📸 Photo Blood Meridian (or Evening Redness in the West) - Thiên Đỉnh Máu (hay Sắc đỏ chiều tà vùng biên viễn) (1985) - Cormac McCarthy

44.webp



"Những ý tưởng của các ngươi thật đáng sợ và trái tim các ngươi thật yếu hèn. Những hành động thương xót và tàn ác của các ngươi thật phi lý, được thực hiện mà không có sự bình thản, như thể chúng không thể cưỡng lại được. Cuối cùng, các ngươi ngày càng sợ máu. Máu và thời gian."
PAUL VALÉRY

"Không nên nghĩ rằng cuộc sống của bóng tối bị chìm trong khổ đau và lạc mất như thể trong sầu muộn. Không có sầu muộn. Vì sầu muộn là thứ bị nuốt chửng trong cái chết, và cái chết cùng sự chết chóc chính là sự sống của bóng tối."
JACOB BOEHME

"Clark, người dẫn đầu đoàn thám hiểm năm ngoái đến vùng Afar ở phía bắc Ethiopia, cùng đồng nghiệp Tim D. White của UC Berkeley, cũng cho biết rằng việc kiểm tra lại một hộp sọ hóa thạch 300.000 năm tuổi được tìm thấy ở cùng vùng trước đó cho thấy bằng chứng về việc lột da đầu được thực hiện."
The Yuma Daily Sun, ngày 13 tháng 6 năm 1982
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG V (tiếp)

Họ đã đi được khoảng hai dặm thì dừng lại nghỉ, Sproule ngồi với hai chân duỗi ra và hai tay đặt trong lòng, còn thằng nhóc ngồi xổm cách hắn một quãng. Chớp mắt, râu ria xồm xoàm và lem luốc trong bộ quần áo rách rưới.

"Nghe có giống tiếng sấm không?" Sproule nói.

Thằng nhóc ngẩng đầu lên.

"Nghe đi."

Thằng nhóc nhìn lên bầu trời, xanh nhạt, không một vết gợn ngoại trừ mặt trời cháy như một lỗ trắng trên đó.

"Tôi có thể cảm thấy nó phát ra từ lòng đất", Sproule nói.

"Không có gì đâu."

"Nghe đi."

Thằng nhóc đứng dậy và nhìn quanh. Về phía bắc, có một đám bụi nhỏ đang di chuyển. Nó quan sát. Đám bụi không bay lên cũng không thổi đi.

Đó là một chiếc xe la kéo, lọc xọc một cách nặng nề trên đồng bằng, được kéo bởi một con la nhỏ. Người đánh xe có lẽ đang ngủ. Khi ông ta nhìn thấy hai kẻ chạy trốn ở phía trước trên con đường mòn, ông ta dừng con la và bắt đầu kéo nó sang một bên để quay lại, và ông ta đã xoay được nó, nhưng lúc đó thằng nhóc đã nắm lấy dây cương da thô và giữ con vật đứng yên.

Sproule lặc cà lặc cạch chạy tới. Từ phía sau xe, hai đứa trẻ thò đầu ra nhìn. Chúng xám xịt vì bụi, tóc trắng bệch và khuôn mặt hốc hác, trông như những con quỷ lùn nhỏ ngồi thu mình đó. Khi thấy thằng nhóc trước mặt, người đánh xe lùi lại, và người phụ nữ ngồi cạnh ông ta bắt đầu kêu lên những tiếng the thé, rồi chỉ từ chân trời này sang chân trời khác, nhưng nó đã kéo mình lên thùng xe và Sproule lê bước theo sau, và họ nằm đó nhìn lên tấm bạt nóng hôi hổi trong khi hai đứa trẻ co vào góc và nhìn chằm chặp bằng đôi mắt đen như chuột đồng, và chiếc xe lại rẽ về phía nam, bắt đầu lăn bánh với tiếng ầm ầm và lạch cạch.

Có một bình đất đựng nước treo bằng dây da từ thanh chắn trước, thằng nhóc lấy nó xuống và uống, rồi đưa cho Sproule. Sau đó nó lấy lại và uống phần còn lại. Chúng nằm dưới sàn xe giữa những tấm da cũ và những vệt muối đổ vãi, và một lúc sau chúng ngủ thiếp đi.

Trời tối khi chúng vào thị trấn. Sự rung lắc của xe ngừng lại chính là điều đánh thức chúng. Thằng nhóc ngồi dậy và nhìn ra ngoài. Ánh sao trên một con phố bùn. Chiếc xe trống không. Con la thở khò khè và giậm chân trong dây cương. Một lúc sau, người chủ xe bước ra từ bóng tối và dẫn chúng qua một con hẻm vào một cái sân, ông ta lùi con la cho đến khi xe áp sát vào một bức tường, rồi cởi dây cho con la và dẫn nó đi.

Thằng nhóc nằm ngửa ra trên thùng xe nghiêng. Đêm lạnh, nó nằm co gối dưới một tấm da thú có mùi mốc và nước tiểu, ngủ rồi tỉnh suốt đêm, và suốt đêm lũ chó sủa, đến rạng đông tiếng gà gáy vang lên, và nó nghe tiếng ngựa trên đường.

Trong ánh sáng xám đầu tiên, ruồi bắt đầu đậu lên người nó. Chúng chạm vào mặt nó và đánh thức nó, nó phẩy tay đuổi chúng đi. Một lúc sau nó ngồi dậy.

Họ đang ở trong một cái sân có tường bùn trống trải, và có một ngôi nhà làm bằng lau sậy và đất sét. Những con gà bước đi loanh quanh, cục cục và bới đất. Một cậu bé từ trong nhà đi ra, tụt quần và đại tiện giữa sân, rồi đứng dậy và đi vào trong.

Thằng nhóc nhìn Sproule. Hắn đang nằm úp mặt xuống ván xe. Hắn được đắp một phần chăn và ruồi đang bò trên người hắn. Thằng nhóc đưa tay lay hắn. Hắn lạnh và cứng đờ như gỗ. Lũ ruồi bay lên, rồi lại đậu xuống.

Thằng nhóc đang đứng bên xe tiểu tiện thì bọn lính cưỡi ngựa vào sân. Chúng tóm lấy nó, trói tay ra sau lưng, nhìn vào thùng xe và nói chuyện với nhau, rồi dẫn nó ra phố.

Nó bị đưa đến một tòa nhà bằng đất nện và nhốt trong một căn phòng trống. Nó ngồi dưới sàn trong khi một thằng nhóc với mắt hoang dã với khẩu súng hỏa mai cũ canh chừng nó. Một lúc sau, họ đến và dẫn nó ra ngoài.

Họ dẫn nó qua những con phố bùn hẹp, và nó có thể nghe thấy tiếng nhạc như một khúc kèn chào mừng càng lúc càng lớn. Đầu tiên là lũ trẻ con đi cùng nó, rồi đến người già, và cuối cùng là một đám đông dân làng da nâu, tất cả đều mặc đồ trắng bằng vải cotton như những người phục vụ trong một viện dưỡng, những người phụ nữ quàng khăn rebozo sẫm màu, một số để ngực trần, khuôn mặt nhuộm đỏ bằng đất sét đỏ, hút những điếu xì gà nhỏ. Số lượng của họ ngày càng đông, và những người lính gác với súng hỏa mai vác trên vai cau mày và quát tháo đám người chen lấn, và họ tiếp tục đi dọc theo bức tường đất nện cao của một nhà thờ và tiến vào quảng trường.

Một khu chợ đang mở. Một gánh thuốc lang rong, một rạp xiếc sơ khai. Họ đi qua những chiếc lồng bằng gỗ liễu vững chắc nhồi nhét đầy rắn độc, với những con rắn xanh vôi khổng lồ bắt được từ những nơi xa hơn về phía nam, hay những con thằn lằn hạt cườm với cái miệng đen ướt nhẹp đầy nọc độc. Một lão hủi gầy guộc giơ lên những nắm sán dây từ một cái lọ cho mọi người xem và rao bán thuốc của mình để trị chúng, và họ bị chen ép giữa những tên lang băm thô lỗ khác, những người bán hàng rong và những kẻ ăn xin, cho đến khi tất cả cuối cùng dừng lại trước một cái giàn gỗ, trên đó đặt một bình thủy tinh đựng rượu mescal trong suốt. Trong thùng chứa này, với mái tóc bay lơ lửng và đôi mắt ngước lên trên khuôn mặt xanh xao, là một cái đầu người.

Họ kéo nó lên phía trước với những tiếng hét và điệu bộ. "Nhìn, nhìn đi!”, họ kêu lên. Thằng nhóc đứng trước bình thủy tinh và họ giục nó phải nhìn ngắm cái bình, và chúng xoay nó xung quanh để cái đầu vô hồn trong bình phải đối diện với nó. Đó là đại úy White. Mới đây còn ở trong cuộc chiến chống lại bọn vô đạo. Thằng nhóc nhìn vào đôi mắt chết chìm và vô hồn của người chỉ huy cũ của mình.

Thằng nhóc nhìn quanh những người dân làng và bọn lính, tất cả đều đang nhìn mình, rồi nó nhổ nước bọt và lau miệng. “Chẳng có liên quan gì với tôi”, nó nói.

Bọn chúng nhốt nó vào một cái chuồng đá cũ cùng với ba kẻ tàn tạ khác trốn khỏi cuộc viễn chinh. Cả bọn ngồi sững sờ, chớp mắt dựa vào tường, hoặc đi vòng quanh chuồng dọc theo những vệt móng ngựa và móng la khô cằn, rồi nôn ọe và ỉa chảy trong khi bọn trẻ con trên tường thành la hét chế giễu.

Nó kết thân với một thiếu niên gầy gò đến từ Georgia. “Tôi ốm như chó ấy”, cậu ta nói. “Tôi sợ mình sẽ chết, rồi tôi lại sợ là mình không chết.”

“Tôi đã thấy một người cưỡi trên con ngựa của đại úy ở vùng quê phía bắc nơi đây rồi”, thằng nhóc nói với cậu ta.

“Ờ”, thiếu niên quê Georgia đáp. “Bọn nó giết ông ấy, giết Clark, và một thằng khác tôi không biết tên. Bọn tôi vào thị trấn, và ngay ngày hôm sau chúng đã nhốt bọn tôi vào xà lim, và chính thằng cưỡi ngựa khốn nạn đó đang ở dưới đó với bọn lính canh, cười đùa nhậu nhẹt và đánh bài, nó và tên chỉ huy cược nhau để xem ai được con ngựa của đại úy và ai được khẩu súng lục của ông ta. Tôi đoán cậu đã thấy cái đầu của đại úy rồi.”

“Tôi đã thấy nó. Đó là điều tồi tệ nhất tôi từng thấy trong đời.”

“Đáng lẽ ai đó đã phải ngâm đầu lão vào bình từ lâu rồi. Theo đúng quy luật, họ cũng nên ngâm cái đầu của tôi. Vì đã từng dây dưa với một gã ngu như thế.”

Đám tù nhân khốn khổ di chuyển khi ngày càng lên, từ bức tường này sang bức tường khác để tránh nắng. Thiếu niên quê Georgia kể cho nó nghe về những người đồng đội xấu số được bày trên những phiến đá lạnh ngắt, chết cứng trong khu chợ. Vị đại úy không đầu nằm trong một vũng bùn, bị lũ lợn gặm dở. Cậu ta kéo gót giày trên bụi đất và khoét một chỗ nhỏ cho gót chân nghỉ ngơi. “Bọn chúng định gửi chúng ta xuống thành phố Chihuahua”, thiếu niên nói.

“Sao cậu biết?”

“Người ta nói thế. Tôi không biết.”

“Ai nói?”

“Thằng Shipman đằng kia. Nó nói được một ít tiếng bọn chúng.”

Đứa bé nhìn về phía người được nhắc đến. Nó lắc đầu và nhổ một cái khô khốc.

Suốt cả ngày, lũ trẻ con ngồi trên tường thành, thay phiên nhau nhìn chúng, chỉ trỏ và nói nhảm. Chúng đi quanh lan can và cố tình đái xuống những người đang ngủ dưới bóng râm, nhưng bọn tù nhân luôn cảnh giác. Lúc đầu vài đứa ném đá, nhưng thằng nhóc nhặt một hòn đá to bằng trứng gà giữa bụi, và với một cú liệng, nó hạ gọn một thằng nhóc từ trên tường xuống, không một tiếng động ngoài tiếng rơi thịch nhẹ phía bên kia bức tường.

“Giờ thì cậu đã ra tay rồi đấy”, tên thiếu niên Georgia nói.

Thằng nhóc nhìn trân.

“Bọn chúng sẽ xông vào đây với roi vọt và đủ thứ trên đời.”

Thằng nhóc nhổ nước bọt. “Đố chúng nó mà dám xông vào đây để vụt roi.”

Quả nhiên chúng không vào. Một người đàn bà mang đến cho chúng những bát đậu và những miếng bánh tortilla cháy trên một cái đĩa bằng đất sét chưa nung. Trông bà có vẻ tất bật, bà mỉm cười với chúng, và bà đã giấu kẹo dưới khăn choàng, bên dưới đáy bát còn có những miếng thịt mang từ bàn ăn của chính bà.

Ba ngày sau, trên lưng những con la nhỏ bé ốm yếu, cả bọn lên đường đến thủ phủ như lời tiên đoán.

Bọn họ suốt năm ngày qua sa mạc và núi non, qua những ngôi làng đầy bụi bặm nơi dân chúng kéo ra để xem chúng. Những người hộ tống của chúng trong nhiều bộ đồng phục cũ kỹ nhưng vẫn còn vẻ sang trọng, còn các tù nhân thì trong giẻ rách. Bọn họ đã được phát chăn, và vào ban đêm, ngồi xổm bên những đống lửa giữa sa mạc, đám người bị mặt trời làm đen, gầy trơ xương và quấn mình trong những tấm áo choàng serape này, trông bọn họ giống như những người nông nô thấp kém nhất của Chúa. Những người lính không ai nói được tiếng Anh, và họ ra hiệu cho tù nhân bằng tiếng ậm ừ hoặc cử chỉ. Họ được trang bị xuềnh xoàng và rất sợ đám da đỏ tiếp cận. Họ cuốn thuốc lá trong vỏ ngô và ngồi bên đống lửa trong im lặng và lắng nghe màn đêm. Lời nói của họ, khi có nói chuyện, thường là về phù thủy hoặc những điều tồi tệ hơn, và luôn luôn cố gắng phân tích một tiếng nói hay tiếng kêu nào đó trong số những tiếng kêu không phải của loài thú đứng đắn vọng ra từ bóng tối.

“Người ta hay nói rằng con sói đồng cỏ là một phù thủy giả trang. Không ít lần phù thủy cải trang giả làm một con sói đồng cỏ.”

“Và bọn da đỏ cũng vậy. Chúng thường kêu như sói đồng cỏ.”

“Thế tiếng vừa kêu đó là gì?”

“Chẳng có gì. Một con cú. Chỉ vậy thôi.”


“Có lẽ vậy.”

Khi đoàn người cưỡi ngựa qua đèo trên núi và nhìn xuống thành phố, viên trung sĩ của đoàn hộ tống cho ngựa dừng lại và nói với người đàn ông phía sau mình, và người này xuống ngựa, lấy những sợi dây da thô từ túi yên và tiến đến chỗ các tù nhân, ra hiệu cho họ bắt chéo cổ tay và đưa ra, chỉ cho đám tù nhân cách làm bằng chính tay mình. Gã trói từng người theo cách đó, rồi cả đoàn tiếp tục cưỡi ngựa lên đường.

Đám tù nhân tiến vào thành phố trong một trận mưa rác từ người dân, bị lùa như gia súc qua những con đường lát đá cuội, với những tiếng hò hét vang lên từ phía sau dành cho đám lính, những kẻ mỉm cười một cách đàng hoàng và gật đầu giữa những bông hoa và những chén rượu được mời, lùa đám tù binh rách rưới qua quảng trường nơi nước bắn tung lên trong đài phun và những kẻ nhàn rỗi ngả mình trên những ghế ngồi chạm khắc bằng đá phiến trắng, rồi qua dinh thự của thống đốc và qua nhà thờ lớn nơi những con kền kền đậu dọc theo các mái hiên đầy bụi và giữa các hốc tường trên mặt tiền chạm khắc, ngay bên cạnh các tượng Chúa Jesus và các tông đồ, những con chim dang rộng bộ lông sẫm màu của chúng trong những tư thế khoan dung kỳ lạ, trong khi xung quanh chúng, trong gió phất phới những mảnh da đầu khô của những người da đỏ bị tàn sát xâu thành chuỗi, những mái tóc dài xỉn màu đu đưa như các sợi tơ của một số loài sinh vật biển, và những mảnh da khô vỗ vào đá.

Họ đi qua những người ăn xin già bên cửa nhà thờ với bàn tay nhăn nheo xòe ra, những kẻ ăn xin tàn tật mặc rách rưới với ánh mắt buồn bã, và những đứa trẻ ngủ trong bóng râm với ruồi bò trên khuôn mặt vô hồn. Những đồng xu đồng tối màu trong đĩa tiền, đôi mắt teo tóp của người mù. Những tay thư lại ngồi xổm bên bậc thềm với bút lông, bình mực và bát cát, những người hủi rên rỉ qua các con đường và những con chó trụi lông trông như được tạo nên hoàn toàn từ xương, và những người bán bánh tamales hấp và những bà già với khuôn mặt sạm đen và khắc khổ như vùng đất, ngồi xổm trong rãnh nước bên những bếp than, nơi những miếng thịt đen đặc không tên xèo xèo và bắn tung tóe dầu mỡ. Những đứa trẻ mồ côi lang thang như những người lùn cáu kỉnh, và những kẻ khờ khạo, những kẻ say sưa chảy dãi và quờ quạng xung quanh trong những khu chợ nhỏ của thành phố lớn. Các tù nhân cưỡi ngựa qua cảnh tượng tàn sát trong các quầy thịt và mùi sáp ong nơi những xâu ruột đen kịt ruồi treo lủng lẳng, và những mảng thịt lột da đỏ rực giờ đã tối lại theo bóng chiều, và những chiếc sọ trần trụi của bò và cừu với đôi mắt xanh xám ngây dại nhìn hoang dại, và những xác cứng của hươu, heo vòi, vịt, chim cút và vẹt, tất cả các loài hoang dã từ vùng quê xung quanh đều bị treo ngược đầu trên móc.

Họ bị bắt xuống ngựa và bị lùa đi bộ qua đám đông, xuống những bậc đá cũ và qua một bậu cửa mòn như xà phòng, qua một cánh cổng sắt nhỏ hẹp vào một hầm đá mát mẻ, vốn đã là nhà tù từ lâu, để chiếm chỗ của mình giữa những hồn ma của các vị tử đạo và người yêu nước xưa, trong khi cánh cổng kêu lách cách khép lại sau lưng họ.

Khi đôi mắt thôi còn mù lòa vì bóng tối, họ bắt đầu nhận ra những bóng người đang co ro nép dọc theo bức tường. Những ổ rơm khẽ động đậy như lũ chuột làm tổ bị quấy nhiễu. Tiếng ngáy khe khẽ vọng lên. Bên ngoài, tiếng xe ngựa lộc cộc lăn qua, tiếng móng ngựa gõ trầm đục trên mặt đường. Xuyên qua những phiến đá dày của ngục thất, vọng đến tiếng búa nện mơ hồ từ một lò rèn ở một góc khác của nhà lao. Thằng nhóc đảo mắt nhìn quanh. Trên nền đá lấm bẩn vương vãi những mẩu tim nến đã cháy đen, nằm giữa những vũng mỡ nến đông đặc ngả màu xám đục. Từ các bức tường buông xuống từng sợi nước dãi khô quắt. Lác đác vài cái tên bị cào khắc lên đá, chỉ vừa đủ để ánh sáng hiếm hoi tìm thấy. Nó ngồi xổm xuống, dụi mắt. Có người chỉ mặc quần lót bước ngang trước mặt nó đến chiếc thùng đặt giữa phòng, đứng đó rồi tè vào trong. Xong xuôi, gã quay lại, tiến về phía nó. Gã cao lớn, tóc để dài chấm vai. Gã lê chân qua đống rơm rồi đứng nhìn chằm chằm xuống nó.

"Chú mày không nhận ra ta à?" Toadvine hỏi.

Thằng nhóc khạc một bãi nước bọt, nheo mắt ngước nhìn.

"Có nhận ra chứ," nó đáp. "Có lột da ông đem thuộc ở xưởng da thì tôi cũng nhận ra được cái bộ da ấy."​
 
CHƯƠNG VI

Ngoài đường phố – Tên răng bọc vàng – Los heréticos (Những kẻ dị giáo) – Một cựu binh của cuộc chiến vừa qua – Mier – Đại tá Doniphan – Lễ chôn cất của người Lipan – Những kẻ tìm vàng – Những kẻ săn da đầu – Phán quan – Thoát khỏi nhà tù – Et de ceo se mettent en le pays (Và họ tiến vào nơi chốn này)

Khi trời sáng, đám người lần lượt bò dậy khỏi đống rơm, ngồi chồm hổm trên gót chân và nhìn những kẻ mới bị tống vào, chẳng chút tò mò. Họ gần như bán khỏa thân. kẻ thì tặc lưỡi, kẻ khụt khịt mũi, cựa quậy, gãi gộc và bới móc khắp người như một bầy vượn. Một vệt sáng dè sẻn rửa sạch bóng tối nơi ô cửa sổ nhỏ xíu trên cao, và ngoài phố đã vẳng lên tiếng rao đầu ngày của người bán hàng rong.

Bữa sáng của họ là những bát cháo hạt thông nguội lạnh. Ăn xong, họ bị khóa xiềng rồi bị lùa ra đường, xích sắt leng keng, thân thể bốc mùi hôi thối. Suốt cả ngày họ bị một tên cai ngục răng bọc vàng, một tên bệnh hoạn lệch lạc, giám sát. Hắn cầm một chiếc roi quất bằng da sống tết bện, dồn ép họ bò bằng đầu gối dọc theo những rãnh thoát nước, hốt nhặt mọi thứ rác rưởi và chất bẩn. Họ lết dưới bánh những chiếc xe hàng rong, len qua đôi chân của đám ăn mày, kéo lê phía sau những bao tải đầy rác. Đến chiều, họ ngồi trong bóng râm dưới chân một bức tường, ăn bữa cơm ít ỏi của mình và nhìn hai con chó đang dính nhau sau khi giao phối, vừa lách vừa bước chập chững giữa lòng đường.

