngân hàng mất thanh khoản. Tiền nằm trong đất là tiền chết. Hậu quả thực tế là Nhà nước mất tiền mặt.

Tuy nhiên, cán cân công lý bỗng nhiên rung lắc. Hội đồng xét xử phúc thẩm, sau khi xem xét hồ sơ, đã đưa ra một quyết định gây chấn động: HỦY một phần bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để điều tra bổ sung vụ Minh Phụng gây thất thoát 82 tỷ tại Incombank và 36 tỷ tại Saigon Petro. Lý do: Tòa sơ thẩm đã xử... thiếu. Bản án sơ thẩm bắt Phụng bồi thường, nhưng lại “bỏ quên” trách nhiệm dân sự liên đới của Phạm Nhật Hồng (Phó GĐ Incombank TP.HCM) và Nguyễn Sĩ Nhơn (GĐ Saigon Petro). Đây là một khe cửa hẹp hé mở. Nếu điều tra lại, trách nhiệm bồi thường được chia sẻ, gánh nặng nợ của Phụng sẽ giảm đi, và biết đâu... án tử sẽ được xem xét lại?

Ngay sau khi nghe quyết định trả hồ sơ, Tăng Minh Phụng, trong một phút giây xúc động và thật thà đến tội nghiệp, đã thốt lên trước micro:

- Tôi biết toà sơ thẩm xử sai. Tôi không đồng tình nhưng nghĩ Tòa là cha là mẹ nên không dám cãi.

Câu nói ấy vang lên, lọt vào băng ghi âm của lịch sử, và trở thành một minh chứng đau đớn cho tâm thức của cả một thế hệ doanh nhân Việt Nam thời mở cửa. Chẳng biết rồi chuyện sau sẽ còn khốc liệt thế nào, kính chờ phần 7 sẽ hạ hồi kết...

Còn tiếp...
 
Top