"Ê, nhóc. Thấy đời phố xá thế nào?" Toadvine hỏi.

"Tới giờ thì tôi thấy nó chả đáng cái mẹ gì."

"Ta cứ chờ mãi xem có ngày nào chốn đô thị hợp với ta không, mà chờ hoài vẫn chưa thấy."

Cả hai kín đáo liếc tên cai ngục khi hắn đi ngang qua, hai tay chắp sau lưng, chiếc mũ lệch che một bên mắt. Thằng nhóc khạc xuống đất.

"Ta thấy nó trước." Toadvine nói.

"Thấy ai trước?"

"Chú mày biết là ai rồi còn gì. Thằng cai răng vàng kia kìa."

Thằng nhóc nhìn theo dáng gã cai đang đủng đỉnh bước đi.

"Điều ta lo nhất là lỡ có chuyện gì xảy ra với nó. Ngày nào ta cũng cầu Chúa phù hộ cho nó."

"Ông tính chui ra khỏi cái mớ rắc rối này bằng cách nào?"

"Rồi cũng ra thôi. Chỗ này đâu phải cárcel."

"Cárcel là gì?"

"Nhà tù của bang. Trong đó có một đống lão già vào từ hồi những năm hai mươi (1820), đến giờ vẫn còn sống dai như đỉa."

Thằng nhóc lại nhìn hai con chó.

Đám tù đứng dậy, lê bước ra dưới ánh nắng. Một chiếc chuông nhỏ đang ngân lên, và một cỗ xe tiến dọc con phố. Đám tù đứng nép dọc lề đường, tháo mũ khỏi đầu. Đi trước là người cầm cờ hiệu, vừa đi vừa rung chuông, rồi đến cỗ xe. Trên thành xe có vẽ một con mắt, bốn con la kéo xe chậm rãi đưa Mình Thánh Chúa đến với một linh hồn đang hấp hối. Một vị linh mục béo tốt lảo đảo bước theo sau, tay nâng một pho tượng thánh. Những tên lính gác len vào giữa đám tù, giật phăng những chiếc mũ khỏi đầu những kẻ mới tới rồi dúi chúng trở lại vào tay họ, ép cả bọn phải bỏ mũ như những kẻ ngoại đạo đứng trước điều thiêng liêng. Khi cỗ xe đi qua, họ lại đội mũ lên và tiếp tục bước. Hai con chó vẫn đứng dính chặt, đuôi quay về hai phía đối nhau. Cách đó không xa, thêm hai con chó khác ngồi xổm, bộ da lỏng lẻo phủ lên những thân hình chỉ còn da bọc xương. Chúng nhìn đôi chó đang dính nhau, rồi nhìn đoàn tù nhân lách cách xiềng xích đi khuất dần lên con phố. Trong màn hơi nóng rung rinh, tất cả những sinh thể ấy, người, chó, la, đều nhấp nhô như những phép màu đã bị thu nhỏ đến mức tàn tạ. Chỉ còn là những hình dạng thô sơ, được dựng lên từ lời kể truyền miệng, sau khi chính những nguyên mẫu của chúng đã phai mờ khỏi ký ức con người.

Một người đàn ông trải chỗ nằm giữa Toadvine và một gã cựu binh gốc Kentucky khác. Gã cựu binh ấy quay lại đây để tìm lại cô người yêu có đôi mắt đen mà gã đã bỏ lại hai năm trước, thời điểm đoàn quân của Doniphan kéo về hướng đông đến Saltillo, khi các sĩ quan phải xua đuổi hàng trăm cô gái trẻ cải trang thành con trai cứ bền bỉ lẽo đẽo theo sau. Giờ đây, ban ngày gã đứng một mình giữa phố trong xiềng xích với vẻ mặt bình thản đến lạ, ánh mắt nhìn vượt lên trên đầu đám dân thị trấn như đang hướng về một nơi xa xăm. Đêm đến, gã kể cho họ nghe về những năm tháng phiêu bạt ở miền Tây. Một chiến binh hòa nhã, một người đàn ông ít lời.

Gã từng chinh chiến ở trấn Mier, nơi cuộc chém giết tàn khốc đến mức những máng thoát nước, rãnh cống và cả vòi xối từ mái nhà đều phun máu xuống thành từng dòng như mưa trút. Gã kể rằng những quả chuông đồng cổ thời Tây Ban Nha giòn đến độ chỉ cần trúng một viên đạn là nổ tung. Gã nhớ lại lần mình ngồi tựa vào tường, chiếc chân bị đạn xé nát duỗi dài trên nền đá lát, lắng nghe tiếng súng thưa dần rồi tắt hẳn, nhường chỗ cho một khoảng im lặng kỳ quái. Trong sự im lặng ấy, một tiếng ì ầm trầm thấp dần nổi lên. Ban đầu gã ngỡ là sấm, nhưng rồi một quả đạn đại bác từ góc phố lăn ra, nảy lóc cóc trên mặt đá như cái bát rơi, nảy ngang qua mặt gã rồi biến mất ở cuối đường.

Gã kể về ngày binh đoàn của gã tràn vào chiếm thành Chihuahua, một tập hợp những kẻ rách rưới, chiến đấu trong những bộ đồ lót xơ xác. Những quả đạn đại bác bằng đồng nguyên khối lao sượt qua bãi cỏ trông như những mặt trời nhỏ đang bỏ chạy, đến mức ngay cả lũ ngựa cũng học được cách né sang bên hoặc dang rộng chân cho đạn lăn qua dưới bụng. Gã kể về các quý bà trong thành phố đánh xe ngựa lên đồi dã ngoại, vừa ăn uống vừa thưởng thức trận đánh như xem trình diễn. Rồi đến đêm, khi mọi người ngồi quanh đống lửa, họ vẫn nghe tiếng rên rỉ của những người hấp hối vọng lên từ cánh đồng, và dưới ánh đèn lồng, chiếc xe chở xác chậm chạp len qua giữa họ, tựa như cỗ xe tang bước ra từ cõi Luyện ngục.

"Bọn chúng gan dạ thì có gan dạ đấy," gã cựu binh nói, "nhưng đánh trận thì chẳng biết đánh. Chúng cứ cố thủ lì lợm. Người ta kể rằng có những thằng bị phát hiện vẫn còn bị xích vào càng khẩu pháo của mình, cả đội ngựa kéo pháo cũng còn nguyên, nhưng nếu có thật thì tao chưa từng thấy tận mắt. Bọn tao nhồi thuốc súng vào lỗ khóa cổng thành bên kia. Thổi tung cánh cổng. Người trong thành trông như lũ chuột bị lột da. Những gã Mexico trắng bệch nhất mà mày từng thấy. Chúng quỳ sụp xuống, bắt đầu hôn chân bọn tao với đủ mọi trò. Lão Bill thì thả hết bọn chúng. Mẹ kiếp, lão có biết chúng đã làm gì đâu. Chỉ dặn đừng có ăn cắp thứ gì. Thế mà dĩ nhiên chúng cuỗm sạch mọi thứ với tới được. Lão cho đánh roi hai đứa, cả hai đều chết vì trận đòn. Ngay hôm sau lại có một tốp khác dắt trộm mấy con la chạy mất. Bill bèn treo cổ cả lũ ngu ấy. Và chúng cũng chết ráo. Nhưng tao thì chưa bao giờ nghĩ sẽ có ngày chính mình lại ngồi tù thế này."

Họ ngồi xếp bằng dưới ánh nến, bốc thức ăn từ những chiếc bát đất bằng tay không.

Thằng nhóc ngẩng đầu lên.

Nó lấy ngón tay khều khều trong bát.

"Cái gì đây?" nó hỏi.

"Thịt bò hảo hạng đấy, con trai. Thịt bò tót từ đấu trường. Tối chủ nhật nào cũng được ăn món này. Cứ nhai đi. Đừng để chúng nó nghĩ chú mày yếu."

Thằng nhóc nhai. Nó vừa nhai vừa kể cho họ nghe cuộc chạm trán với bọn Comanche. Họ cũng vừa nhai vừa lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu.

"Tao mừng vì đã lỡ cái vụ đấy," gã cựu binh nói. "Bọn đó là một lũ chó đẻ tàn ác. Tao biết có một lão sống trên vùng Llano, gần mấy khu dân gốc Đức ở. Chúng bắt được lão, cướp ngựa, lấy sạch mọi thứ rồi bỏ mặc lão tự cuốc bộ. Sáu ngày sau lão mới bò được vào Fredericksburg, trần như nhộng, chỉ bằng hai tay với hai đầu gối. Mày biết chúng đã làm gì không? Chúng lột sạch gan bàn chân của lão."

Toadvine lắc đầu xuýt xoa. Gã hất cằm về phía gã cựu binh.

"Lão già đời này biết rõ tụi nó đấy," gã bảo thằng nhóc. "Đã từng đánh nhau với chúng rồi, phải không, ông ngoại?"

Gã cựu binh khoát tay.

"Chỉ bắn vài thằng đi ăn cắp ngựa thôi. Ở dưới phía Saltillo. Có gì ghê gớm đâu. Dưới đó có một cái hang, vốn là nơi chôn cất của bọn da đỏ Lipan. Phải đến cả ngàn người da đỏ nằm trong ấy. Ai nấy vẫn ngồi thành vòng như lúc còn sống. Mặc những tấm áo choàng đẹp nhất, quấn những tấm chăn tốt nhất. Cung tên, dao găm, đồ đạc, hạt cườm... đủ cả. Đám Mexico khuân sạch mọi thứ. Lột hết quần áo trên xác họ. Chẳng chừa lại gì. Có người còn khiêng nguyên cả xác về nhà, đặt ở góc phòng, mặc đẹp như búp bê. Nhưng ra khỏi không khí khô trong hang, xác bắt đầu mục rữa từng mảng, cuối cùng đành phải đem quẳng đi. Về sau lại có mấy tay người Mỹ chui vào, lột nốt da đầu và những gì còn sót lại rồi mang xuống Durango bán. Có bán được hay không thì tao chịu. Tao đoán lúc đó mấy xác da đỏ ấy cũng phải chết cả trăm năm rồi."

Toadvine đang dùng một chiếc bánh tortilla gấp lại để lau mỡ trong bát của mình. Gã nheo mắt nhìn thằng nhóc trong ánh nến. "Chú mày nghĩ bọn mình có thể kiếm được bao nhiêu cho hàm răng của lão răng vàng kia?" gã nói.

Họ thấy những gã Argonaut vá víu từ các bang miền Đông lùa từng đoàn la đi qua phố, trên đường vượt núi xuống vùng duyên hải, những kẻ đi săn vàng, những gã phiêu bạt sa đọa đang trôi dạt về phía Tây như một cơn dịch bệnh luôn dõi theo hướng mặt trời. Bọn họ gật đầu hoặc cất tiếng chào đám tù nhân, tiện tay ném xuống đường vài cọng thuốc lá cùng ít đồng lẻ. Họ thấy những cô gái trẻ mắt đen, mặt điểm phấn son, miệng phì phèo những điếu xì gà nhỏ, tay trong tay dạo bước trên phố và ngang nhiên nhìn chòng chọc vào đám tù mà chẳng chút e e dè. Họ thấy cả chính viên thống đốc với dáng người thẳng tắp, nghiêm nghị, ngồi trong cỗ xe ngựa sang trọng giăng rèm lụa đang lộc cộc lăn bánh ra từ cánh cổng đôi của dinh thự.

Rồi một hôm, họ bắt gặp một bầy người mang gương mặt dữ tợn, cưỡi trên lưng những con ngựa lùn da đỏ chưa từng đóng móng, nửa say nửa tỉnh phi nước đại qua từng góc phố. Râu tóc họ xồm xoàm, hoang dã, khoác trên mình những tấm da thú khâu bằng gân động vật. Họ trang bị đủ loại vũ khí hạng nặng: từ những khẩu súng lục to nặng khủng khiếp, những con dao Bowie dài như thanh đại kiếm, cho tới những khẩu súng trường hai nòng ngắn với cỡ nòng to đến mức nhét vừa cả ngón tay cái. Bộ yên cương của ngựa được làm bằng da người, dây cương bện từ tóc người và điểm xuyết bằng những chiếc răng người. Trên cổ những gã ngồi trên yên, kẻ thì khoác áo thánh phục, kẻ lại đeo chuỗi dây xâu bằng những vành tai người đã khô quắt, đen sẫm. Ngược lại, những con ngựa trông như bị lột trần tới lớp thịt sống, ánh mắt hoang dại và nhe răng nanh như chó hoang.

Đi cùng đoàn còn có một số gã man rợ gần như trần truồng, lảo đảo trên yên vì ngấm men rượu, bẩn thỉu, tàn bạo và đầy nguy hiểm. Toàn bộ bầy người ấy giáng xuống tựa như một cuộc xâm lược từ vùng đất ngoại giáo xa xôi nào đó, nơi chúng cùng đồng loại vẫn hằng ngày ăn thịt người.

Đi đầu cả bọn, cưỡi ngựa với thân hình đồ sộ và gương mặt trần trụi đến trẻ thơ, là tay Phán quan nọ. Đôi má ông ta hồng hào. Ông ta mỉm cười, cúi đầu chào các quý bà, rồi nhấc chiếc mũ bẩn thỉu lên theo phép lịch sự. Khi bỏ mũ xuống, vòm đầu khổng lồ của ông ta hiện ra, trắng đến lóa mắt, tròn trịa hoàn hảo đến mức trông như được vẽ lên chứ không phải da thịt. Ông ta cùng đám ô hợp bốc mùi hôi hám đi xuyên qua những con phố chết lặng vì kinh ngạc, rồi dừng trước dinh thống đốc. Tên thủ lĩnh của họ, một người đàn ông nhỏ con, tóc đen, đập cửa xin vào bằng cách lấy mũi ủng đá thẳng vào cánh cửa gỗ sồi. Cửa lập tức mở. Cả bọn thúc ngựa tiến vào, tất cả đều vào, rồi cánh cửa khép lại sau lưng họ.

"Các ông bạn," Toadvine lên tiếng, "ta dám lấy cả Chúa lẫn quỷ ra mà cam đoan là ta biết vụ này là chuyện gì rồi."

Ngày hôm sau, phán quan đứng ngoài phố cùng mấy người khác, phì phèo một điếu xì gà, thong thả đung đưa người trên gót chân. Ông ta đi một đôi ủng da dê non loại tốt, chăm chú quan sát đám tù nhân đang quỳ dọc theo rãnh nước, dùng tay trần vốc từng nắm rác bẩn. Thằng nhóc cũng đang nhìn Phán quan. Khi ánh mắt Phán quan bắt gặp nó, ông ta rút điếu xì gà khỏi miệng rồi mỉm cười, hoặc dường như là mỉm cười, rồi ông ta lại ngậm điếu xì gà vào giữa hai hàm răng.

Đêm đó, Toadvine gọi cả nhóm lại, và họ ngồi xổm bên bức tường, nói chuyện thì thầm.

"Hắn tên là Glanton", Toadvine nói. "Hắn có một bản hợp đồng với Trias. Họ sẽ trả cho hắn một trăm đô la cho từng mỗi mẩu da đầu được chứng nhận, và một nghìn cho cái đầu của tên Gómez. Ta đã nói với hắn là có ba đứa mình. Các quý ông, chúng ta đang ra khỏi cái ổ khốn nạn này đấy."

"Chúng ta chẳng có đồ gì cả."

"Dĩ nhiên thằng cha này biết điều đó. Hắn nói hắn sẽ tìm bất kỳ ai là tay chắc chắn, và sẽ khấu trừ vào phần chia chác của các tân binh. Vậy nên đừng có để lộ ra là tụi mình không phải dân săn da đầu dạn dày, vì ta đã khai rằng tụi mình là ba đứa giỏi nhất."

Ba ngày sau, họ cưỡi ngựa thành hàng một ra khỏi những con phố, cùng với thống đốc và đoàn tùy tùng của ông ta, thống đốc trên một con ngựa bạch màu xám nhạt, và nhóm sát thủ trên những con ngựa chiến nhỏ của họ, mỉm cười và cúi chào, và những cô gái da ngăm xinh đẹp ném hoa từ cửa sổ, vài người gửi những nụ hôn gió, và những đứa trẻ nhỏ chạy theo bên cạnh, và những ông già vẫy mũ và hò reo chúc mừng, còn Toadvine, thằng nhóc và người cựu binh đi cuối đoàn, đôi chân của người cựu binh thọc vào những chiếc túi bao chân tapaderos treo gần chạm đất, do chân hắn quá dài còn ngựa lại quá thấp. Ra đến rìa thành phố, bên cạnh cống dẫn nước đá cũ, nơi thống đốc ban phép lành cho chúng, nâng cốc chúc sức khỏe và vận may của chúng trong một nghi lễ đơn giản, rồi chúng rẽ lên con đường về miền thượng du.​
 
Sửa lần cuối:
PHỤ LỤC 2
Về nguồn gốc và bản chất tâm linh của việc lột da đầu (scalping) với người bản địa
+ Nguồn gốc tiền Columbus: Nhiều bằng chứng khảo cổ học và tài liệu cho thấy lột da đầu đã tồn tại ở châu Mỹ trước khi người châu Âu đến, không phải do người da trắng "dạy" cho người bản địa . Các nhà nhân chủng học tìm thấy dấu vết trên hộp sọ có niên đại trước tiếp xúc .

+ Ý nghĩa linh hồn: Nhiều bộ lạc coi da đầu (đặc biệt là "scalp lock" – chỏm tóc trên đỉnh đầu) là nơi trú ngụ của linh hồn hoặc bản sắc tinh thần của một người . Lấy da đầu đồng nghĩa với việc chiếm đoạt hoặc tiêu diệt phần hồn của kẻ thù .

+ Sự bất tử: Một số quan niệm cho rằng nếu bị lột da đầu, linh hồn kẻ thù sẽ không thể siêu thoát hoặc sẽ phải chịu đựng ở thế giới bên kia​

Các nghi lễ và thực hành văn hóa với việc lột da đầu
+ Nghi thức trước chiến đấu: Các chiến binh thường thực hiện nghi lễ thanh tẩy (vapor bath) và cầu nguyện với "medicine bag" trước khi ra trận để tìm kiếm sự bảo trợ của thần linh .

+ Nghi thức sau chiến thắng (Scalp Dance): Sau khi trở về, các chiến binh tổ chức "vũ điệu da đầu" để trưng bày chiến lợi phẩm và tôn vinh lòng dũng cảm . Phụ nữ trong bộ lạc thường tham gia điệu nhảy này, đôi khi mang theo da đầu của kẻ thù .

+ Chăm sóc chiến lợi phẩm: Da đầu không chỉ là vật trang trí mà còn được chăm sóc cẩn thận. Chúng được căng trên vòng gỗ, bôi màu, trang trí bằng vải và treo trên cột hoặc túp lều .

+ Trang phục nghi lễ: Một số tù trưởng may "áo da đầu" (scalp shirt) từ những da đầu họ thu thập được. Chiếc áo này thể hiện địa vị và lòng dũng cảm, thậm chí được chôn cùng khi họ qua đời.​

Động cơ tâm lý và xã hội
+ Chứng minh lòng dũng cảm: Trong nhiều bộ lạc, da đầu là bằng chứng xác thực cho chiến công. Một chiến binh chỉ được công nhận là dũng cảm khi có da đầu của kẻ thù .

+ Nghi thức huấn luyện thanh thiếu niên: Các cậu bé tham gia "trận chiến giả" để học cách lột da đầu bằng dao gỗ, qua đó rèn luyện kỹ năng và tinh thần chiến binh .

+ Giải tỏa tâm lý: Một số phụ nữ Sioux khi cảm thấy "trái tim tồi tệ" (bad heart) thường đi theo các nhóm chiến binh, và khi chiến thắng, họ tự tay lột da đầu kẻ thù để giải tỏa cảm xúc tiêu cực​

=======================================================================
Những quan điểm chính của Thomas Hobbes (1588-1679) về bản chất con người
Hobbes có một quan niệm cơ học và khá lạnh về con người: con người là những sinh vật có ham muốn, sợ hãi, lý trí tính toán và luôn vận động để duy trì sự tồn tại của mình.

1. Con người, trước hết, là một sinh vật có ham muốn. Trong The Elements of Law (1640), De Cive (1642) và đặc biệt là Leviathan (1651), Hobbes xem appetite/desire và aversion là những động lực căn bản của hành vi. Con người không hành động trước hết vì một “thiện tính” trừu tượng, mà vì muốn đạt được điều mình ham muốn, tránh những thứ mình sợ hoặc ghét, và tìm kiếm sự an toàn, tiện nghi cùng những điều có lợi cho mình. Vì ham muốn của con người luôn thay đổi, nên cái gọi là “thiện” và “ác” không phải những phẩm chất tuyệt đối tồn tại độc lập với con người. Trong Leviathan, Hobbes viết đại ý rằng cái một người gọi là "good" chính là đối tượng của dục vọng của người ấy, còn "evil" là đối tượng của ác cảm.
2. Aristotle từng nói đến summum bonum, tức một thiện tối cao mà đời sống con người hướng tới, nhưng Hobbes bác bỏ cách nhìn này. Theo ông, không có một trạng thái cuối cùng gọi là “hạnh phúc hoàn toàn” mà con người đạt được rồi dừng lại. Trong Leviathan, Hobbes mô tả đời người như một tiến trình liên tục từ ham muốn này sang ham muốn khác: khi đạt được một mục tiêu, một mục tiêu khác lại xuất hiện. Vì thế, con người không chỉ “muốn hạnh phúc”; họ muốn tiếp tục muốn, theo nghĩa luôn tìm kiếm những điều kiện mới cho sự tồn tại và thỏa mãn. Đây là một trong những nét rất hiện đại ở Hobbes.

3. “Felicity” là sự tiến triển liên tục của ham muốn. Hobbes định nghĩa hạnh phúc (felicity) không phải là một trạng thái nghỉ ngơi, mà là “continual success in obtaining those things which a man from time to time desireth” — nghĩa là hạnh phúc nằm ở sự thành công liên tục trong việc đạt được những thứ mình lần lượt ham muốn. Vì vậy, một đời sống hoàn toàn tĩnh tại không phải thiên đường theo Hobbes. Con người cần tiếp tục có khả năng hành động, đạt được mục tiêu và bảo đảm tương lai. Từ đó có thể thấy, con người về bản chất là sinh vật hướng về tương lai.

4. Con người còn có một ham muốn đặc biệt: quyền lực. Một trong những luận điểm nổi tiếng nhất của Leviathan là con người có “a perpetual and restless desire of power after power”. “Power” ở đây không chỉ có nghĩa là quyền lực chính trị, mà còn bao gồm tiền bạc, địa vị, danh tiếng, quan hệ, kiến thức, khả năng gây ảnh hưởng và những phương tiện giúp đạt được các mục tiêu tương lai. Lý do con người theo đuổi quyền lực liên tục là vì quyền lực hiện tại là phương tiện để bảo đảm quyền lực và lợi ích trong tương lai. Từ đó có thể thấy, con người không chỉ muốn có thứ mình cần hôm nay; họ muốn có đủ năng lực để tiếp tục đạt được thứ mình cần ngày mai.

5. Con người về cơ bản là bình đẳng về năng lực gây hại cho nhau. Đây là một điểm cực kỳ quan trọng trong Leviathan, chương XIII. Hobbes không nói mọi người có năng lực giống hệt nhau — người này khỏe hơn, thông minh hơn, giàu hơn người kia. Nhưng sự khác biệt ấy không đủ lớn để một người có thể chắc chắn an toàn trước những người khác. Người yếu hơn vẫn có thể dùng mưu mẹo, liên minh với người khác, phục kích, sử dụng công cụ, hoặc đơn giản là chờ cơ hội. Do đó, “equality” của Hobbes trước hết là sự bình đẳng về tính dễ bị tổn thương: một người mạnh đến đâu cũng phải tính đến khả năng người khác giết mình.
=======================================================================
Một số bức minh họa của Samuel Chamberlain (1829 - 1908), người thừa nhận đã đi cùng với John Joel Glanton (và phán quan Holden) suốt hành trình dọc biên cương Mỹ - Mexico
x.png
Cứu nàng Carmeleita khỏi tên chột (El Tuerto)

cx.png

Người đẹp và dã thú

test.png

Cơn cuồng sát của người dân Arkansas

x.png

Thị trấn San Ildefonso Pueblo - bang Nuevo León, Mexico

proof.png

Trở lại pháo đài Monterrey
cx.png

Bắn chết một tên Mễ

zxgl2w05l8kc1.png

Phán quan Holden giảng về địa chất
 
CHƯƠNG VII

Jackson Trắng và Đen – Một cuộc gặp ở ngoại ô – Súng Colt kiểu Whitneyville – Một phiên tòa – Phán quan giữa những người tranh chấp – Người da đỏ Delaware – Kẻ đến từ Tasmania (Van Diemen's Land) – Một trang trại hacienda – Thị trấn Conralitos – Những lữ khách của một miền đất cổ xưa (Pasajeros de un país antiguo) – Nơi diễn ra một vụ thảm sát – Úm ba la (Hiccius Doccius) – Lễ gọi tên các số phận – Không bánh xe trên một dòng sông tối – Cơn gió tội lỗi – Điều thứ ba (Tertium quid) – Thị trấn Janos – Glanton lấy một cái da đầu – Jackson lên sân khấu.

Trong toán người ấy có hai kẻ cùng mang họ Jackson, một da đen, một da trắng, cả hai đều tên John. Giữa họ có mối thù sâu nặng. Trên đường cưỡi ngựa men theo những dãy núi trọc lốc, gã da trắng thường ghìm ngựa tụt lại, áp sát bên gã da đen rồi cố tình bước vào phần bóng mà thân hình gã kia đổ xuống trên mặt đất đá cằn cỗi, như thể mượn chính cái bóng ấy làm chỗ tránh nắng, vừa đi vừa rỉ tai hắn điều gì đó. Gã da đen liền ghìm hoặc thúc ngựa để tránh xa. Tựa hồ gã da trắng đã xâm phạm chính thân thể mình, vô tình chạm đến một nghi thức ngủ yên đâu đó trong dòng máu đen hoặc trong linh hồn đen của hắn, khiến cái bóng mà hắn che xuống mặt đất dưới ánh mặt trời cũng mang một phần con người hắn, và vì thế có thể bị xúc phạm hay nguy hại. Gã da trắng chỉ cười, rồi khe khẽ ngân nga với hắn những lời nghe chẳng khác gì lời tỏ tình. Mọi người đều theo dõi xem chuyện ấy sẽ kết thúc ra sao, nhưng không ai buồn ngăn cản một trong hai đổi hướng. Mỗi lần Glanton ngoái nhìn dọc hàng ngũ phía sau, dường như gã chỉ đơn giản kiểm đếm họ như những người khác trong toán rồi lại quay đầu tiếp tục đi.

Sáng hôm ấy, cả bọn đã tụ tập trong một sân nhỏ phía sau một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố. Hai người khiêng từ trên xe xuống một hòm quân nhu có in khuôn chữ của kho vũ khí từ Baton Rouge. Một người Do Thái gốc Phổ tên Speyer dùng một chiếc dùi và búa đóng móng ngựa cạy nắp hòm. Ông ta lấy ra một gói dài bọc trong thứ giấy gói thịt màu nâu đã thấm loang dầu mỡ, trông như giấy gói bánh từ lò bánh mì. Glanton mở gói, tờ giấy rơi xuống đất. Trong tay hắn là một khẩu súng lục ổ quay Colt sáu phát, nòng dài, theo bằng sáng chế của Colt. Đó là một khẩu súng đồ sộ, được chế tạo cho lính long kỵ binh. Mỗi buồng đạn dài của nó chứa lượng thuốc súng ngang với một khẩu súng trường, và khi nạp đầy, cả khẩu nặng gần năm pound. Những khẩu súng này có thể bắn viên đạn hình nón nặng nửa ounce xuyên qua sáu inch gỗ cứng. Trong hòm có tất cả bốn mươi tám khẩu. Speyer tiếp tục lấy ra những khuôn đúc đạn nhiều lỗ, bình đựng thuốc súng và các dụng cụ khác. Phán quan Holden đang mở bọc một khẩu súng nữa. Đám người chen sát lại. Glanton lau sạch lòng nòng và các buồng đạn, rồi đưa tay nhận lấy bình thuốc súng từ Speyer.

"Khẩu súng này nom dữ dằn thật đấy," một người lên tiếng.

Glanton nhét thuốc nổ vào từng lỗ đạn, đặt viên đạn chì lên rồi dùng cần gạt dưới nòng ép chặt đạn vào sâu bên trong. Khi cả sáu ổ đạn đã nạp xong xuôi, gã gắn kíp nổ vào từng vị trí rồi đảo mắt nhìn quanh.

Trong khoảng sân ấy, ngoài đám thương gia cùng người mua bán thì vẫn còn vài sinh vật sống. Mục tiêu đầu tiên mà Glanton nhắm đến là một con mèo, ngay khoảnh khắc ấy, nó nhẹ nhàng nhảy lên đỉnh bức tường cao từ phía bên kia, êm xơ như một con chim đáp xuống. Nó xoay mình dạo bước giữa những mảnh thủy tinh vỡ cắm lởm chởm trên lớp tường bùn. Glanton nhấc khẩu súng lục khổng lồ bằng một tay, dùng ngón cái gạt búa đập về sau. Tiếng nổ xé tan khoảng không yên lặng chực chờ. Con mèo đơn giản là biến mất, không một giọt máu, không một tiếng kêu, nó bốc hơi hoàn toàn.

Speyer bối rối liếc nhìn mấy người Mexico, nhưng họ chỉ giốm mắt theo dõi Glanton. Gã lại bẻ cò, xoay nòng súng. Ở góc sân, một đàn gà đang bới đất bỗng giật mình đứng dậy, ngơ ngác nghiêng đầu đủ mọi hướng. Khẩu súng lại rung lên, một con gà nổ tung thành đám mây máu và lông vũ. Lũ gà còn lại hoảng loạn chạy lúp xúp, cổ vươn dài, tuyệt nhiên không phát ra tiếng động. Gã bồi thêm phát nữa: con gà thứ hai xoay tít rồi đổ gục, co giật trên đất. Đàn gà hoảng loạn vỗ cánh bay tán loạn, kêu the thé.

Glanton xoay người theo đà súng, nhắm thẳng vào một con dê nhỏ đang đứng ép chặt mình vào tường vì sợ hãi. Phát bắn gạt phăng sự sống của nó, khiến nó gục chết ngay trên bụi đất. Gã xoay sang bắn tiếp một cái bình đất nung, khiến nó vỡ tan tành, tung tóe nước và mảnh vụn. Cuối cùng, Glanton giơ cao khẩu súng, chĩa về phía ngôi nhà rồi nã phát cuối vào quả chuông treo trên tháp đất sét trên nóc. Một tiếng ngân vang trang nghiêm vút lên, đọng lại mãi trong không trung ngay cả khi tiếng vọng của những phát súng đã hoàn toàn tan biến.

Một làn khói thuốc súng xám phủ xuống sân. Glanton đặt cò súng ở vị trí nửa chừng, xoay trục đạn và hạ cò xuống. Một người đàn bà xuất hiện ở ngưỡng cửa của ngôi nhà, và một trong những người Mexico nói với bà ta và bà ta liền quay vào trong.

Glanton nhìn Holden, rồi nhìn sang Speyer.

Lão Do Thái mỉm cười gượng gạo.

"Chúng chẳng đáng năm mươi đô một khẩu đâu."

Speyer nghe liền nghiêm mặt.

"Thế cái mạng ông đáng bao nhiêu tiền?" Lão Do Thái hỏi. "Ở Texas thì năm trăm đô đấy. Nhưng muốn đổi được món tiền ấy thì phải lấy chính cái đít của ông ra mà chiết khấu tờ giấy báo tử."

"Ngài Riddle cho rằng đó là cái giá hợp lý."

"Nhưng ngài Riddle đâu có phải người bỏ tiền túi ra trả."

"Chính ông ấy đang ứng tiền đấy."

Glanton xoay khẩu súng trong tay, ngắm nghía.

"Tôi cứ tưởng mình đã thỏa thuận xong rồi chứ," Speyer nói.

"Chưa có cái gì gọi là thỏa thuận hết."

"Đây là lô súng được chế tạo theo hợp đồng thời chiến. Sau này ông sẽ chẳng kiếm được loại nào như thế nữa đâu."

"Bao giờ tiền đổi chủ thì mới gọi là thỏa thuận. Trước đó thì chưa."

Đúng lúc ấy, một toán lính chừng mười, mười hai người từ ngoài phố bước vào sân, súng đã cầm sẵn trong tư thế sẵn sàng khai hỏa.

Chuyện gì vừa xảy ra ở đây thế?”

Glanton nhìn bọn lính một cách hững hờ.

Không có gì”, Speyer nói. “Mọi chuyện đều ổn cả.

Ổn?” Viên trung sĩ đưa mắt nhìn những con gà chết, con dê chết.

Người đàn bà lại xuất hiện ở cửa.

Mọi chuyện vẫn ổn”, Holden nói. “Đây là việc từ ngài Thống đốc.”​

Viên trung sĩ nhìn chúng, rồi nhìn người đàn bà đứng dưới ngưỡng cửa.

Chúng tôi là bạn của ngài Riddle”, Speyer nói.

"Đi đi," Glanton cất tiếng. "Đừng quên lôi theo cái lũ mọi nửa mùa của ông luôn."

Viên trung sĩ bước lên một bước, dựng hẳn tư thế của một người có thẩm quyền. Glanton khạc xuống đất.

Tay phán quan đã băng qua khoảng cách giữa họ và bây giờ ông ta kéo viên trung sĩ sang một bên và bắt chuyện với hắn. Viên trung sĩ chỉ cao đến nách của vị phán quan, và ông ta nói chuyện một cách nồng nhiệt và ra hiệu bằng những cử chỉ rất rộng rãi, hồ hởi. Bọn lính ngồi xổm trong bụi với khẩu súng hỏa mai của chúng và nhìn vị phán quan mà không biểu lộ cảm xúc.​

"Đừng có đưa cho thằng khốn đó đồng nào", Glanton nói.

Nhưng vị phán quan đã đưa người đàn ông đó tới để giới thiệu một cách trang trọng.

"Xin giới thiệu với quý vị, đây là Trung sĩ Aguilar," ông cất tiếng, vừa nói vừa ôm choàng lấy người sĩ quan rách rưới như một người bạn cũ.

Viên trung sĩ nghiêm trang đưa tay ra.

Bàn tay ấy lơ lửng giữa khoảng không, thu hút ánh mắt của tất cả những người có mặt, như thể chính nó đang chờ được xác nhận hay chấp nhận.​

Rồi Speyer bước lên, nắm lấy.

"Rất hân hạnh được gặp ngài."

"Tôi cũng vậy," viên trung sĩ đáp.

Vị phán quan hộ tống hắn từ người này sang người khác trong đoàn, viên trung sĩ thì trang trọng còn đám người Mỹ thì lầm bầm những lời tục tĩu hoặc lắc đầu im lặng. Bọn lính Mễ ngồi xổm trên gót chân và quan sát từng chuyển động trong trò hề này với cùng một sự thờ ơ đờ đẫn, và cuối cùng vị phán quan tiến tới trước mặt tên Jackson da đen, gã có khuôn mặt đen sạm đầy khó chịu ấy.

Ông ta nhìn ngắm nó và kéo viên trung sĩ lại gần hơn để quan sát cho rõ, rồi bắt đầu một bài giới thiệu công phu bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông ta phác họa cho viên trung sĩ một sự nghiệp đầy nan đề của người đàn ông trước mặt họ, bàn tay ông ta với sự khéo léo tuyệt vời vẽ ra những hình dạng của những con đường khác nhau đã cùng tụ hội về đây trong thẩm quyền tối thượng của cái đang tồn tại, như ông ta từng nói với họ, giống như những sợi dây được kéo qua lỗ của một chiếc nhẫn. Phán quan đưa ra các luận đề để họ suy xét với những liên tưởng về con cháu của Ham, các bộ lạc thất lạc của người Israel trong kinh thánh, một số đoạn từ các nhà thơ Hy Lạp, những suy đoán nhân chủng học về sự truyền bá của các chủng tộc trong sự phân tán và cô lập của chúng thông qua tác nhân của thảm họa địa chất, và một sự đánh giá về các đặc điểm chủng tộc liên quan đến ảnh hưởng khí hậu và địa lý. Viên trung sĩ lắng nghe những điều này và hơn thế nữa với sự chú ý lớn lao, và khi vị phán quan nói xong, hắn bước tới và đưa tay ra.
Jackson da đen phớt lờ Aguilar. Gã quay sang nhìn Phán quan.

"Ông đã nói cái mẹ gì với hắn vậy, Holden?"

"Mong anh đừng xúc phạm ông ta."

"Ông nói cái đéo gì với hắn?"

Gương mặt viên trung sĩ chợt tối lại. Vị phán quan bèn khoác vai hắn, nghiêng người và nói vào tai hắn, và viên trung sĩ gật đầu và bước lui và chào người da đen.

"Ông đã nói gì với hắn vậy, Holden?"

"Ta chỉ bảo rằng bắt tay không phải là phong tục ở quê anh."

"Trước đó cơ. Trước đó ông đã nói gì?"

Phán quan mỉm cười.

"Điều đó không cần thiết," ông ta nói tiếp, "Vì những kẻ trong cuộc bắt buộc phải nắm rõ toàn bộ sự thật về chính biến cố mà mình đang dự phần. Bởi lẽ suy cho cùng, từng hành động của họ, cho dù có thấu hiểu hay không, rồi cũng sẽ trở thành chất liệu để viết nên lịch sử. Thế nhưng theo lẽ công bằng, chừng nào còn có thể, những sự thật ấy phải được gửi gắm vào lời chứng của một bên thứ ba. Và Trung sĩ Aguilar chính là một kẻ như thế.
Mọi sự xúc phạm hướng vào chức trách của ông ta chỉ là chuyện tiểu tiết, nếu đem so với những chệch hướng khỏi nghi lễ lớn lao hơn mà bánh xe định mệnh tuyệt đối đòi hỏi. Lời nói vốn dĩ là những thực thể tồn tại độc lập. Những lời ông ta đã đón nhận thì chẳng một ai có thể tước đoạt khỏi tay ông ta. Quyền uy của chúng vươn xa, vượt lên trên cả sự ngu dốt của chính ông ta về ý nghĩa ẩn đằng sau những lời ấy.
"

Jackson da đen mồ hôi vã ra như tắm. Một đường gân sẫm màu nơi thái dương gã giật liên hồi như một sợi dây cháy chậm. Cả bọn đã lắng nghe vị phán quan trong im lặng. Một vài kẻ mỉm cười. Một tên sát nhân đần độn từ Missouri cười khúc khích nhẹ như người bị suyễn. Vị phán quan lại quay sang viên trung sĩ và hai bên tiếp tục nói chuyện với nhau, rồi vị phán quan và hắn bước đến chỗ cái thùng gỗ đang đứng trong sân, và vị phán quan chỉ cho hắn xem một trong những khẩu súng lục và giải thích cách vận hành của nó với sự kiên nhẫn tuyệt vời. Bọn lính của viên trung sĩ đã đứng dậy và đợi sẵn. Tại cổng, vị phán quan đặt từng đồng xu vào lòng bàn tay Aguilar và ông ta bắt tay một cách trang trọng với từng người lính bận áo quần rách rưới và khen ngợi tác phong quân sự của họ, rồi cả nhóm đi ra phố.

Vào buổi trưa hôm đó, nhóm lính đánh thuê cưỡi ngựa ra đi, mỗi người được trang bị một cặp súng lục, và rẽ lên con đường về phía thượng du như đã được báo trước.

Nhóm trinh sát cưỡi ngựa trở về vào buổi chiều. Lần đầu tiên trong ngày, đám đàn ông xuống ngựa, để cho ngựa được hồi sức trên một dải đồng trũng cỏ thưa, trong khi Glanton bàn bạc với những người dẫn đường. Sau đó họ lại lên đường, cưỡi mãi cho đến khi trời tối mới hạ trại. Toadvine, lão cựu binh và thằng nhóc ngồi xổm cách những đống lửa một quãng. Họ không hề biết rằng mình có mặt trong toán người ấy là để thay chỗ cho ba kẻ đã chết ngoài sa mạc. Họ quan sát những người Delaware, chiếm vài người trong đoàn. Đám người ấy cũng ngồi tách biệt, thu mình trên gót chân. Một người dùng hòn đá giã những hạt cà phê trong một túi da nai, còn những người khác nhìn trân trân vào ngọn lửa, đôi mắt đen ngòm như nòng súng. Đêm ấy, thằng nhóc trông thấy một người trong số họ đưa tay lần mò giữa lớp than hồng rực cháy, lựa đúng một cục than vừa ý để châm tẩu thuốc.

Trời còn chưa sáng hẳn họ đã thức dậy. Vừa đủ ánh sáng để nhìn thấy, họ liền dồn bắt ngựa và đóng yên. Những dãy núi lởm chởm hiện lên xanh thẫm tinh nguyên trong ánh bình minh. Khắp nơi chim ríu rít cất tiếng. Khi mặt trời nhô lên, nó bắt gặp mặt trăng còn treo phía tây, khiến hai thiên thể đứng đối diện nhau qua bề mặt trái đất, mặt trời trắng rực như sắt nung, còn mặt trăng chỉ là một bản sao nhợt nhạt của nó, tựa như hai đầu của cùng một nòng súng khổng lồ, vượt ra ngoài hai đầu mút ấy là vô số thế giới đang bừng cháy, nhiều đến mức không thể nào đếm xuể. Đoàn kỵ mã nối hàng một, lặng lẽ tiến qua những bụi đậu gai và gai lửa. Tiếng vũ khí va nhẹ leng keng hòa cùng tiếng vòng sắt trên hàm thiếc của ngựa khẽ lanh canh. Mặt trời mỗi lúc một lên cao, mặt trăng dần chìm xuống. Những con ngựa và lũ la còn đẫm sương bắt đầu bốc hơi, cả trên da thịt lẫn trong những khoảng bóng chúng đổ xuống mặt đất.​
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG VII (tiếp)

Trời còn chưa sáng hẳn họ đã thức dậy. Vừa đủ ánh sáng để nhìn thấy, họ liền dồn bắt ngựa và đóng yên. Những dãy núi lởm chởm hiện lên xanh thẫm tinh nguyên trong ánh bình minh. Khắp nơi chim ríu rít cất tiếng. Khi mặt trời nhô lên, nó bắt gặp mặt trăng còn treo phía tây, khiến hai thiên thể đứng đối diện nhau qua bề mặt trái đất, mặt trời trắng rực như sắt nung, còn mặt trăng chỉ là một bản sao nhợt nhạt của nó, tựa như hai đầu của cùng một nòng súng khổng lồ, vượt ra ngoài hai đầu mút ấy là vô số thế giới đang bừng cháy, nhiều đến mức không thể nào đếm xuể. Đoàn kỵ mã nối hàng một, lặng lẽ tiến qua những bụi đậu gai và gai lửa. Tiếng vũ khí va nhẹ leng keng hòa cùng tiếng vòng sắt trên hàm thiếc của ngựa khẽ lanh canh. Mặt trời mỗi lúc một lên cao, mặt trăng dần chìm xuống. Những con ngựa và lũ la còn đẫm sương bắt đầu bốc hơi, cả trên da thịt lẫn trong những khoảng bóng chúng đổ xuống mặt đất.

Toadvine kết bạn với một gã đào tẩu từ Tasmania hay Đất Van Diemen tên là Bathcat, kẻ đã trốn sang miền biên viễn này bằng chính đôi chân của mình. Gã gốc xứ Wales, bàn tay phải chỉ còn ba ngón và trong miệng chẳng còn mấy cái răng. Có lẽ Bathcat nhìn thấy ở Toadvine một kẻ đồng cảnh ngộ, một tên trọng phạm bị cắt tai, mang dấu sắt nung trên da thịt, một kẻ đã chọn lối sống chẳng khác gì chính hắn, nên gã đề nghị cá cược xem hai gã Jackson sẽ giết lẫn nhau ra sao, ai sẽ hạ ai trước.

"Tôi có biết hai thằng cha đó đâu," Toadvine nói.

"Thế anh đoán sao?"

Toadvine lặng lẽ nhổ nước bọt sang một bên rồi nhìn gã.

"Tôi chẳng muốn cá," gã đáp.

"Không phải dân đỏ đen à?"

"Còn tùy đánh trò gì."

"Thằng da đen sẽ làm thịt thằng da trắng kia. Cứ nhận kèo với tỷ lệ cược ngon đi."

Toadvine nhìn gã. Chuỗi tai người đeo quanh cổ gã nom như một xâu sung đen đã phơi khô. Gã thì to lớn, thân hình thô kệch. Một mí mắt sụp xuống vì lưỡi dao ngày nào đã cắt đứt những thớ cơ nhỏ nơi ấy. Đồ đạc mang theo thì đủ hạng, thứ tốt lẫn thứ rẻ tiền lẫn lộn. Gã đi một đôi ủng tử tế. Khẩu súng trường cũng là hàng đẹp, được khảm bạc Đức sáng bóng. Nhưng khẩu súng lại được giữ trong một cái bao bằng một đoạn ống cổ của chiếc ủng cũ đã cắt rời. Áo sơ mi thì rách bươm, còn chiếc mũ bốc mùi ôi vì mồ hôi và mỡ đã ngấm lâu ngày.​

"Anh chắc chắn chưa từng săn mấy thằng thổ dân trước đây", Bathcat nói.

"Ai bảo thế?"

"Tôi biết mà."

Toadvine không trả lời.

"Anh sẽ thấy chúng rất linh hoạt đấy."

"Tôi nghe nói vậy."

Gã tù đày từ Tasmania cười mỉm. "Nhiều thứ đã thay đổi", gã nói. "Khi tôi mới đến vùng đất này, có những kẻ mọi rợ ở quanh sông San Saba hầu như chưa từng thấy người da trắng. Chúng đến trại của chúng tôi và chúng tôi chia thức ăn với chúng, và chúng không thể rời mắt khỏi dao của chúng tôi. Hôm sau chúng dẫn cả đàn ngựa vào trại để đổi. Chúng tôi không biết chúng muốn gì. Chúng có dao riêng của chúng, đại loại như vậy. Nhưng điều chúng muốn, anh thấy đấy, là chúng chưa bao giờ thấy xương được cưa thành khúc trong món hầm bao giờ."

Toadvine liếc nhìn lên trán gã, nhưng chiếc mũ đã được kéo sụp gần kín mắt. Gã mỉm cười rồi dùng ngón cái hất vành mũ lên đôi chút. Vết hằn của dải băng quấn mũ in ngang trán gã nom như một vết sẹo, nhưng ngoài ra chẳng còn dấu tích nào khác. Chỉ ở mặt trong cẳng tay dưới là có xăm một dãy số, thứ mà sau này Toadvine sẽ nhìn thấy trong một nhà tắm ở Chihuahua, rồi lại nhìn thấy lần nữa khi hắn chặt hạ phần thân mình của chính gã, lúc xác gã đang bị xiên qua hai gót chân và treo lủng lẳng trên một cành cây giữa vùng hoang địa Pimería Alta vào mùa thu năm ấy.

Họ cưỡi ngựa xuyên qua những bụi xương rồng cholla và nopal, một khu rừng lùn chỉ toàn những loài cây phủ đầy gai nhọn. Cả đoàn vượt qua một khe đá giữa núi rồi đổ xuống vùng đất nơi ngải thơm và lô hội đang trổ hoa. Họ đi tiếp qua một cánh đồng cỏ sa mạc mênh mông, lác đác vài bụi thùa palmilla. Trên các sườn núi, những bức tường đá xám chạy men theo sống núi, uốn xuống triền dốc rồi gãy đổ, ngổn ngang dưới đồng bằng tựa như tàn tích của một thế giới đã sụp đổ.

Đến giữa trưa họ không dừng chân, cũng chẳng nghỉ xế. Mặt trăng trắng đục như quả bông vẫn ngồi lặng lẽ giữa ban ngày, ngự trị ngay nơi khe họng của dãy núi phía đông. Cả đoàn vẫn tiếp tục cắm cúi cưỡi ngựa. Đến nửa đêm, mặt trăng mới đuổi kịp họ, đứng ngạo nghễ ngay đỉnh trời rồi in xuống đồng bằng bên dưới một bức phù điêu màu lam về đoàn người chuyên gieo rắc kinh hoàng ấy, những kẻ đang lặng lẽ tiến về phương bắc trong tiếng vũ khí va vào nhau leng keng.

Đêm ấy, họ ngủ trong khu chuồng gia súc của một trang trại hacienda. Suốt đêm, người ta liên tục giữ lửa cháy trên những mái nhà bằng. Hai tuần trước, một toán nông dân đã bị người Apache chém chết bằng chính những chiếc cuốc của họ, xác còn bị lợn rừng gặm nhấm một phần, trong khi cướp lùa sạch gia súc rồi biến mất vào núi. Glanton ra lệnh mổ một con dê ngay trong chuồng; mùi máu bốc lên khiến đàn ngựa giật mình run rẩy. Dưới ánh lửa bập bùng, những người đàn ông ngồi xổm nướng thịt, xẻo bằng dao rồi ăn thô hoắm, thản nhiên lau những ngón tay đầy mỡ lên tóc rồi nằm gục xuống ngủ ngay trên nền đất nện cứng.

Vào lúc hoàng hôn của ngày thứ ba, họ cưỡi ngựa tiến vào thị trấn Corralitos. Móng ngựa lê sột soạt trên lớp tro đã đóng cứng, còn mặt trời đỏ rực chiếu xuyên qua màn khói dày. Những ống khói của lò luyện quặng đứng thành hàng dưới bầu trời xám tro. Ánh lửa đỏ rực từ các lò nung âm ỉ hắt lên dưới chân những ngọn đồi tối sẫm. Ban ngày trời đã đổ mưa, khiến ánh đèn từ những ngôi nhà gạch bùn thấp lè tè phản chiếu lung linh trên các vũng nước ngập lầy dọc đường. Từ các vũng lầy ấy, những con lợn to xác, nước nhỏ tong tỏng trên mình, vừa rên ủn ỉn vừa lồm cồm đứng dậy trước đoàn ngựa đang tiến tới, nom tựa những con quỷ đần độn bị xua khỏi đầm lầy trong truyện cổ.

Mọi ngôi nhà đều có lỗ châu mai và tường chắn trên mái. Không khí đặc quánh mùi khói thạch tín. Người dân kéo ra xem những kẻ đến từ Texas, đoàn lính đánh thuê được đặt biệt danh như vậy, họ đứng trang nghiêm dọc đường và đăm đăm quan sát từng cử chỉ nhỏ nhất của đoàn người với vẻ kính sợ pha lẫn kinh ngạc.

Họ đóng trại ngay tại quảng trường. Ngọn lửa trại bốc khói làm đen kịt những cây dương, xua bầy chim đang ngủ bay tán loạn, đồng thời thắp sáng cả thị trấn tồi tàn đến tận những chuồng trại tối tăm nhất. Ánh lửa ấy thậm chí còn lôi kéo cả những kẻ mù lòa đang lần bước xiêu vẹo ra khỏi nơi trú ẩn, hai tay họ vươn về phía trước như cố chạm vào một ban ngày chỉ còn tồn tại trong trí tưởng tượng.

Glanton, tay phán quan cùng anh em nhà Brown cưỡi ngựa đến trang trại của Tướng Zuloaga. Tại đây, họ được đón tiếp chu đáo và dùng bữa tối, rồi đêm trôi qua êm đềm, không xảy ra bất kỳ sự cố nào.

Sáng hôm sau, khi cả nhóm đã thắng yên ngựa và tập hợp ngoài quảng trường để lên đường, một gia đình ảo thuật gia lang bạt tiến đến xin được hộ tống an toàn lên vùng thượng địa, xa nhất là đến thị trấn Janos. Glanton ngồi trên lưng ngựa ở đầu đoàn, cúi nhìn họ. Toàn bộ tài sản của họ chất trong những chiếc giỏ thồ rách nát, buộc chằng lên lưng ba con lừa. Họ gồm một người đàn ông, vợ ông ta, một cậu con trai đã lớn và một cô con gái. Cả bốn đều mặc những bộ đồ của chú hề rong. Trên vải còn thêu những ngôi sao và vầng trăng lưỡi liềm. Nhưng những màu sắc từng sặc sỡ ấy giờ đã bạc phếch, nhợt nhạt vì bụi đường. Trông họ như một gia đình dân du mục bị số phận quẳng xuống miền đất dữ này.

Ông già bước lên trước, nắm lấy dây cương ngựa của Glanton.

"Lão bỏ tay khỏi ngựa, mau." Glanton nói.

Ông già không nói được tiếng Anh nhưng đã làm theo lời. Ông ta bắt đầu trình bày hoàn cảnh của mình. Ông ta ra hiệu, ông ta chỉ về phía những người khác. Glanton nhìn ông ta, ai biết được liệu gã có nghe gì không. Gã quay đầu nhìn cậu bé và hai người phụ nữ, rồi lại nhìn xuống ông già.

"Các người là lũ nào thế?" gã hỏii.

Người đàn ông nghiêng tai về phía Glanton và ngước nhìn, miệng há hốc.

"Ta hỏi các người là cái thá gì? Các người là một gánh xiếc à?"

Ông ta nhìn lại về phía những người khác.

"Gánh xiếc", Glanton nói. "Bọn hề ấy."

Mặt ông già sáng lên. "Vâng", ông ta nói. "Vâng, là hề ạ. Cả nhà chúng tôi." Ông ta quay sang cậu con trai. "Casimero! Mấy con vật đâu!"

Casimero chạy đến một con lừa, luồn tay lục lọi giữa đống hành lý. Chốc sau cậu bế ra một đôi con vật đầu trọc, tai vểnh như dơi, chỉ nhỉnh hơn chuột một chút, lông màu nâu nhạt. Cậu bé tung chúng lên không rồi đỡ lấy trên hai lòng bàn tay. Vừa chạm tay cậu, chúng lập tức xoay tít thành từng vòng vô thức như đang múa.

"Nhìn đây! Nhìn đây!" ông lão hô lớn.

Ông lục lọi trong các túi áo. Chẳng mấy chốc, bốn quả bóng gỗ nhỏ đã bay lượn trên đôi tay ông ngay trước đầu ngựa của Glanton. Con ngựa phì mạnh, ngẩng đầu lên. Glanton cúi người khỏi yên, nhổ nước bọt xuống đất rồi dùng mu bàn tay quệt miệng.

"Đúng là cái trò nhảm nhí chết tiệt." gã nói.

Ông lão vẫn tiếp tục tung hứng, vừa làm vừa ngoái đầu gọi vọng về phía hai người đàn bà. Hai con chó vẫn xoay tít biểu diễn. Hai người phụ nữ cũng bắt đầu chuẩn bị cho một màn diễn khác thì Glanton lên tiếng.

"Đủ rồi. Đừng có bày thêm cái trò điên khùng ấy nữa. Muốn đi cùng bọn này thì nhập vào cuối đoàn. Đây chẳng hứa hẹn gì đâu. Lên đường!"

Đoàn người lại leng keng chuyển bánh. Ông lão tung hứng vội vã chạy theo, xua hai người đàn bà về phía mấy con lừa. Cậu bé đứng sững, mắt mở to, ôm hai con chó trong tay, cho đến khi ông lão gọi thì mới cất bước. Họ cưỡi ngựa xuyên qua đám dân chúng, đi ngang những đống xỉ luyện quặng và đất đá thải chất thành những ngọn đồi hình nón. Dân thị trấn đứng nhìn họ rời đi. Có những người đàn ông nắm tay nhau như những đôi tình nhân. Một đứa trẻ dắt một ông lão mù bằng một sợi dây đến một chỗ có thể nhìn rõ đoàn người đi qua.
Đến giữa trưa, họ vượt qua lòng đá của sông Casas Grandes, rồi men theo một bậc đất cao phía trên dòng nước gầy guộc. Họ đi ngang qua một cánh đồng xương nơi nhiều năm trước, lính Mexico đã tàn sát một trại người Apache ở nơi ấy, không loại trừ đàn bà và trẻ con. Xương và sọ người nằm vương vãi dọc theo bậc đất cao suốt nửa dặm. Những cánh tay, cẳng chân bé xíu và những hộp sọ mỏng manh, không còn chiếc răng nào của trẻ sơ sinh nằm ngay nơi chúng bị sát hại, trông như bộ xương của những con khỉ nhỏ. Giữa lớp sỏi còn sót lại những mảnh giỏ đan đã bạc màu vì mưa nắng và những mảnh nồi gốm vỡ. Họ tiếp tục lên đường. Con sông kéo theo một hành lang cây xanh màu vôi chạy xuống từ những dãy núi cằn cỗi. Phía tây là dãy Carcaj, lởm chởm rách nát. Phía bắc là những đỉnh dãy Animas, mờ xa và phủ trong một màu xanh lam.
Đêm ấy họ hạ trại trên một cao nguyên đầy gió, giữa những hàng thông piñon và bách xù. Lửa trại bị gió quật ép rạp về một phía trong bóng tối, tung ra những chuỗi tàn lửa đỏ rực lao vun vút qua các bụi cây thấp.

Gia đình hề dỡ đồ khỏi lưng lừa rồi bắt đầu dựng một chiếc lều lớn màu xám, trên tấm bạt chi chít những ký hiệu huyền thuật. Chiếc lều phần phật đập trong gió, nghiêng ngả rồi dựng phắt lên như một vật sống, trước khi xẹp lép xuống và quấn chặt lấy cả gia đình. Cô con gái nằm rạp xuống đất, ghì chặt lấy một góc lều nhưng vẫn bị kéo lê trên cát. Ông lão chỉ còn có thể bước những bước líu ríu xiêu vẹo, trong khi đôi mắt người đàn bà đờ đẫn dưới ánh lửa.

Đám người trong đoàn lặng lẽ đứng nhìn bốn con người ấy. Tất cả bọn họ đều bám chặt lấy tấm vải đang giật đùng đùng trong gió, để rồi bị kéo dần ra khỏi vùng sáng của lửa trại và mất hút vào sa mạc gào thét, tựa như những kẻ khẩn cầu đang tuyệt vọng bám lấy vạt áo của một nữ thần hoang dại và giận dữ. Những tay lính gác ngoài vòng cảnh giới vẫn thấy chiếc lều lặc lè trôi đi trong đêm, nom ghê rợn như một sinh vật khổng lồ.

Khi gia đình hề quay trở lại, họ đang cãi vã om sòm với nhau. Ông lão lại bước ra mép vùng sáng của lửa trại, đăm đăm nhìn vào màn đêm đen đặc đang cuộn dâng cơn thịnh nộ rồi cất tiếng nói với bóng tối ấy. Ông lão vung nắm tay như đang tranh cãi với chính nó, nhất quyết không chịu quay lại cho đến khi người đàn bà sai cậu con trai ra gọi đích thân. Giờ đây ông chỉ ngồi lặng lẽ nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, trong khi cả gia đình thà thốt dỡ lại hành lý. Họ nhìn ông với vẻ bất an, và cả Glanton cũng đăm đăm nhìn ông.​

"Ê, lão diễn trò kia."

Ông lão tung hứng ngẩng đầu lên. Ông đưa một ngón tay chỉ vào ngực mình.

"Phải, chính lão đấy," Glanton nói.

Ông lão đứng dậy, lững thững bước tới.

Glanton đang hút một điếu xì gà đen, nhỏ và dài. Gã ngước nhìn ông lão.

"Biết bói toán không?"

Đôi mắt ông lão đảo nhanh.

"Ý ông là sao?" ông hỏi.

Glanton ngậm điếu xì gà vào miệng rồi dùng hai tay làm động tác như đang xào một bộ bài.

"Bộ bài," gã nói. "Để xem mệnh ấy."

Ông lão vung một tay lên đầy hào hứng.

"Vâng!" ông đáp, vừa gật đầu lia lịa. "Dĩ nhiên là biết ạ!"

Ông giơ một ngón tay lên, ra hiệu chờ một lát, rồi quay người đi về đống hành lý tạp nham mới dỡ xuống một nửa khỏi lưng lừa.
 
CHƯƠNG VII (tiếp)
Khi trở lại, ông mỉm cười niềm nở, hai tay thoăn thoắt đảo bộ bài một cách điêu luyện.

"Tới đây! Tới đây!" ông gọi.

Người đàn bà đi theo ông già. Ông ngồi xổm trước mặt Glanton và nói với gã bằng giọng rất khẽ. Rồi ông quay sang nhìn người đàn bà, xào bộ bài trong tay, đứng dậy nắm lấy tay bà, dẫn bà đi khỏi ánh lửa một quãng rồi đặt bà ngồi quay mặt vào màn đêm. Bà ta vuốt váy xuống, ngồi ngay ngắn và ông lão lấy từ trong áo ra một chiếc khăn tay rồi dùng nó bịt mắt bà lại.​

"Được rồi," ông cất tiếng gọi. "Bà thấy gì không?"

"Không."

"Không có gì à?"

"Không có gì," người đàn bà đáp.

"Được rồi," ông lão nói.

Ông quay người lại, cầm bộ bài trong tay rồi bước về phía Glanton. Người đàn bà ngồi bất động như một phiến đá.

Glanton khẽ xua tay.

"Cho mấy thằng dưới trướng tôi trước."

Ông lão quay lại.

Gã Jackson đen đang ngồi xổm bên đống lửa quan sát. Khi ông lão xòe bộ bài thành hình cánh quạt, gã đứng dậy bước tới. Ông lão ngước nhìn gã. Ông khép bộ bài lại rồi lại xòe ra một lần nữa và đưa bàn tay trái lướt nhẹ phía trên những lá bài như đang làm một nghi thức và rồi ông chìa bộ bài ra. Jackson rút một lá và gã cúi xuống nhìn lá bài trong tay.​

"Được rồi," ông lão nói. "Được rồi."

Ông đưa ngón trỏ lên đôi môi gầy, ra hiệu mọi người phải im lặng và ông cầm lá bài lên, giơ cao quá đầu và quay người lại, lá bài bật lên một tiếng tách khô khốc. Ông nhìn khắp những người đang ngồi quanh đống lửa, họ hút thuốc và dõi theo. Ông chầm chậm đưa cánh tay quét một vòng trước mặt, lá bài vẫn giơ ra. Trên lá bài là hình một gã khờ trong bộ áo hề Harlequin cùng một con mèo.​

"Là gã khờ!" ông cất tiếng gọi.

"Là gã khờ," người đàn bà lặp lại.

Bà hơi ngẩng cằm lên rồi bà bắt đầu cất một giọng ngâm nga đều đều như hát.

Gã Jackson da đen vừa rút bài đứng lặng trang nghiêm, như một bị cáo đang chờ nghe lời buộc tội. Ánh mắt gã chậm rãi lướt qua từng người trong đoàn. Phán quan Holden ngồi ở phía đầu gió của đống lửa, để trần nửa người trên. Ông ta hiện lên như một vị thần khổng lồ, trắng nhợt. Khi ánh mắt của Jackson chạm đến mình, Phán quan mỉm cười. Người đàn bà ngừng hát và ngọn lửa bị gió cuốn rạp xuống.​

"Ai? Ai thế?" ông lão cất tiếng gọi.

Người đàn bà ngập ngừng.

"Gã da đen," bà đáp.

"Là gã da đen!" ông lão hô lớn, vừa quay người vừa giơ cao lá bài.

Quần áo ông giật phần phật trong gió.

Người đàn bà lại cất giọng, lần này lớn hơn.

Còn Jackson da đen thì quay đầu nhìn những người đồng đội của mình.

"Bà ta nói gì vậy?"

Ông lão diễn trò đã quay người lại, cúi đầu chào nhè nhẹ trước những người ngồi quanh đống lửa.

"Bà ta nói gì thế? Tobin?"

Gã cựu linh mục lắc đầu.

"Tà thuật đấy, Nhọ Nồi à. Tà thuật. Đừng bận tâm đến mụ ta."

"Thế bà ta nói gì hả phán quan?"

Phán quan mỉm cười.

Suốt lúc nãy, ông ta vẫn dùng ngón tay cái lần bắt những sinh vật li ti đang ẩn trong những nếp da nhẵn thín không một sợi lông của mình. Giờ đây ông giơ một bàn tay lên, ngón cái và ngón trỏ khép lại thành một cử chỉ nom như đang ban phép lành. Rồi bất chợt ông ta búng một vật vô hình vào ngọn lửa trước mặt.​

“Bà ta nói gì?"

"Ta nghĩ bà ấy muốn nói rằng trong số phận của anh chứa đựng số phận của tất cả chúng ta."

"Thế số phận ấy là gì?"

Phán quan mỉm cười hiền hòa. Những nếp nhăn trên trán ông xếp thành từng gợn, khiến khuôn mặt ông thoáng giống đầu một con cá heo.

"Anh có phải tay nghiện rượu không, Nhọ Nồi?"

"Cũng chẳng hơn người khác bao nhiêu."

"Ta nghĩ bà ấy muốn khuyên anh nên dè chừng con quỷ mang tên rượu. Một lời khuyên khôn ngoan đấy, anh thấy sao?"

"Thế thì cóc phải bói toán gì cả."

"Chính xác. Vị cựu linh mục đây đã nói đúng."

Jackson da đen cau mày nhìn Phán quan.

Nhưng Phán quan chỉ hơi nghiêng người về phía gã.

"Đừng nhăn vầng trán đen của anh với ta, bạn hiền. Rồi đến cuối cùng, mọi điều sẽ được tỏ lộ cho anh. Cũng như cho mọi người."

Những người ngồi quanh đống lửa dường như đều ngẫm nghĩ lời Phán quan nói.

Có vài người quay đầu nhìn Jackson. Gã đứng đó, lúng túng như một kẻ bất đắc dĩ bị đặt vào vị trí trung tâm của buổi lễ và cuối cùng gã lùi khỏi vùng sáng của đống lửa.

Ông lão diễn trò đứng dậy và ông lại xòe bộ bài thành hình cánh quạt, khẽ lướt chúng trước mặt, rồi chậm rãi đi men theo vòng ngoài của đám người, đưa những lá bài ra như thể chính chúng sẽ tự tìm lấy người mà mình thuộc về.

"Ai? Ai tiếp đây?"

Ông thì thầm giữa họ nhưng không một ai thực lòng muốn rút.

Khi ông đến trước mặt Phán quan, Phán quan vẫn ngồi đó với một bàn tay xòe rộng trên cái bụng đồ sộ của mình, chỉ khẽ giơ một ngón tay lên. Rồi ông ta chỉ.

"Cậu Blasarius trẻ tuổi đằng kia."

Ông lão diễn trò chớp mắt vẻ bối rối.

"Gì cơ?"

"Thằng nhãi kia."

"Cậu trai kia à..."

Ông lão thì thầm.

Ông chậm rãi đưa mắt nhìn quanh, cố ý làm ra vẻ huyền bí, cho đến khi ánh mắt dừng lại ở người mà Phán quan vừa nhắc đến. Ông bước qua đám lính đánh thuê, mỗi lúc một nhanh hơn. Ông dừng lại trước mặt thằng bé.

Ông ngồi xổm xuống, xòe bộ bài và nhịp nhàng quạt những lá bài qua lại bằng một động tác chậm rãi, đều đặn, giống hệt những cử chỉ ve vãn của một số loài chim trong mùa giao phối.​

"Cậu rút một lá đi, một lá thôi…"

Ông già khò khè nói.

Thằng bé nhìn ông rồi nhìn quanh những người đang ngồi bên đống lửa.

"Phải, phải..."

Ông lão giục, chìa bộ bài ra. Thằng bé rút một lá. Nó chưa từng thấy loại bài ấy bao giờ, thế nhưng lá bài trong tay lại khiến nó có một cảm giác kỳ lạ như thể nó đã quen thuộc với mình từ rất lâu. Nó lật ngược lá bài và ngắm nhìn rồi lại lật nó trở về.​

Ông lão diễn trò cầm lấy bàn tay của thằng bé, xoay lá bài để nó có thể nhìn rõ.

Rồi ông lấy lại lá bài, giơ cao lên.

"Là lá Bốn Ly!" ông lớn tiếng xướng.

Người đàn bà ngẩng đầu. Bà trông như một hình nhân bị bịt mắt, bỗng được kéo thức dậy bằng một sợi dây vô hình.​

"Bốn Ly," bà cất tiếng.

Đôi vai bà khẽ chuyển động. Gió luồn qua quần áo và mái tóc bà.

Bà thấy ai vậy?" ông lão gọi.

"Một chàng trai trẻ" bà đáp. "Nam nhân trẻ nhất ở đây, một thiếu niên."

"Một thiếu niên!" ông lão hô lớn.

Ông xoay lá bài cho tất cả mọi người cùng nhìn thấy.

Người đàn bà vẫn ngồi bất động như thế, tựa một nữ thần truyền sấm mù lòa, ngự giữa hai cột Boaz và Jachin, được khắc trên chính lá bài duy nhất trong bộ bài của ông lão mà không một ai trong bọn họ sẽ được nhìn thấy khi nó lật ngửa: hai cây cột là thật, lá bài là thật, còn nữ tiên tri thì giả dối đối với tất cả. Rồi bà bắt đầu cất giọng ngâm.

Phán quan cười, nhưng không một tiếng động. Ông ta hơi cúi người về phía trước, như để nhìn thằng nhóc rõ hơn.

Thằng bé nhìn Tobin, rồi nhìn sang David Brown, rồi nhìn cả Glanton. Nhưng chẳng ai trong bọn họ cười. Còn ông lão diễn trò bói vẫn quỳ trước mặt nó, dõi theo nó với một vẻ chăm chú kỳ lạ. Ông đưa mắt theo hướng nhìn của thằng bé, sang Phán quan, rồi lại quay về phía nó. Khi thằng bé cúi xuống nhìn, ông nở một nụ cười méo xệch.

"Cút xa tôi ra." Thằng nhóc nói.

Ông lão lại nghiêng một bên tai về phía nó. Một cử chỉ quá đỗi quen thuộc, đủ dùng với bất cứ thứ tiếng nào. Cái tai ấy đen sạm và méo mó, như thể vì bao lần chìa ra theo cách ấy mà đã phải hứng không biết bao cú tát, hoặc cũng có lẽ chính những lời người đời mang đến cho ông đã làm nó héo quắt từ lâu.

Thằng nhóc lại nói với ông lão một lần nữa.

Nhưng một người tên Tate, quê Kentucky, từng chiến đấu trong đội Biệt Kỵ binh của McCulloch, cũng như Tobin và vài người khác trong bọn, liền nghiêng người thì thầm điều gì đó với ông lão thầy bói rách rưới. Ông bèn đứng dậy, cúi đầu khe khẽ, rồi lặng lẽ bước đi. Người đàn bà đã thôi cất tiếng ngâm. Ông lão đứng giữa cơn gió đang giật mạnh áo quần. Đống lửa quất một dải lửa dài, nóng rực, bò sát mặt đất.​

"Ai? Ai tiếp đây?"

Ông cất tiếng gọi.

"Sang thủ lĩnh đi." Phán quan lên tiếng.

Đôi mắt ông lão lập tức đi tìm Glanton. Gã vẫn ngồi nguyên đó.

Ông lão quay sang nhìn người đàn bà già. Bà vẫn ngồi tách khỏi mọi người, quay mặt về phía bóng tối. Thân hình bà khẽ lắc lư. Những mảnh áo rách bị gió giật phần phật, như thể chính bà đang lao đi cùng màn đêm.

Ông lão đưa một ngón tay lên môi.

Rồi dang hai tay ra, như muốn nói rằng mình không biết phải làm sao.

"Cứ xem cho thủ lĩnh đi." Phán quan rít lên.

Ông lão quay người và men theo vòng người ngồi quanh đống lửa, đến trước mặt Glanton, rồi ngồi xổm xuống, và ông nâng bộ bài lên bằng cả hai tay, xòe chúng ra dâng trước mặt gã. Nếu ông có nói gì, thì những lời ấy cũng đã bị gió giật mất, không ai nghe thấy. Glanton mỉm cười. Đôi mắt gã nheo lại trước những hạt cát rát buốt đang quất vào mặt. Gã đưa một bàn tay ra rồi khựng lại. Gã nhìn ông lão một lúc rồi rút một lá bài.

Ông lão khép bộ bài lại. Nhét nó vào trong áo. Rồi đưa tay định lấy lá bài từ tay Glanton. Có lẽ ông đã chạm vào nó, mà cũng có lẽ không. Lá bài biến mất dù một thoáng trước nó còn nằm trong tay Glanton nhưng thoáng sau đã không còn. Đôi mắt ông lão giật mạnh, đuổi theo hướng lá bài vừa lao vào màn đêm. Có lẽ Glanton đã kịp nhìn thấy mặt lá bài. Nếu vậy thì nó có ý nghĩa gì đối với hắn? Ông lão vươn tay về phía cõi hỗn mang trần trụi nằm ngoài quầng sáng của đống lửa. Nhưng vừa với tới, ông mất thăng bằng, chúi người về phía trước, đổ sầm lên Glanton. Trong một khoảnh khắc kỳ lạ, hai người quấn lấy nhau. Đôi tay già nua của ông lão vòng ôm lấy người thủ lĩnh, như thể ông đang cố kéo gã vào bộ ngực gầy guộc của mình để dỗ dành.

Glanton chửi thề rồi hất văng ông lão ra. Ngay đúng lúc ấy người đàn bà già bắt đầu cất tiếng ngâm.

Glanton đứng phắt dậy.

Người đàn bà ngửa cằm lên, lảm nhảm vào màn đêm như kẻ lên đồng.

"Dẹp mụ ấy đi." Glanton quát.

"Cỗ xe, cỗ xe lớn!" Bà già gào lên. "Lật ngược rồi! Đó chiếc xe tang! Lá bài của chiến tranh... của báo thù. Ta đã thấy nó... không còn bánh xe... trên một dòng sông tối đen..."

Glanton gọi bà ta và bà ta dừng lại như thể đã nghe thấy gã, nhưng không phải vậy. Bà ta dường như bắt được một mạch suy mới trong những lời tiên đoán của mình.

Cô gái đứng lặng bên rìa màn đêm đang gào rít, âm thầm làm dấu thánh.

Ông lão diễn trò vẫn còn quỳ đúng nơi mình vừa bị hất ngã.

"Mất rồi... mất rồi..." Ông thì thầm.

"Đó là một lời nguyền..." Mụ già thét lên. "Ôi cơn gió sao mà hung ác..."

"Nhân danh Chúa, mụ sẽ câm miệng ngay!" Glanton gầm lên, đồng thời rút khẩu súng lục.

"Cỗ xe chở đầy xác chết, chất đầy xương cốt. Còn chàng trai trẻ thì..."

Phán quan, đồ sộ tựa một thần linh cổ xưa, bước thẳng xuyên qua đống lửa. Những ngọn lửa nhả ông ta ra, như thể lửa vốn dĩ là nguyên tố tự nhiên của chính ông ta vậy. Ông ta giang tay ôm lấy Glanton. Có kẻ giật phăng tấm khăn bịt mắt khỏi mặt bà già. Cả bà lẫn ông lão đều bị xô đẩy, đánh đập rồi đuổi ra xa.

Đến khi cả đoàn lần lượt ngả lưng đi ngủ và đống lửa nhỏ kia vẫn gầm rú trong cơn cuồng phong như một sinh vật sống, thì bốn người nhà gánh diễn vẫn co cụm ngồi đó nơi rìa quầng sáng, giữa đống đồ nghề kỳ quái của mình. Họ lặng lẽ nhìn những ngọn lửa rách rưới bị gió cuốn đi như thể bị hút bởi một xoáy nước nào đó ngoài khoảng không hoang vu, một xoáy nước mà đối với nó, mọi sự di chuyển hay tính toán của con người đều trở nên vô nghĩa.​
 
CHƯƠNG VII (tiếp)

Vào buổi sáng khi họ cưỡi ngựa ra đi, đó là một ngày nhợt nhạt khi mặt trời chưa lên và cơn gió đã dịu vào ban đêm, và những thứ của đêm đã biến mất. Ông lão diễn trò cưỡi con lừa của mình lóc cóc lên đầu đoàn, sánh vai Glanton, và họ cùng nhau cưỡi ngựa đi, và họ vẫn cưỡi ngựa như vậy tới buổi chiều khi cả đoàn tiến vào thị trấn Janos.

Một pháo đài cổ có tường bao quanh, hoàn toàn được xây bằng bùn, một nhà thờ bùn đắp cao và những tháp canh bùn, và tất cả đều bị mưa rửa trôi, lồi lõm và đang sụt lở trong một sự mục nhão mềm mại. Sự xuất hiện của những tay đánh thuê này được báo trước bởi những con chó ốm yếu hú lên đau đớn và lủi thủi giữa những bức tường đang đổ nát.

Họ cưỡi ngựa qua nhà thờ, Những quả chuông Tây Ban Nha cổ, phủ một màu xanh lục của đồng bị thời gian ăn mòn, treo lủng lẳng trên một cây xà bắc giữa hai trụ đất thấp trông như những cột mộ đá thô sơ. Những đứa trẻ mắt đen nhìn từ các túp lều. Không khí nặng trĩu khói than củi, và một vài ông già nghèo khổ ngồi im lặng ngay cửa ra vào, và nhiều ngôi nhà đã sụp đổ và đổ nát và được dùng làm chuồng. Một ông già với đôi mắt đục ngầu loạng choạng bước tới chỗ họ và đưa tay ra. "Một chút bố thí thôi...", ông khàn khàn gọi lên về phía những con ngựa đang đi qua. "Vì Chúa xót thương…"

Ở quảng trường, hai người Delaware và người đi trinh sát Webster đang ngồi xổm trong bụi cùng với một bà già khô quắt, có làn da trắng xám như đất sét nung. Đó là một bà già khô đét, nửa trần truồng, đôi vú nhăn nheo như cà tím rũ xuống dưới tấm khăn choàng bà đang mặc. Bà nhìn chằm chằm xuống đất và không ngước nhìn lên ngay cả khi những con ngựa đứng vây quanh bà. Glanton nhìn xuống quảng trường. Thị trấn có vẻ vắng vẻ. Có một đơn vị lính nhỏ đồn trú ở đây nhưng họ không muốn lộ diện. Bụi đang thổi qua các con đường. Con ngựa của gã cúi xuống, đánh hơi bà già, giật đầu và run lên, và Glanton vỗ cổ con vật và xuống ngựa.

"Bà ta ở trong một cái trại xẻ thịt cách đây khoảng tám dặm ngược dòng sông", Webster nói. "Bà ta không đi được."

"Chỗ đó có bao nhiêu người?"

"Chúng tôi tính chừng khoảng mười lăm hoặc hai mươi. Họ không có gia súc gì đáng kể. Tôi không biết bà ta đang làm gì ở đó."
Glanton bước qua trước con ngựa, luồn dây cương ra sau lưng.

"Coi chừng bà ta, thủ trưởng. Bà ta cắn đấy."

Bà ta đã ngước mắt lên ngang tầm đầu gối gã. Glanton đẩy con ngựa ra sau và rút một trong những khẩu súng lục yên ngựa nặng nề từ bao da và lên cò.

"Coi chừng đấy."

Một vài người trong bọn lùi lại.

Người phụ nữ ngước nhìn. Không có lòng can đảm cũng chẳng có sự tuyệt vọng trong đôi mắt già nua ấy. Gã chỉ tay trái và bà ta quay đầu để nhìn theo tay hắn, và hắn đặt khẩu súng vào đầu bà ta và bóp cò.

Tiếng nổ vang khắp cả công viên nhỏ bé u buồn đó. Một vài con ngựa giật mình và bước nép sang bên. Một lỗ hổng to bằng nắm tay bật ra từ phía bên kia đầu người đàn bà trong một vòi máu lớn, và bà ta ngã xuống và nằm chết trong vũng máu của mình, không thể cứu chữa. Glanton đã đặt khẩu súng ở vị trí nửa cò và dùng ngón cái phẩy đi lớp kíp nổ đã dùng và đang chuẩn bị nạp lại trục đạn. "Này McGill", gã nói.

Một người Mexico, một kẻ lạc loài bởi cái dòng máu của mình trong cái đám da trắng đó, bước tới.

"Lấy cái chiến lợi phẩm đó về đây."

Tên Mễ rút một con dao lột da từ thắt lưng và bước đến chỗ bà già nằm, nắm lấy tóc bà và vòng quanh cổ tay mình, luồn lưỡi dao quanh hộp sọ bà và xé toạc da đầu.

Glanton nhìn những người đàn ông. Họ đứng đó, một số nhìn xuống bà già, một số đã vội lo cho ngựa hoặc đồ đạc của họ. Chỉ có những tân binh là đang nhìn Glanton. Gã đặt một viên đạn súng vào miệng ổ đạn, rồi ngước mắt nhìn qua quảng trường. Ông già làm hề và gia đình ông ta đứng xếp thành hàng như những nhân chứng, và phía sau họ, trên mặt tiền của dãy nhà đất bùn dài ngoằng, những khuôn mặt đang nhìn từ các cánh cửa và các ô cửa sổ trống biến mất như những con rối trong một phòng trưng bày trước cái nhìn chậm rãi của gã. Gã đẩy viên đạn vào sâu, đặt hạt nổ lên, xoay khẩu súng lục nặng nề trong tay và trả nó vào bao da bên vai ngựa, nhận lại chiến lợi phẩm còn nhỏ giọt từ McGill và phơi nó dưới ánh mặt trời như cách một người đánh giá bộ lông của một con vật, rồi đưa nó trả lại và nắm lấy dây cương kéo con ngựa của mình băng qua quảng trường về phía nước ở bến đò.

Bọn họ dựng trại trong một lùm cây dương bên kia con suối, ngay sau bức tường của thị trấn, và khi màn đêm buông xuống, từng nhóm nhỏ tản vào những con phố mờ khói. Gia đình gánh xiếc đã dựng một cái lều vải nhỏ trên quảng trường đầy bụi và cắm vài cây cột xung quanh với những ngọn đèn dầu cháy sáng. Ông già tung hứng đang đánh một thứ trống lục lạc làm bằng thiếc và da sống, gọi mời bằng giọng the thé cao vút những tiết mục giải trí của mình, trong khi người đàn bà hét lên “Mời vào, mời vào!", vẫy tay quanh mình trong một cử chỉ của màn trình diễn vĩ đại nhất. Toadvine và thằng nhóc đứng xem giữa đám dân chúng đang tụ tập. Bathcat nghiêng người và nói với cả hai.

“Nhìn đằng kia đi, mấy cậu.”

Họ quay lại nhìn về nơi gã chỉ. Gã da đen đứng trần đến thắt lưng phía sau cái lều, và khi người tung hứng xoay người với một cái vung tay, cô gái đẩy gã một cái và hắn nhảy ra khỏi lều và sải bước xung quanh với những tư thế kỳ lạ dưới ánh đuốc đang cháy bập bùng.​
 
CHƯƠNG VIII

Một quán rượu khác, thêm một cố vấn khác – Monte – Một vụ đâm chém – Góc tối nhất quán rượu lại là chỗ dễ thấy nhất – Người Sereno – Cưỡi ngựa về hướng bắc – Trại thịt – Lão cựu binh – Dưới những đỉnh núi Animas – Một cuộc đối đầu và một mạng người – Một ẩn sĩ khác, một bình minh khác.

Họ dừng lại bên ngoài quán rượu, góp chung tiền lại với nhau, và Toadvine đẩy tấm da bò khô treo làm cửa sang một bên. Họ bước vào một nơi chỉ toàn bóng tối và mơ hồ không rõ hình thù. Một ngọn đèn duy nhất treo lơ lửng từ một thanh xà ngang trên trần, và trong bóng tối, những bóng người đen thùi lùi ngồi hút thuốc. Họ rảo bước qua phòng đến một quầy bar lát gạch nung. Căn phòng nồng nặc mùi khói củi và mồ hôi. Một gã đàn ông nhỏ thó hiện ra trước mặt họ và đặt hai tay lên mặt gạch một cách trang trọng.

“Xin hỏi quý khách cần gì”, gã bồi nói.

Toadvine cởi mũ, đặt lên quầy bar và đưa bàn tay như vuốt thú lên mái tóc.

“Quán này có gì mà một người có thể uống với rủi ro bị chọc mù mắt hay bị giết ở mức tối thiểu không?”

Sao cơ?

Gã bèn giơ ngón tay cái chỉ vào cổ mình. "Có gì để uống không?", gã nói.

Tay bồi quay lại nhìn phía sau mình, ngắm nghía những thứ đồ uống của gã. Gã có vẻ không chắc liệu thứ gì ở đó có đáp ứng được yêu cầu của họ không.

"Rượu thùa?"

"Vẫn uống được chứ?"

"Đưa ra đây", Bathcat nói.

Tay bồi rót những phần rượu từ một bình đất nung vào ba cái cốc thiếc móp méo và cẩn thận đẩy chúng ra phía trước như những con cờ trên bàn cờ.

"Bao nhiêu?", Toadvine nói.

Người pha chế có vẻ lo lắng. "Sáu..?", hắn nói.

"Sáu cái gì?"

Người đàn ông giơ sáu ngón tay lên.

"Vậy sáu xu", Bathcat nói.

Toadvine đếm từng đồng xu đồng đặt lên quầy, uống cạn cốc của mình và trả tiền thêm. Gã lắc ngón tay ra hiệu về cả ba cốc. Thằng nhóc cầm cốc của mình lên, uống cạn rồi đặt nó xuống. Rượu thì hôi, chua, thoang thoảng mùi nhựa than đá. Nó đứng như những kẻ khác, quay lưng vào quầy bar và nhìn quanh căn phòng. Tại một chiếc bàn ở góc xa, mấy gã đàn ông đang đánh bài dưới ánh sáng của một ngọn nến bằng mỡ động vật lẻ loi. Dọc theo bức tường đối diện, những bóng người co ro ngồi xổm dường như xa lạ với ánh sáng, nhìn chằm chằm vào những đám lính Mỹ mà chẳng biểu lộ chút cảm xúc nào.

"Có một ván bài dành cho các người đấy", Toadvine nói. "Chơi bài monte trong bóng tối với một lũ lai." Gã nâng cốc lên, uống cạn và đặt nó xuống quầy, rồi đếm số tiền xu còn lại. Một người đàn ông đang lê bước về phía họ từ trong bóng tối. Ông ta kẹp một cái chai dưới cánh tay, cẩn thận đặt nó lên mặt gạch cùng với cốc của mình, rồi nói gì đó với tên bồi và gã mang ra cho ông một bình nước đất nung. Ông ta xoay cái bình sao cho quai của nó hướng về phía tay phải, rồi nhìn thằng nhóc. Người này đã già và đội một chiếc mũ vành bằng loại không còn được thấy nhiều ở vùng đất đó nữa, ông mặc một chiếc quần lót và áo sơ mi bằng vải cotton trắng bẩn. Đôi dép da mà ông mang trông giống như những con cá khô đen thui buộc chặt vào lòng bàn chân ông.

"Cậu là người Texas?", ông nói.

Thằng nhóc nhìn sang Toadvine.

"Chắc chắn là người Texas", ông già nói. "Ta đã từng ở Texas ba năm."

Ông giơ tay lên. Ngón trỏ đã mất từ đốt đầu tiên, và có lẽ ông đang cho họ thấy điều gì đã xảy ra ở Texas, hoặc có lẽ ông chỉ định đếm số năm. Ông hạ tay xuống và quay vào quầy, rót rượu vào cốc, rồi cầm bình nước lên và rót thêm một ít một cách tiết kiệm. Ông uống một ngụm, đặt cốc xuống và quay sang Toadvine. Ông có chòm râu trắng mỏng trên cằm và ông lấy mu bàn tay lau chúng trước khi ngước nhìn lên lần nữa.

"Các anh là hội chiến binh. Chống lại bọn man di."

Toadvine chẳng hiểu gì. Gã trông như một tên hiệp sĩ quê mùa bị một con yêu tinh hỏi những câu đố hóc búa.

Ông già vờ làm như đưa một khẩu súng lên vai và bắt chước tiếng động bằng miệng. Ông nhìn đám người Mỹ. "Các anh đây giết đám Apache, phải không?"

Toadvine quay sang Bathcat.

"Lão này muốn cái quái gì vậy?" gã hỏi.

Gã người Tasmania kia cũng đưa bàn tay chỉ còn ba ngón của mình quệt ngang miệng, nhưng chẳng để lộ chút vẻ đồng cảm nào với ông lão.

"Chắc lão say khướt rồi," gã nói. "Hoặc là điên."

Toadvine chống khuỷu tay lên mép quầy phía sau lưng. Gã nhìn ông già rồi khạc một bãi nước bọt xuống nền.

"Điên còn hơn cả một thằng mọi đen nô lệ đang bỏ trốn nữa, phải không?" gã nói.

Từ góc xa bên kia căn phòng vọng lại một tiếng rên. Một người đàn ông đứng dậy, men theo bức tường rồi cúi xuống nói nhỏ với những người khác. Tiếng rên lại cất lên. Ông lão đưa bàn tay lướt ngang trước mặt mình hai lần, rồi hôn lên đầu các ngón tay và ngước mắt nhìn lên.

"Bọn họ trả các anh bao nhiêu tiền?" ông hỏi.

Không ai thèm đáp.

"Giết được Gómez, họ trả các anh nhiều tiền lắm."

Người đàn ông trong bóng tối ở bức tường phía xa lại rên lên. "Lạy Mẹ Thiên Chúa..", hắn rền rĩ.

"Gómez, Gómez", ông già nói. "Ngay cả Gómez. Ai to gan chống lại người Tejano các người chứ? Họ là những người lính. Ôi những người lính dũng cảm biết bao. Máu của Gómez, máu của nhân dân..."

Ông ngước nhìn lên. "Máu", ông nói. "Vùng đất này đã đổ rất nhiều máu. Cái xứ Mexico này. Đây là một vùng đất khát máu. Máu của cả ngàn Đấng Ki-tô. Cũng chẳng là gì."

Ông già làm một cử chỉ về phía thế giới bên ngoài, nơi tất cả vùng đất đều chìm trong bóng tối và tất cả là một tảng đá bàn thờ vĩ đại nhuốm màu ô uế. Ông quay lại, rót rượu và rót thêm từ bình nước, với một cử chỉ điều độ và uống.

Thằng nhóc quan sát ông. Nó nhìn ông uống và nhìn ông lau miệng. Khi ông quay đi, ông không nói với thằng nhóc cũng chẳng nói với Toadvine, nhưng có vẻ như đang nói với cả căn phòng.

"Tôi cầu Chúa cứu rỗi cho vùng đất này. Tôi đang nói với các anh em ở đây. Tôi cầu nguyện dù tôi không vào nhà thờ. Tôi cần gì phải nói chuyện với mấy con búp bê ở đó? Tôi nói ở đây."

Ông chỉ vào ngực mình. Khi quay sang những người Mỹ, giọng ông lại dịu đi. "Các anh là những kỵ mã tài ba", ông nói. "Các anh giết lũ man di. Chúng không thể trốn khỏi các anh. Nhưng có một kỵ mã khác, và ta nghĩ rằng không một người nào có thể trốn khỏi hắn. Ta đã từng là một người lính. Nó như một giấc mơ vậy. Khi ngay cả xương cốt cũng đã biến mất trong sa mạc, những giấc mơ vẫn nói với chúng ta, dù ta sẽ không bao giờ thức dậy nữa."

Ông uống cạn cốc, cầm lấy chai rượu của mình và lặng lẽ bước đi trên đôi dép của mình vào sâu trong bóng mờ của quán rượu. Người đàn ông ở bức tường lại rên rỉ và cầu gọi Chúa của hắn. Gã người Tasmania và người pha chế nói chuyện với nhau, và tay bồi chỉ về phía bóng tối trong góc rồi lắc đầu. Đám người Mỹ uống cạn những cốc cuối cùng, Toadvine đẩy mấy đồng tlaco nhỏ về phía tay bồi và họ bước ra ngoài.​

"Đó hẳn là con trai của ông lão vừa rồi", Bathcat nói về tên đang rên rỉ ở bức tường.

"Ai cơ?"

"Thằng khờ trong góc, bị đâm bằng dao ấy."

"Nó bị đâm à?"

"Một trong mấy gã ở bàn bài đã đâm nó. Chúng đang đánh bài và một thằng trong số đó đâm nó."

"Sao nó không chuồn đi chỗ khác?"

"Tôi cũng đã định hỏi nó câu đó."

"Thằng ấy nói gì?"

"Nó chỉ hỏi lại tôi một câu rằng: đi đâu bây giờ?"

Họ rảo bước qua những con phố hẹp có tường bao quanh về phía cổng thành và những đống lửa trại ở phía xa. Một giọng nói đang cất lên: "Mười giờ rưỡi. Đêm quang." Đó là người canh gác đang đi tuần, và ông ta đi ngang qua họ với chiếc đèn lồng của mình, nhẹ nhàng gọi giờ.

Trong cái đêm trước rạng đông, những âm thanh báo trước cảnh sắp diễn ra. Tiếng chim đầu tiên trên cây dọc theo dòng sông, tiếng lách cách của dây cương, tiếng khịt mũi của ngựa và tiếng gặm cỏ nhẹ nhàng. Trong ngôi làng còn chìm trong bóng tối, gà trống đã bắt đầu gáy. Không khí sực mùi ngựa và than củi. Trại bắt đầu náo động. Ngồi khắp nơi trong ánh sáng đang dần lên là lũ trẻ từ thị trấn. Không một người đàn ông nào đang thức dậy biết chúng đã ngồi đó trong bóng tối và im lặng bao lâu.

Khi họ cưỡi ngựa qua quảng trường, xác người đàn bà xấu số hôm qua đã biến mất và bụi đã được cào phẳng lại. Những ngọn đèn của gia đình xiếc đứng trơ trọi và đen xì trên đầu cọc, và đống lửa trước lều vải đã tàn nguội. Một bà già đang chặt củi ngẩng lên và đứng đó với cây rìu trong hai tay khi họ đi qua.

Họ cưỡi ngựa băng qua khu trại của bọn da đỏ đã bị cướp phá vào giữa buổi sáng, những tấm thịt đen sì được phơi trên bụi cây hoặc treo trên cọc như những thứ quần áo kỳ lạ màu tối. Da nai được căng trên mặt đất, và những khúc xương trắng hoặc nhuốm đỏ nằm rải rác trên những tảng đá trong một đống hỗn độn nguyên thủy. Những con ngựa vểnh tai lên và bước nhanh hơn. Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Vào buổi chiều, gã Jackson đen đuổi kịp họ, con ngựa của gã trầy xước và gần như kiệt sức. Glanton quay người trên yên và nhìn gã bằng con mắt dò xét. Rồi gã thúc ngựa tiến lên, và tên da đen hòa vào cùng những người bạn đồng hành da nhợt nhạt của mình, và tất cả lại tiếp tục cưỡi ngựa như trước.
Mãi đến chiều tối hôm ấy, họ mới nhận ra lão cựu binh đã mất tích. Phán quan Holden len qua làn khói từ những bếp lửa nấu ăn, bước đến ngồi xổm trước mặt Toadvine và thằng bé.

"Lão cựu binh Chambers đâu rồi?" ông ta hỏi.

"Tôi nghĩ lão bỏ đi rồi."

"Bỏ đi?"

"Tôi nghĩ vậy."

"Sáng nay lão có cưỡi ngựa đi cùng không?"

"Không. Lão không đi với bọn tôi."

"Ta vẫn tưởng anh là người thay mặt cho nhóm của mình."

Toadvine khạc xuống đất.

"Xem ra chuyện của hắn thì hắn tự quyết lấy."

"Lần cuối anh thấy hắn là khi nào?"

"Chiều hôm qua. Nhưng sáng nay thì không."

"Sáng nay thì không?" Phán quan nhìn hắn.

"Quỷ tha ma bắt", Toadvine nói. "Tôi nghĩ ông biết là hắn đã đi rồi chứ. Đâu phải hắn nhỏ bé đến nỗi ông không thể nào nhận ra hắn đã lỉnh đi."

Tay phán quan nhìn thằng nhóc và lại nhìn Toadvine. Rồi ông ta đứng dậy và quay trở lại.
 
CHƯƠNG VIII (tiếp)
Sáng hôm sau, hai người Delaware cũng đã biến mất. Họ tiếp tục cưỡi ngựa. Đến trưa, họ bắt đầu leo lên về phía đèo trong dãy núi và cưỡi ngựa qua những bụi oải hương hoang dã hay cỏ xà phòng, dưới những đỉnh núi Animas. Cái bóng của một con đại bàng đã cất cánh từ những thành lũy cao chót vót và lởm chởm đá đó lướt qua hàng người cưỡi ngựa bên dưới, và họ ngước nhìn để đánh dấu nơi nó đang bay lượn trong cái khoảng không vô tận màu xanh giòn tan và hoàn hảo ấy. Họ đi qua những rừng thông lùn và sồi bụi, vượt qua đèo trong một khu rừng thông cao, và tiếp tục cưỡi ngựa xuyên qua dãy núi.

Đến chiều, họ ra đến một vùng cao nguyên có thể nhìn thấy toàn bộ vùng đất phía bắc. Mặt trời ở phía tây nằm trong một biển lửa lớn, nơi có một cột nhỏ những con dơi sa mạc liên tục bay lên, và phía bắc dọc theo đường chân trời run rẩy của thế giới, bụi đang thổi xuống khoảng không như khói của những đạo quân xa xôi. Những dãy núi nhăn nheo như giấy gói thịt nằm trong những nếp gấp bóng đen sắc nét dưới bóng hoàng hôn xanh dài lê thê, và ở khoảng giữa, lòng hồ khô được đánh bóng lấp lánh như Biển Mưa trên mặt trăng, và những đàn hươu đang di chuyển về phía bắc trong những phút cuối của ánh sáng chiều tà, bị lũ sói có màu sắc giống hệt màu của nền cát sa mạc, săn đuổi trên thảo nguyên.

Glanton ngồi trên lưng ngựa và nhìn ra xa phong cảnh ấy một lúc lâu. Thưa thớt trên cao nguyên, những cây cỏ khô quất vào gió như tiếng vọng dài của trái đất về những ngọn thương và ngọn giáo trong những cuộc giao tranh xưa vĩnh viễn không được ghi chép. Cả bầu trời dường như đầy rẫy những điều bất ổn, và màn đêm buông xuống vùng đất chiều tối một cách nhanh chóng, những chú chim nhỏ màu xám bay lượn và kêu lên nhè nhẹ sau mặt trời vừa khuất. Gã thúc ngựa tiến lên. Gã đi qua và tất cả cũng đi qua vào sự hủy diệt im lìm đầy bí ẩn của bóng tối.

Đêm đó họ cắm trại trên thảo nguyên phía trước dưới chân một sườn dốc đá vụn, và vụ án mạng đã được tính toán từ trước đã xảy ra. Gã Jackson trắng đã say xỉn ở Janos và hắn đã cưỡi ngựa hai ngày xuyên qua núi với đôi mắt đỏ ngầu và vẻ mặt cau có. Giờ hắn ngồi bù xù bên đống lửa, cởi giày ra, uống rượu mạnh từ một cái bình, bị bao quanh bởi những người bạn đồng hành, tiếng tru của bầy sói và sự quan phòng của màn đêm. Hắn đang ngồi như vậy thì gã Jackson da đen tiến đến gần đống lửa, ném xuống tấm thảm lót yên của chính gã và ngồi lên đó, rồi bắt đầu nhồi thuốc vào tẩu.

Có hai đống lửa trong trại này và không có quy tắc nào, dù thực tế hay ngầm định, về việc ai nên sử dụng đống nào. Nhưng khi tên Jackson trắng nhìn sang đống lửa kia, hắn thấy người Delaware, John McGill và những người mới trong đoàn đã ăn tối ở đó, và với một cử chỉ cùng một câu chửi thề lắp bắp, hắn cảnh cáo gã da đen tránh ra.

Ở đây, vượt ra ngoài những phán xét của con người, mọi giao ước đều mong manh. Thằng da đen ngước nhìn lên từ tẩu thuốc của nó. Quanh đống lửa đó có những kẻ có đôi mắt phản chiếu ánh sáng như những cục than hồng nóng hừng trong hốc mắt, và những kẻ có đôi mắt không như vậy, còn đôi mắt của gã da đen thì như những hành lang để màn đêm trần trụi, chưa từng được cứu chuộc, lặng lẽ đi xuyên qua từ phần bóng tối nằm phía sau hắn sang phần bóng tối vẫn còn ở phía trước.. "Trong toán này, ai muốn ngồi đâu thì ngồi." gã nói.

Tên Jackson trắng lắc đầu, một mắt nhắm hờ, môi chùng xuống. Thắt lưng súng của hắn cuộn tròn trên mặt đất. Hắn với tới và rút khẩu súng lục ra, lên cò. Bốn người đàn ông quanh đó đứng dậy và bước ra xa.

“Mày định bắn tao à?" Jackson da đen hỏi.

"Nếu cái đít đen nhẻm của mày không cút khỏi đống lửa này, tao sẽ giết mày như một con chó."

Jackson da đen quay nhìn về phía Glanton. Glanton nhìn chằm chằm vào gã. Gã đành đưa tẩu thuốc vào miệng, đứng dậy, nhặt tấm thảm lót yên và gấp nó lại vắt qua cánh tay.

"Đó là lời cuối cùng của mày?"​

"Chắc chắn như phán quyết của Chúa."

Gã da đen nhìn một lần nữa qua ngọn lửa về phía Glanton, rồi gã bước đi trong bóng tối. Tên Jackson trắng hạ cò súng và đặt nó xuống đất trước mặt. Hai người khác quay lại đống lửa và đứng đó không yên. Jackson trắng ngồi với hai chân bắt chéo. Một tay đặt trong lòng, tay kia duỗi ra trên đầu gối cầm một điếu xì gà đen mảnh. Người gần hắn nhất là Tobin, và khi gã da đen bước ra khỏi bóng tối, hai tay cầm con dao găm Bowie như một thứ nghi lễ nào đó, Tobin bắt đầu đứng dậy. Tên da trắng ngước nhìn lên trong cơn say, và khi gã Jackson đen bước tới, chỉ một nhát chém đã chặt đứt phăng đầu hắn.

Hai dòng máu đen đặc phun lên thành hai dải lớn, còn hai tia máu mảnh hơn uốn cong như những con rắn, vọt ra từ phần cổ cụt, rít lên rồi cắm vào ngọn lửa. Cái đầu lăn sang bên trái, dừng lại dưới chân cựu linh mục. Đôi mắt vẫn mở trừng trừng trong nỗi kinh hoàng. Tobin giật chân lại, đứng dậy và lùi ra sau. Ngọn lửa bốc hơi và đen lại, một đám khói xám bốc lên, và những vòm máu hình cột dần thu nhỏ lại cho đến khi chỉ còn phần cổ sôi nhẹ như một nồi hầm, rồi đến đó cũng ngừng hẳn. Hắn vẫn ngồi như trước, trừ việc không còn đầu, thấm đẫm máu, điếu xì gà vẫn kẹp giữa những ngón tay, thân xác nghiêng về phía cái hang tối đang âm ỉ trong ngọn lửa, nơi sinh mạng của hắn đã tan biến..

Glanton đứng dậy. Đám đàn ông bước ra xa. Không ai nói gì. Khi họ lên đường vào rạng đông, Jackson da trắng không đầu vẫn đang ngồi như một ẩn sĩ bị sát hại, chân trần trong tro tàn và chiếc áo sơ mi. Ai đó đã lấy khẩu súng của hắn nhưng đôi giày ống vẫn đứng nơi hắn đã đặt chúng. Đoàn người tiếp tục cưỡi ngựa. Họ chưa đi được một giờ trên vùng đồng bằng đó thì đã bị người Apache tấn công.​
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG IX

Một cuộc phục kích – Xác tên Apache – Vùng đất trống rỗng – Một hồ thạch cao – Các xoáy bụi – Ngựa bị mù tuyết – Người Delaware quay trở lại – Một cuộc điều tra pháp y – Xe ngựa ma – Các mỏ đồng – Những kẻ chiếm đất – Một con ngựa bị rắn cắn – Phán quan bàn về dấu tích địa chất – Đứa bé chết – Về thị sai và sự dẫn đường sai lầm trong những điều đã qua – Những người săn bò.
Họ đang băng qua rìa phía tây của vùng đồng bằng khô cằn thì Glanton dừng lại. Gã quay người và đặt một tay lên yên ngựa gỗ, nhìn về phía mặt trời đang mới nhô lên trên những ngọn núi trọc lốc và lấm chấm ruồi ở phía đông. Nền đất bằng phẳng của vùng playa trải dài mịn màng, không một dấu vết in trên đó, và những ngọn núi như những hòn đảo xanh biếc đứng chơ vơ trên khoảng không, tựa những ngôi đền đang nổi.

Toadvine và thằng nhóc ngồi trên lưng ngựa, cùng những người khác nhìn ngắm cảnh hoang vu ấy. Ngoài kia trên cái bãi giữa hồ, một biển lạnh đã vỡ tan, và thứ nước đã biến mất từ ngàn năm nay giờ đây gợn sóng ánh bạc trong làn gió ban mai.

“Nghe như bầy chó săn ấy nhỉ”, Toadvine nói.

“Với tôi thì nghe như bầy ngỗng.”

Bất chợt Bathcat và một người Delaware quay ngoắt đầu ngựa, quất roi thúc giục rồi cất tiếng gọi lớn. Cả toán lập tức quay đầu, chen lấn hỗn độn rồi nhanh chóng dàn hàng men theo lòng hồ cạn về phía dải bụi cây thưa thớt đánh dấu bờ hồ. Mọi người nhanh chóng nhảy khỏi yên, lập tức dùng những vòng dây chuẩn bị sẵn để cột chặt hai chân trước của ngựa.

Khi đàn ngựa đã nằm yên và mọi người đã rạp mình xuống dưới những bụi nhựa ruồi, súng lăm lăm trong tay, thì những kỵ binh Apache bắt đầu xuất hiện xa xa ngoài lòng hồ. Ban đầu, họ chỉ là một dải mỏng như bức phù điêu gồm những cung thủ trên lưng ngựa, rung rinh và chao nghiêng trong làn hơi nóng bốc lên từ mặt đất. Họ cưỡi ngang qua hướng mặt trời rồi lần lượt biến mất, để rồi lại hiện ra. Dưới ánh nắng chói chang, tất cả chỉ còn là những cái bóng đen sì. Họ phi lên từ cái mặt hồ vốn đã biến mất ấy như những bóng ma bị thiêu cháy, vó ngựa tung bọt sóng ở nơi kỳ thực chẳng hề có lấy một giọt nước. Họ lúc thì chìm vào ánh mặt trời, lúc lại chìm dưới lòng hồ; thân hình rung lên, nhòe lẫn vào nhau rồi lại tách ra. Những lớp không khí chồng lên nhau tạo nên vô số hóa thân rực lửa của họ.

Dần dần, tất cả bắt đầu kết tụ thành hình. Và rồi, trên bầu trời vừa bị ánh bình minh xé mở, hiện lên một khung cảnh địa ngục phản chiếu chính đội hình ấy: những hàng kỵ binh khổng lồ cưỡi trên những con ngựa lộn ngược giữa không trung. Chân ngựa dài đến mức phi lý, như đang giẫm nát những dải mây mỏng trên cao. Những chiến binh đang gầm hú, hay đúng hơn là những kẻ bạo chiến dị biệt đó, lủng lẳng dưới bụng ngựa, đồ sộ và quái dị như những sinh vật ghép xác. Tiếng thét man dại của họ vang vọng khắp mặt lòng hồ bằng phẳng và hoang vu ấy, tựa như tiếng của những linh hồn vừa chui qua một mũi chỉ lỗi trên tấm vải thế giới để rơi xuống cõi trần.

"Chúng sẽ vòng sang bên phải," Glanton gọi lớn. Và vừa dứt lời, bọn chúng quả nhiên bẻ hướng như vậy, để thuận tay cầm cung. Những mũi tên bay vút lên nền trời xanh, ánh mặt trời lóe trên những chùm lông đuôi tên của chúng rồi bất thần lao nhanh xuống, xé gió bằng một tiếng rít mỏng và khô, như tiếng cánh ngỗng trời lướt qua. Phát súng trường đầu tiên nổ vang.

Thằng bé nằm rạp trên bụng, hai tay ghì chặt khẩu súng lục Walker đồ sộ. Nó bóp cò từng phát một, chậm rãi và cẩn trọng, như thể tất cả những việc này nó đã từng làm từ trước, đâu đó trong một giấc mơ. Những chiến binh kia vụt lướt qua cách họ chưa đầy một trăm feet, bốn mươi, năm mươi người cả thảy, rồi tiếp tục phi dọc mép lòng hồ. Xa dần, họ bắt đầu vỡ vụn giữa những tầng hơi nóng xếp lớp dày đặc, tan rã trong im lặng, rồi biến mất. Cả bọn nằm dưới các bụi nhựa ruồi nạp đạn lại cho súng. Một con ngựa con nằm trên cát thở đều đều, và những con khác đứng đó mang trên mình những mũi tên với một sự kiên nhẫn lạ lùng. Tate và tay bác sĩ Irving lùi lại để kiểm tra chúng. Những người khác nằm nhìn ra lòng hồ cạn.

Họ bước ra ngoài: Toadvine, Glanton và viên Phán quan. Họ nhặt lên một khẩu súng trường nòng ngắn bọc da sống, trên báng súng đóng đinh đồng đầu tròn thành nhiều hình vẽ khác nhau. Vị quan tòa nhìn về phương bắc dọc theo bờ hồ khô nhợt nhạt, nơi bọn man di đã chạy trốn. Ông ta đưa khẩu súng cho Toadvine và họ tiếp tục bước.

Người chết nằm trong một dòng cát phù sa. Hắn ở trần, bận mỗi đôi giày da và một chiếc quần rộng kiểu Mexico. Đôi giày có mũi nhọn như giày biểu diễn, với đế da sống và thân giày cao cuộn xuống quanh đầu gối và buộc lại. Cát trong dòng phù sa thẫm màu máu. Họ đứng đó trong cái nóng không một làn gió ở rìa hồ khô, và Glanton dùng ủng đá hắn lật người. Khuôn mặt sơn vẽ hiện lên, cát dính vào nhãn cầu, cát dính vào lớp mỡ ôi thiu mà hắn đã bôi lên thân mình. Người ta có thể thấy lỗ đạn từ khẩu súng trường của Toadvine đã xuyên vào phía trên xương sườn dưới. Tóc hắn dài và đen, xỉn màu bụi và vài con rận bò lổm ngổm. Trên má có những vệt sơn trắng, phía trên mũi có các hình V sơn và dưới mắt cùng trên cằm có những hình vẽ màu đỏ thẫm. Hắn già và trên người có vết thương do giáo đã lành ngay phía trên xương hông, và vết thương kiếm cũ trên má trái chạy đến khóe mắt. Những vết sẹo này được trang trí dọc theo chiều dài bằng các hình xăm, có lẽ đã mờ đi vì tuổi tác, nhưng không có bất kỳ gì tương ứng với chúng trong vùng sa mạc xung quanh mà người ta biết đến.

Phán quan quỳ xuống, rút dao cắt đứt sợi dây đeo của chiếc túi chiến bằng da hổ núi mà người chết mang theo rồi trút tất cả xuống cát. Trong túi có một tấm che mắt làm từ cánh quạ, một chuỗi hạt kết bằng hạt quả khô, vài viên đá đánh lửa và một nắm đạn chì. Còn có cả một hòn kết thạch, hay sỏi giải độc, lấy từ nội tạng của một loài thú nào đó. Phán quan cầm lên xem xét thật kỹ rồi bỏ luôn vào túi áo. Những món còn lại, ông dùng lòng bàn tay gạt nhẹ ra trên mặt cát, như thể trong đó có điều gì cần phải đọc. Rồi ông dùng dao rạch toạc chiếc quần của người chết. Buộc sát cạnh bộ phận sinh dục sẫm màu là một chiếc túi nhỏ bằng da. Phán quan cắt nó ra, rồi cũng cất vào túi áo ghi-lê. Sau cùng, ông ta nắm lấy mái tóc đen, nhấc đầu người chết khỏi cát, rồi cắt phăng cả mảng da đầu. Xong việc, cả bọn đứng dậy bỏ đi, để mặc hắn nằm đó, đôi mắt đang dần khô quắt vẫn như chăm chăm nhìn theo bước tiến tai ương của mặt trời.

Họ cưỡi ngựa suốt cả ngày trên một vùng đất cao nhợt nhạt, thưa thớt những bụi cây muối và cỏ kê. Đến chiều, họ dẫn ngựa vào một khu đất rỗng, vang lên dưới móng ngựa đến nỗi những con vật bước né tránh và trợn tròn mắt như thú trong rạp xiếc. Và đêm đó, khi họ nằm trên mặt đất ấy, mỗi người đều nghe, tất cả đều nghe, tiếng đá rơi đục đục từ đâu đó sâu thẳm bên dưới họ trong bóng tối kinh hoàng bên trong lòng đất.

Ngày hôm sau, họ băng qua một hồ thạch cao mịn đến nỗi ngựa không để lại dấu vết trên đó. Những kỵ mã mang chiếc mặt nạ bằng muội xương đen bôi quanh mắt, và một số còn bôi đen cả mắt ngựa. Ánh mặt trời phản chiếu từ mặt hồ làm cháy nửa dưới gương mặt họ, và bóng của cả ngựa lẫn người đều in trên lớp bột trắng mịn với màu chàm thuần khiết. Ngoài xa trên sa mạc phía bắc, những cột bụi lốc xoáy nhô lên, loạng choạng như những mũi khoan xoáy vào lòng đất, và có người nói rằng họ từng nghe về những kẻ hành hương bị cuốn lên như các đạo sĩ Mevlevi trong những vòng xoáy vô tri ấy, rồi bị quăng xuống sa mạc lần nữa, gãy xương và đầy máu, và có lẽ nằm đó mà nhìn thứ đã hủy diệt họ lảo đảo đi tiếp như một thần linh say rượu nào đó, rồi lại tan rã thành những nguyên tố đã sinh ra nó. Từ cơn lốc xoáy ấy không một tiếng nói nào vọng ra, và kẻ hành hương nằm giữa đống xương gãy của mình có thể cất tiếng kêu, và trong đau đớn hắn có thể nổi giận, nhưng giận điều gì? Và nếu cái vỏ khô đen của hắn được những người lữ hành sau này tìm thấy giữa cát, thì ai có thể khám phá ra nguyên nhân của sự hủy diệt đó?

Đêm ấy họ ngồi quanh đống lửa như những hồn ma, râu tóc và quần áo phủ đặc bụi đường, lặng im, mê mải ngắm ngọn lửa như những kẻ thờ phụng lửa. Lửa dần lụi. Những hòn than nhỏ chạy lóc cóc trên mặt đồng. Còn cát thì suốt đêm len lỏi trong bóng tối, như từng đạo quân chấy rận đang âm thầm di chuyển. Giữa đêm, vài con ngựa bắt đầu rít lên những tiếng thét ghê rợn. Đến lúc trời sáng, họ phát hiện mấy con đã phát điên vì chứng mù tuyết, đến mức buộc phải bắn hạ. Khi họ cưỡi ngựa ra đi, tên Mexico mà họ gọi là McGill đã thay tới con ngựa thứ ba chỉ trong ba ngày. Hắn không thể làm đen mắt con ngựa nhỏ mà hắn đã cưỡi khi từ hồ cạn đi lên, nếu không bịt miệng nó như chó, và con ngựa hắn đang cưỡi còn khó thuần hơn, và trong đàn ngựa chỉ còn lại ba con.

Chiều hôm ấy, hai gã Delaware đã tách khỏi họ từ một ngày sau khi rời Janos bắt kịp đoàn lúc mọi người dừng chân nghỉ trưa bên một giếng nước khoáng. Họ dắt theo con ngựa của ông lão cựu binh, vẫn còn yên cương. Glanton bước tới, cầm lấy dây cương đang lê trên đất rồi dắt con vật về bên đống lửa. Gã rút khẩu súng trường khỏi bao súng, trao cho David Brown, rồi bắt đầu lục chiếc túi buộc sau gụ yên, ném từng món đồ đạc ít ỏi của ông lão vào lửa, chăn, yên, tất cả, len dính mỡ và da thuộc bốc lên làn khói xám hôi thối.

Rồi họ lại tiếp tục cưỡi ngựa lên đường. Họ di chuyển về phía bắc và trong hai ngày, những gã Delaware đọc những làn khói báo hiệu trên các đỉnh núi xa xa, rồi những làn khói ấy ngừng lại và không còn nữa. Khi họ tiến vào vùng đồi chân núi, họ bắt gặp một cỗ xe ngựa cũ kỹ phủ đầy bụi với sáu con ngựa đang kéo, đang gặm cỏ khô trong một thung lũng nhỏ giữa những bụi cây cằn cỗi. Một nhóm người tách ra tiến về phía cỗ xe, lũ ngựa giật mình ngẩng đầu, né tránh và chạy nước kiệu. Những người ở đó liền thúc ngựa đuổi theo chúng quanh lòng chảo cho đến khi chúng chạy vòng tròn như những con ngựa bằng giấy trong bẫy gió, và cỗ xe kéo theo lạch cạch với một bánh xe bị gãy. Gã Jackson đen bước ra vẫy chiếc mũ và gọi họ dừng lại, gã tiến đến đám ngựa đang kéo xe với chiếc mũ đưa ra phía trước và nói chuyện với chúng khi chúng đứng đó run rẩy, cho đến khi gã có thể với tới những sợi dây cương kéo lê dưới đất.

Glanton bước ngang qua gã rồi mở cánh cửa cỗ xe. Bên trong khoang xe, lớp gỗ đã bị xé toạc ra với những vết nứt còn mới nguyên. Một xác chết đổ nhào ra ngoài, đầu chúi xuống đất, thân mình vẫn mắc lại nơi cửa xe. Trong khoang vẫn còn một người đàn ông và một cậu bé. Họ nằm chết cứng, tay vẫn ôm khư khư vũ khí giữa một mùi hôi thối nồng nặc đến mức dư sức xua bặt cả lũ kền kền.

Glanton thu gom súng ống cùng đạn dược rồi chuyền ra ngoài. Hai người khác trèo lên khoang chở hàng trên nóc xe, cắt phăng dây thừng và tấm bạt rách, rồi đá văng một chiếc rương hành lý cùng chiếc hộp công văn cũ bằng da sống, mở tung tất cả ra. Glanton dùng dao rạch đứt dây đai trên hộp công văn rồi trút sạch đồ bên trong xuống cát. Những bức thư gửi về những nơi chốn xa xôi xa xăm bắt đầu bay tán loạn, trôi dạt dần xuống thung lũng. Trong hòm còn vài túi đựng mẫu quặng có dán nhãn; gã trút hết chúng xuống đất, lấy mũi giày đá đá mấy cục quặng rồi đưa mắt nhìn quanh.

Gã ngoái nhìn vào trong cỗ xe lần nữa, nhổ một bãi nước bọt rồi quay đi kiểm tra bầy ngựa. Đó là những con ngựa Mỹ to lớn nhưng đã bị hành hạ đến kiệt sức. Gã ra hiệu tách hai con ngựa khỏi dây kéo, vẫy tay xua gã người da đen rời khỏi con ngựa dẫn đầu, rồi phất mạnh chiếc mũ về phía đàn ngựa.

Được giải phóng, chúng bắt đầu cắm đầu lao xuống lòng thung lũng. Đàn ngựa chạy chệch choạc, cật lực kéo theo dây cương; cỗ xe lảo đảo, rung lắc trên những sợi dây da đàn hồi, còn xác chết thì đung đưa lòng thòng ngoài cửa xe, đập va lách cách. Chúng nhỏ dần trên cánh đồng bằng phía tây, đầu tiên là âm thanh tắt hẳn, rồi hình dáng cỗ xe cũng tan biến vào làn hơi nóng hừng hực bốc lên từ cát, cho đến khi chỉ còn lại một hạt bụi vật vã trong khoảng không huyễn hoặc ấy, rồi cuối cùng biến mất hoàn toàn. Tất cả lại tiếp tục lên đường.

Suốt cả buổi chiều, họ nối đuôi nhau cưỡi ngựa men lên những dãy núi. Một con chim cắt non màu xám lượn quanh họ, như thể đang tìm lá cờ của đoàn quân, rồi bất chợt nghiêng cánh bay vụt khỏi họ, lướt trên đôi cánh dài mảnh xuống đồng bằng phía dưới. Họ tiếp tục đi, xuyên qua những thành phố bằng sa thạch trong ánh chạng vạng, lướt qua những lâu đài, pháo đài chính, những vọng gác do gió tạc nên và những kho lẫm bằng đá, lúc chìm trong nắng, lúc khuất trong bóng tối. Họ cưỡi ngựa qua đá sét nung, đất nung và những khe nứt đá phiến đồng, và họ cưỡi qua một thung lũng có cây cối rậm rạp rồi ra khỏi đó lên một mũi đất cao nhìn xuống một miệng núi lửa hoang vắng và cằn cỗi, nơi đó nằm những tàn tích bị bỏ hoang của Santa Rita del Cobre.

Chỗ này họ cắm trại khô, hoàn toàn không đốt lửa. Glanton phái một nhóm trinh sát xuống trước, rồi bản thân bước ra mỏm đá, ngồi trong hoàng hôn nhìn bóng tối mỗi lúc một dày đặc dưới vực sâu để canh chừng xem có ánh lửa nào lóe lên không. Nhóm trinh sát trở về khi trời đã tối mịt, và đến sáng hôm sau, lúc trời vẫn chưa hừng sáng hẳn, cả đoàn đã yên vị trên lưng ngựa để tiếp tục lên đường.

Họ tiến vào miệng núi lửa giữa màn mờ xám của buổi hừng đông, cưỡi ngựa nối đuôi nhau thành một hàng dài trên những con đường lát đá phiến. Hai bên đường là những dãy nhà đất nện cũ kỹ, bị bỏ hoang suốt mười hai năm qua, kể từ thời điểm người Apache cắt đứt các đoàn xe vận tải từ Chihuahua và siết chặt vòng vây quanh khu mỏ. Những người thợ mỏ Mexico năm xưa vì chết đói mà phải dắt díu nhau đi bộ về phía nam, nhưng rốt cuộc chẳng một ai sống sót tới nơi.

Đoán người Mỹ tiếp tục cưỡi ngựa đi qua những đống xỉ quặng và gạch vụn, qua những hầm mỏ tối om, rồi ngang qua nhà luyện quặng, nơi vẫn còn chất đống những tảng quặng thô, những cỗ xe chở hàng và xe goòng bạc trắng như xương dưới sương mai, cùng những khối máy móc bằng sắt thép đen sì bị bỏ lại. Họ vượt qua một lòng suối cạn đầy đá, tiếp tục băng qua vùng đất bị cày xới nát tươm ấy để tiến về phía một gò đất thấp.

Tại đó tọa lạc một pháo đài cũ, một tòa nhà hình tam giác đồ xộ làm bằng đất nện với các tháp canh tròn ở các góc. Bức tường phía đông chỉ mở duy nhất một lối đi, và khi cả đoàn lại gần, họ thấy rõ một luồng khói bốc lên, thứ mùi mà họ đã đánh hơi được trong không khí buổi sáng.​
 
CHƯƠNG IX (tiếp)
Glanton đập mạnh lên cánh cửa bằng chiếc dùi cui bọc da sống của gã, như một người lữ khách gõ cửa quán trọ. Một ánh sáng xanh nhạt tràn ngập những ngọn đồi xung quanh, và những đỉnh núi cao nhất về phía bắc đứng trong ánh mặt trời duy nhất trong khi toàn bộ miệng núi lửa vẫn còn chìm trong bóng tối. Tiếng vang của những cú đập vọng lại quanh những vách đá trơ trụi và nứt nẻ rồi quay trở lại. Đám người Mỹ kiên nhẫn ngồi trên lưng ngựa. Glanton đá một cái vào cửa.

“Ra ngoài nếu các người là người da trắng”, gã gọi.

Họ chờ đợi. Tiếng xích sắt kêu leng keng trên cánh cửa gỗ. Cánh cửa cao chạm khắc kêu cót két mở vào trong, và một người đàn ông đứng trước mặt họ, sẵn sàng với khẩu súng trường. Glanton khẽ thúc đầu gối vào con ngựa, nó ngẩng đầu lên dọc theo cánh cửa và đẩy nó mở rộng, và họ cưỡi ngựa đi qua.

Trong bóng tối xám xịt bên trong khuôn viên pháo đài, họ xuống ngựa và buộc chúng lại. Vài chiếc xe tải cũ kỹ nằm rải rác xung quanh, một số đã bị lấy mất bánh xe bởi những người qua đường. Có một ngọn đèn đang cháy trong một trong dãy phòng và vài người đàn ông đứng ở cửa. Glanton băng qua khoảng sân hình tam giác. Những người đàn ông bước sang một bên. "Bọn tôi cứ tưởng các anh là lũ da đỏ", họ nói.

Họ là bốn người còn sống sót trong một nhóm bảy người đã lên đường vào vùng núi để tìm kiếm kim loại quý. Họ đã bị phong tỏa trong pháo đài cũ này suốt ba ngày, chạy trốn khỏi sa mạc phía nam trước sự truy đuổi của những kẻ mọi rợ. Một trong số họ bị bắn xuyên qua ngực dưới và nằm dựa người vào tường trong văn phòng. Irving bước vào và nhìn anh ta.

“Đã chữa gì cho thằng này chưa?” Irving hỏi.

“Có làm được mẹ gì đâu.”

“Vậy các người muốn tôi làm gì?”

“Có định nhờ ông làm gì đâu.”

“Thế cho nhanh”, Irving nói. “Bởi vì vô vọng rồi.”

Hắn nhìn họ. Họ bẩn thỉu, rách rưới và gần như phát điên. Họ đã từng thực hiện những cuộc đột kích ban đêm lên khe suối để lấy củi và nước, và họ đã sống nhờ vào xác một con la chết bị mổ bụng và bốc mùi ở góc xa của sân. Điều đầu tiên họ yêu cầu là rượu whisky, tiếp theo là thuốc lá. Họ chỉ còn hai con vật, và một trong số chúng đã bị rắn cắn trên sa mạc, và bây giờ con vật này đang đứng trong sân với cái đầu sưng to quá cỡ và kỳ dị, như một hình tượng ngựa thần thoại trong thảm kịch Attica nào đó. Nó bị rắn cắn vào mũi, và đôi mắt nó lồi ra khỏi cái đầu không còn hình thù trong nỗi kinh hoàng đau đớn, nó lảo đảo khập khiễng tiến về phía đàn ngựa của nhóm, cái mõm dài méo mó đung đưa, chảy nước dãi, hơi thở khò khè trong những ống họng nghẹt thở. Da trên sống mũi đã nứt ra, để lộ xương trắng hồng bên dưới, và đôi tai nhỏ bé trông như những mảnh giấy xoắn cắm vào hai bên một ổ bánh mì phủ lông xù.

Lũ ngựa của đám người Mỹ bắt đầu tản ra và tách đàn dọc theo bức tường khi con vật tiến đến, và nó loạng choạng đuổi theo chúng một cách mù quáng. Một tràng tiếng thịch và tiếng đá vang lên, và lũ ngựa bắt đầu chạy vòng quanh sân. Một con ngựa nhỏ đốm xám thuộc về một trong những người Delaware lao ra khỏi đàn dự bị, vồ vào con vật hai lần rồi quay ngoắt và cắm răng vào cổ nó. Từ cổ họng con ngựa điên phát ra một âm thanh khiến những người bên trong phải chạy ra cửa nghe ngóng.

"Sao các người không bắn con vật khốn khổ đó đi?" Irving nói.

"Nó chết sớm thì nhanh bốc mùi lắm", họ đáp.

Irving nhổ nước bọt. "Các người định ăn thịt nó khi nó bị rắn cắn à?"

"Vẫn đang nghĩ xem sao. Bọn tôi không biết nên làm gì."

Irving lắc đầu và bước ra ngoài. Glanton và tay phán quan nhìn những người đang ngồi xổm và họ nhìn xuống sàn nhà. Một số xà nhà đã sập một nửa xuống phòng, và sàn nhà đầy bùn và đống đổ nát. Ánh nắng buổi sáng nay xiên qua những tàn tích đổ nát này, và Glanton có thể thấy một cậu bé người Mexico hoặc máu lai, khoảng mười hai tuổi, đang co ro trong một góc. Cậu ta trần truồng, chỉ mặc một chiếc quần cũ và đôi dép tạm làm bằng da chưa thuộc. Cậu ta nhìn lại Glanton với một vẻ mặt vừa khiếp sợ vừa ngang ngạnh.​

Đứa trẻ này từ đâu ra vậy?” Tay phán quan hỏi.

Họ nhún vai, nhìn đi chỗ khác.

Glanton nhổ nước bọt và lắc đầu.

Họ bố trí lính gác trên mái bằng, tháo yên cho ngựa và đuổi chúng ra ngoài gặm cỏ. Phán quan lấy một trong những con thồ hàng, dốc sạch hai túi đựng và đi khám phá các công trình mỏ. Buổi chiều, ông ta ngồi trong sân, dùng búa đập các mẫu quặng, loại đá feldspar giàu ôxít đồng đỏ và các cục vàng tự nhiên, trong những đường vân hữu cơ của chúng, ông tự cho rằng mình đọc được những tin tức về nguồn gốc của trái đất, và ông thuyết giảng lâm thời về địa chất cho một nhóm nhỏ đang gật gù và nhổ nước bọt. Một vài người trích dẫn kinh thánh để bác bỏ việc ông sắp xếp các thời đại từ hỗn mang nguyên thủy và những giả thuyết dị giáo khác. Phán quan chỉ mỉm cười.

Sách nói chưa đủ”, ông ta nói.

“Chúa không nói dối.”

Không”, tay phán quan nói. “Ngài không hề nói dối. Và đây là những lời minh chứng của Ngài.

Rồi ông ta giơ lên một hòn đá. Ông ta nói bằng đá và cây cối, bằng xương cốt của vạn vật.

Đám lính bên dưới trong quần áo rách rưới gật gù với nhau và chẳng bao lâu đã công nhận ông ta đúng, về người đàn ông có học thức này, trong mọi suy đoán của ông ta, và điều này được tay phán quan khuyến khích cho đến khi họ trở thành những tín đồ trung thành của trật tự mới, rồi ông cười nhạo họ là lũ ngốc.

Chiều hôm ấy, phần lớn đoàn người đóng quân trên nền đất sét khô của khu nhà dưới ánh sao trời. Trước rạng đông, một cơn mưa bất chợt xua họ vào trong, co ro trú tạm trong những gian phòng đất sét tối tăm dọc bức tường phía nam. Trong văn phòng đồn lính, họ đốt một đống lửa ngay trên nền đất, khói bốc nghi ngút qua mảng mái đã đổ nát. Glanton, tay phán quan cùng các thuộc hạ ngồi vây quanh ngọn lửa, thong thả hút thuốc tẩu, trong khi đám người đi nhờ xe đứng nép sang một bên, nhai chóp chép thứ thuốc lá được phát rồi nhổ toẹt vào tường. Thằng bé lai nhìn họ bằng đôi mắt đen láy.

Về phía tây, giữa những dãy đồi đen thấp lè tè, vang lên tiếng tru của một con sói khiến đám người tạm trú không khỏi lo ngại, còn những người thợ săn chỉ mỉm cười nhìn nhau. Giữa một đêm náo động bởi tiếng sói đồng cỏ kêu ăng ẳng cùng tiếng cú vạch trời, thì tiếng tru của con sói già đầu đàn ấy là âm thanh duy nhất họ biết chắc phát ra từ đúng hình hài của nó, một con sói đơn độc, có lẽ đã bạc mõm, treo lơ lửng như một con rối dưới ánh trăng với cái mõm dài đang cất tiếng gào thét vô ngôn. Đêm càng về khuya càng lạnh giá, trời nổi giông bão với gió quật và mưa trút, để rồi chẳng mấy chóc, toàn bộ bầy thú hoang dã của vùng đất ấy đều chìm vào im lặng.

Một con ngựa thò khuôn mặt dài ướt đẫm qua ô cửa. Glanton ngước nhìn rồi thì xầm thì thầm với nó; con ngựa ngẩng đầu, cong môi rồi lui dần vào cơn mưa và bóng đêm tăm tối. Đám người đi nhờ quan sát điều đó như cách họ vẫn nhìn mọi thứ trên đời, bằng đôi mắt liếc ngang liếc dọc đầy hoài nghi, và một kẻ trong bọn thốt lên rằng gã chẳng bao giờ nuôi một con ngựa làm thú cưng. Glanton nhổ một bãi nước bọt vào đống lửa, đăm đăm nhìn gã đàn ông không ngựa ngồi đó trong bộ quần áo rách rưới, rồi khẽ lắc đầu trước một hình hài vô thiên thủng của sự xuẩn ngốc giữa muôn hình vạn trạng trên đời.

Mưa đã ngớt hạt đôi chút, và trong khoảng lặng ấy, một tiếng sấm rền dội dài trên đầu rồi rầm rộ lăn qua những tảng đá. Ngay sau đó, mưa lại đổ xuống nặng hạt hơn, xuyên qua lỗ hổng đen ngòm trên mái nhà, xèo xèo bốc hơi và rít lên từng hồi trong ngọn lửa. Một người đứng dậy, kéo những đầu xà mục nát từ vài thanh dầm cũ chồng thêm vào đống lửa. Khói tỏa ra dọc theo những thanh xà ngang võng xuống phía trên đầu họ, trong khi những dòng đất sét lỏng bắt đầu chảy ròng ròng xuống từ mái nhà ướt sũng.

Bên ngoài, khoảng sân trải dài dưới những lớp nước xối xả bị quất tung bởi từng cơn gió giật. Ánh lửa từ ô cửa sổ hắt ra một dải sáng nhạt lên biển nước nông ấy, nơi những con ngựa đứng im lìm tựa như đám khán giả ven đường đang kiên nhẫn chờ đợi một sự kiện. Thỉnh thoảng, lại có một người đứng dậy bước ra ngoài, bóng của gã đổ dài giữa đàn gia súc. Lũ ngựa ngẩng đầu lên rồi lại cúi xuống, những chiếc đầu ướt sũng nhỏ giọt tòng tọc, khẽ gõ móng xuống đất rồi tiếp tục đứng chờ trong mưa.

Những người vừa hết phiên gác bước vào phòng, hơi nước bốc lên từ quần áo họ trước ngọn lửa. Gã da đen đứng ở cửa, không vào cũng không ra. Có người báo rằng phán quan đang trần truồng trên đỉnh tường, to lớn và nhợt nhạt trong những tia chớp lóe sáng, bước dọc theo hành lang phía trên và ngâm nga những khúc sử thi cổ xưa. Glanton nhìn ngọn lửa trong im lặng, và những người đàn ông trùm mình trong chăn ở những chỗ khô ráo hơn trên sàn, chẳng bao lâu họ đã chìm vào giấc ngủ.​
 
CHƯƠNG IX (tiếp)
Đến sáng, cơn mưa đã tạnh. Nước đọng thành vũng trong sân, và con ngựa bị rắn cắn nằm chết với cái đầu không còn hình thù vươn dài trong bùn, còn những con ngựa còn lại tụm cả vào góc đông bắc dưới chân tháp, đứng im, tất cả đều quay mặt vào bức tường. Những đỉnh núi phía bắc trắng xóa tuyết dưới ánh mặt trời mới mọc, và khi Toadvine bước ra ngoài ánh sáng, mặt trời vừa chạm đến những bức tường phía trên của khu nhà, và tay Phán quan đang đứng đó giữa bầu không khí tĩnh lặng còn phảng phất hơi nước bốc lên sau cơn mưa, xỉa răng bằng một cái gai như thể ông ta vừa mới ăn xong.

"Chào buổi sáng", phán quan nói.

"Chào buổi sáng", Toadvine đáp.​

"Có vẻ trời sắp quang."

"Quang rồi đấy", Toadvine nói.

Tay phán quan quay đầu và nhìn về phía tòa thành màu xanh coban nguyên sơ của một sớm ban mai đang hiện rõ trước mắt. Một con đại bàng đang bay ngang qua hẻm núi, ánh mặt trời trắng lóa phủ lên đầu và những chiếc lông đuôi của nó.

"Quả thế", tay phán quan nói. "Quả thế."

Đám dân cư trú chui ra và đứng quanh khu trại, chớp mắt như những con chim. Chúng đã bầu chọn giữa chúng để gia nhập đoàn quân, và khi Glanton băng qua sân, dắt theo con ngựa của mình, người phát ngôn đại diện của nhóm bước tới thông báo cho gã biết quyết định của họ. Glanton thậm chí không thèm nhìn hắn, và gã bước vào doanh trại để lấy yên ngựa cùng đồ đạc của mình. Trong lúc đó, có người đã tìm thấy thằng bé.

Nó đang nằm sấp, trần truồng trong một trong những buồng đắp đất nhỏ. Trên nền đất sét vương vãi rất nhiều xương cũ. Như thể nó, cũng như những kẻ khác trước nó, đã tình cờ tìm đến một nơi có thứ gì đó thù địch đang ngự trị. Đám dân cư trú chen chúc vào và đứng quanh xác chết trong im lặng. Chẳng bao lâu, bọn họ bắt đầu tán gẫu vô nghĩa về công lao và đức hạnh của thằng bé đã chết.

Trong khuôn viên, nhóm lính săn da đầu đã lên ngựa và quay mũi ngựa về phía cổng, lúc này đang mở rộng về phía đông để đón ánh sáng và mời gọi cuộc hành trình của chúng. Khi bọn họ cưỡi ra ngoài, những kẻ sắp chết đang trú ngụ trong nơi đó lôi thằng bé ra và đặt nó xuống bùn. Cổ nó đã bị bẻ gãy, đầu treo thẳng xuống và lật sang một bên một cách kỳ lạ khi họ thả xác nó xuống đất. Những ngọn đồi phía sau hố mỏ phản chiếu màu xám trong những vũng nước mưa trong sân, và con la bị ăn một nửa nằm trong bùn với phần hông bị mất, trông giống như một thứ gì đó trên bức tranh in màu về một cuộc chiến tranh khủng khiếp.

Bên trong doanh trại không còn cửa, người đàn ông bị bắn vừa hát thánh ca vừa rủa Chúa luân phiên. Đám người ở lại đứng quanh xác cậu bé, những khẩu súng tồi tàn buông nghỉ trong tay, nom như một đội danh dự tả tơi. Glanton đã đưa cho họ nửa pound thuốc súng, một ít ngòi nổ và một thỏi chì nhỏ, và khi đoàn quân cưỡi ngựa ra đi, một vài người ngoái lại nhìn họ, ba người đàn ông đứng đó không chút biểu cảm. Không ai giơ tay chào tạm biệt. Người đàn ông hấp hối bên đống tro tàn của ngọn lửa đang hát, và khi đám lính kia cưỡi ngựa ra đi, họ có thể nghe thấy những thánh ca của thời thơ ấu mình, và họ vẫn nghe thấy tiếng hát ấy khi cưỡi ngựa men theo lòng suối cạn, rồi leo qua những bụi bách xù thấp còn đẫm nước sau cơn mưa. Người đàn ông đang hấp hối hát với sự một sự trong trẻo và chủ ý lạ lùng, và những đám cưỡi lên đường vào vùng sâu hơn có lẽ đã cưỡi chậm hơn để nghe lâu hơn, bởi vì chính họ cũng là những con người được tạo nên từ những phẩm chất ấy.

Suốt ngày hôm đó, họ cứ thúc ngựa đi qua những ngọn đồi thấp trơ trụi, chỉ lưa thưa vài bụi cây thường xanh còi cọc. Trên khắp vùng cao nguyên, những đàn hươu nai liên tục giật mình phóng vụt đi rồi tản ra khắp ngả. Mấy người thợ săn tranh thủ bắn hạ vài con ngay trên yên ngựa, mổ bụng xẻ thịt rồi chất lên lưng ngựa mang theo. Đến chiều tối, phía sau đoàn đã xuất hiện một nhóm tòng phỏng chừng nửa tá sói đủ kích cỡ và màu lông; chúng lẳng lặng nối đuôi nhau thành một hàng dọc, thỉnh thoảng lại ngoái đầu qua vai như để tự kiểm tra xem mình có đi đúng vị trí hay không.

Đến lúc hoàng hôn, họ dừng lại, nhóm lửa và nướng thịt nai. Màn đêm đổ xuống nuốt chửng lấy đám người, trên bầu trời không có lấy một ngôi sao. Nhìn về phía bắc, họ thấy những đốm lửa khác đang cháy đỏ u ám dọc theo những dãy núi khuất trong bóng tối.

Ăn uống xong xuôi, họ lại lên đường, bỏ mặc đống lửa tàn phía sau. Nhưng khi cưỡi ngựa tiến sâu lên vùng núi, đống lửa ấy dường như cứ liên tục đổi chỗ, lúc ở chỗ này, lúc lại trượt sang chỗ khác, khi thì lùi dần ra xa, lúc lại di chuyển một cách ma mị dọc theo sườn của đoàn người. Nó giống như một thứ ma trơi quái dị bị bỏ lại trên con đường đã qua: ai nấy đều nhìn thấy, nhưng tuyệt nhiên không một ai lên tiếng nhắc đến. Bởi cái ý chí xảo trá vốn ẩn nấp trong mọi vật phát sáng có lẽ cũng có thể bộc lộ ra ngay cả khi ta ngoái nhìn về quá khứ; và biết đâu, chính sự khéo léo của một mảnh hành trình đã hoàn thành ấy lại có thể đưa đẩy con người ta sa vào những số phận giả tạo.Khi họ cưỡi ngựa qua cao nguyên đêm đó, họ thấy một đoàn cưỡi ngựa khác tiến về phía mình, trông chẳng khác gì hình ảnh phản chiếu của chính họ, được thêu dệt ra từ bóng tối bởi những tia chớp khô lóe lên từng cơn ở phía bắc. Glanton dừng lại và ngồi yên trên ngựa, cả đoàn dừng lại phía sau gã. Nhóm người im lặng kia cứ thế trôi tới. Khi còn cách khoảng một trăm thước, họ cũng dừng lại, và tất cả ngồi đó trong im lặng, dò xét cuộc gặp gỡ này.

Khi họ cưỡi ngựa qua cao nguyên đêm đó, họ thấy một đoàn cưỡi ngựa khác tiến về phía mình, trông chẳng khác gì hình ảnh phản chiếu của chính họ, được thêu dệt ra từ bóng tối bởi những tia chớp khô lóe lên từng cơn ở phía bắc. Glanton dừng lại và ngồi yên trên ngựa, cả đoàn dừng lại phía sau gã. Nhóm người im lặng kia cứ thế trôi tới. Khi còn cách khoảng một trăm thước, họ cũng dừng lại, và tất cả ngồi đó trong im lặng, dò xét cuộc gặp gỡ này.​

"Các người là ai?" Glanton cất tiếng gọi.

"Bạn bè! Chúng tôi là bạn!" bên kia đáp bằng tiếng Tây Ban Nha.

Họ âm thầm đếm quân số của nhau.

"Các ông từ đâu đến?" phía bên kia gọi sang.

"Các ngài định đi đâu?" tay Phán quan hỏi lại.

Họ là những thợ săn bò rừng từ phía bắc xuống, những con ngựa thồ của họ chất đầy thịt khô. Họ mặc da thú được khâu bằng dây chằng của thú vật và ngồi trên lưng ngựa theo kiểu của những kẻ hiếm khi rời khỏi yên. Họ mang theo những ngọn giáo dùng để săn bò rừng hoang dã trên thảo nguyên, và cán giáo được trang trí bằng những chùm lông chim và dải vải màu, một số mang cung, một số mang những khẩu súng hỏa mai cũ với nút tua rua bịt kín nòng. Thịt khô được đóng gói trong da thú, và ngoài vài thứ vũ khí trên người, họ gần như không có lấy một vật dụng nào của nền văn minh, họ mộc mạc chẳng khác gì những người bản địa nguyên sơ nhất của vùng đất ấy.​
 
PHỤ LỤC 3
Ý nghĩa của một số loại lá bài Tarot trong truyền thống châu Âu
I. Gã khờ - The fool
ss.avif

1. Vị Trí Trong Bộ Bài

  • Là lá số 0 trong Ẩn Chính (Major Arcana) của bộ Rider-Waite-Smith và nhiều hệ thống tarot châu Âu
  • Đứng trước cả lá số 1 (The Magician), tượng trưng cho điểm khởi đầu tuyệt đối
  • Đôi khi được đánh số XXII trong một số truyền thống cổ, tạo vòng tuần hoàn

2. Biểu Tượng Hình Ảnh

  • Chàng trai trẻ bước tới bờ vực: sự ngây thơ, liều lĩnh, tin vào vũ trụ
  • Bó hành lý nhỏ: hành trang tối thiểu, nhẹ nhàng bước vào hành trình
  • Bông hồng trắng: sự trong sạch, khát vọng tinh thần
  • Chú chó nhỏ: bản năng, sự trung thành, tiếng gọi cảnh tỉnh
  • Mặt trời/vách đá phía sau: nguồn gốc, sự bảo hộ đã rời bỏ
  • Áo hoa văn: sự hòa hợp với tự nhiên, không bị ràng buộc bởi quy ước

3. Ý Nghĩa Nguyên Thủy Trong Truyền Thống Châu Âu

  • Nguồn gốc từ "Le Mat" (Kẻ Điên) trong tarot Marseille (Pháp, thế kỷ 15): nhân vật ngoài lề xã hội, kẻ lang thang
  • Trong các lễ hội hóa trang châu Âu thời Trung Cổ, "the Fool" là kẻ được phép nói sự thật với vua
  • Gắn với hình tượng jester (anh hề cung đình) - người duy nhất được tự do chế giễu quyền lực
  • Liên hệ với Parsifal trong truyền thuyết Arthur - kẻ ngây thơ đạt được Thánh Chén nhờ không toan tính
II. Bốn Ly - Four of Cups

images.jpg

1. Vị Trí Trong Bộ Bài

  • Là lá thứ tư trong bộ Ly (Cups/Suits) của Ẩn Phụ (Minor Arcana)
  • Thuộc nhóm bài "số nhỏ" (pip cards) trong hệ thống Rider-Waite-Smith
  • Trong truyền thống tarot Marseille, được gọi là "Quatre de Coupes"
  • Đại diện cho giai đoạn thứ tư trong chu kỳ cảm xúc của bộ Ly

2. Biểu Tượng Hình Ảnh (Rider-Waite-Smith)

  • Chàng trai ngồi dưới gốc cây: sự tĩnh lặng, chiêm nghiệm, thu mình
  • Ba ly trước mặt: những gì đã có, thành tựu đã đạt được
  • Ly thứ tư được trao từ đám mây: cơ hội mới từ cõi vô hình, ân sủng
  • Khoanh tay trước ngực: thái độ phòng thủ, khép kín, từ chối
  • Ánh mắt nhìn xuống/nhìn xa: không nhìn thấy cơ hội đang đến
  • Cây xanh tách biệt: sự cô lập khỏi thế giới xung quanh
  • Bầu trời u ám nhẹ: tâm trạng uể oải, thiếu sinh khí

3. Nguồn Gốc Biểu Tượng Trong Truyền Thống Châu Âu

  • Truyền thống Kitô giáo: hình ảnh Chén Thánh (Holy Grail) được ban nhưng kẻ không xứng đáng không nhận ra
  • Thần thoại Hy Lạp: gợi nhắc Tantalus - kẻ bị treo lơ lửng giữa ham muốn và thờ ơ
  • Biểu tượng học thời Trung Cổ: số 4 tượng trưng cho sự ổn định nhưng cũng là bế tắc (bốn bức tường)
  • Truyền thống tu viện châu Âu: sự "acedia" - trạng thái uể oải tâm linh mà các tu sĩ cảnh báo
  • Văn hóa dân gian Đức: "Verschlossenheit" - sự khép kín của tâm hồn trước ân sủng

4. Ý Nghĩa Biểu Tượng Cốt Lõi

  • Sự thờ ơ: có đủ nhưng không còn thấy ý nghĩa
  • Từ chối vô thức: không nhận ra cơ hội đang được trao
  • Nhàm chán tâm linh: mất kết nối với nguồn cảm hứng
  • Khủng hoảng nội tâm: nhìn vào trong quá nhiều mà quên thế giới ngoài
  • Sự trì trệ cảm xúc: đứng yên giữa bốn ly đầy mà không uống
  • Bài học về lòng biết ơn: không thấy giá trị của những gì đang có
III. Bánh xe vận mệnh - Wheel of Fortune

images.jpg

1. Vị Trí Trong Bộ Bài

  • Là lá số X (10) trong Ẩn Chính (Major Arcana)
  • Đánh dấu điểm giữa của hành trình Major Arcana, chuyển từ tìm kiếm vật chất sang hành trình nội tâm
  • Trong hệ thống Golden Dawn: tương ứng chữ Hebrew Kaph (כ), hành tinh Sao Mộc (Jupiter), Path 21 nối Chesed với Netzach trên Cây Sự Sống
  • Số 10 trong thần số học: hoàn tất một chu kỳ, 1+0=1 nối với The Magician

2. Biểu Tượng Hình Ảnh (Rider-Waite-Smith)

  • Bánh xe trung tâm: vành ngoài khắc chữ T-A-R-O (đọc thành TARO, ROTA = bánh xe, TORA = luật pháp, ORAT = cầu nguyện, ATOR = Hathor)
  • Bốn ký hiệu giả kim: thủy ngân, lưu huỳnh, nước, muối — bốn yếu tố nền tảng vật chất
  • Tetragrammaton (יהוה): vành trong khắc tên không thể phát âm của Thượng Đế
  • Sphinx trên đỉnh: trí tuệ, sự phán xét, cân bằng giữa thăng và trầm
  • Anubis đi lên (phải): bản năng vô thức thăng hoa
  • Typhon trượt xuống (trái): hủy diệt và hỗn loạn nguyên thủy
  • Bốn sinh vật bốn góc (thiên thần, đại bàng, sư tử, bò mộng): bốn cung cố định hoàng đạo, xuất hiện trong Sách Ezekiel và Khải Huyền

3. Nguồn Gốc Biểu Tượng Trong Truyền Thống Châu Âu

Visconti-Sforza Tarot (Milan, ca. 1450–1480)

  • Nữ thần Vận May (Fortune) có cánh, bị bịt mắt ở trung tâm bánh xe
  • Bốn nhân vật với cuộn giấy Latin:
    • REGNO ("Ta trị vì") — người trên đỉnh
    • REGNABO ("Ta sẽ trị vì") — người bên trái đi lên
    • REGNAVI ("Ta đã trị vì") — người bên phải đi xuống
    • SUM SINE REGNO ("Ta không có vương quốc") — người dưới đáy
  • Người trên đỉnh có tai lừa — biểu tượng của kẻ may mắn nhưng thiếu trí tuệ

Tarot de Marseille

  • Được gọi là "La Roue de Fortune" trong bộ bài Pháp thế kỷ 15
  • Hình ảnh bánh xe với các sinh vật luân chuyển, không có nhân vật người cụ thể

Renaissance Astrology

  • Luca Gaurico (nhà chiêm tinh thời Phục hưng) phát hành bản đồ "Rota della fortuna" (1510) cho phép tra cứu vận mệnh theo năm

4. Ý Nghĩa Biểu Tượng Cốt Lõi

  • Vòng tuần hoàn không thể tránh khỏi: thăng–trầm–thăng, không ai mãi ở đỉnh hay đáy
  • Số phận và định mệnh: những gì thuộc về bạn sẽ đến, không thể cưỡng cầu
  • Nghiệp quả (Karma): gặt hái kết quả từ hành động trong quá khứ
  • Sự thay đổi và bước ngoặt: điểm chuyển mình của số phận
  • Tính chu kỳ của cuộc sống: mọi thứ vận hành theo vòng tròn, không theo đường thẳng
IV. Cỗ xe - The Chariot
Photo-06-05-2025-09-40-20.webp

1. Vị Trí Trong Bộ Bài

  • Là lá số VII (7) trong Ẩn Chính (Major Arcana) của hầu hết các bộ bài truyền thống
  • Trong hệ thống Golden Dawn: tương ứng chữ Hebrew Zain, cung hoàng đạo Cự Giải (Cancer)
  • Số 7 tượng trưng cho sự chiến thắng, vượt qua thử thách, và sự hoàn thiện của cá nhân
  • Đánh dấu giai đoạn chuyển từ việc xây dựng nền tảng (các lá I-VI) sang hành động quyết đoán

2. Biểu Tượng Hình Ảnh (Rider-Waite-Smith)

  • Người đánh xe đứng trong cỗ xe: không ngồi, thể hiện sự chủ động, cảnh giác, sẵn sàng
  • Hai nhân sư (sphinx) đen trắng: biểu tượng của những mặt đối lập trong tâm hồn — ý thức và vô thức, nam và nữ, thiện và ác
  • Không cầm dây cương, chỉ cầm quyền trượng: điều khiển bằng ý chí và trí tuệ, không bằng vũ lực
  • Áo giáp với hình vuông trắng trên ngực: sự trong sạch, kỷ luật, và bảo vệ
  • Hình lingam và yoni trên khiên xe: sự hợp nhất của các nguyên lý đối lập trong tâm lý
  • Vương miện có ngôi sao: kết nối với trực giác và sự dẫn dắt tinh thần
  • Thành phố phía sau: nền tảng văn minh, cấu trúc xã hội đã được thiết lập
  • Các cánh đồng phía trước: hành trình vào điều chưa biết, vượt ra ngoài vùng an toàn

3. Nguồn Gốc Biểu Tượng Trong Truyền Thống Châu Âu

Tarot Ý Thế Kỷ 15 (Visconti-Sforza, Marseille)

  • Bộ bài Marseille cổ nhất mô tả một người đánh xe với hai con ngựa đen trắng, thể hiện sự kiểm soát các mặt đối lập
  • Thẻ "Cỗ Xe của Issy" (khoảng 1450) — một trong những lá bài tarot lâu đời nhất còn tồn tại — cho thấy một người phụ nữ điều khiển xe với các hành khách trẻ em, liên hệ với nữ thần Artemis trong thần thoại Hy Lạp
  • Phiên bản Visconti-Sforza thường mô tả người đánh xe với dây cương, nhấn mạnh kiểm soát chủ động

Biểu Tượng Học Cổ Điển

  • Xe ngựa trong thần thoại Hy Lạp: cỗ xe của Helios (mặt trời), Apollo, và các anh hùng như Achilles — biểu tượng của quyền lực, chiến thắng, và hành trình anh hùng
  • Cuộc thi xe ngựa trong Đại hội Thể thao Olympia: chiến thắng trong cuộc đua xe là vinh quang tối cao
  • Truyền thống La Mã: "Triumphus" — lễ diễu hành chiến thắng của các tướng lĩnh, nơi người chiến thắng đứng trên cỗ xe bốn ngựa

4. Ý Nghĩa Biểu Tượng Cốt Lõi

  • Ý chí và sự kiểm soát: khả năng điều khiển các lực lượng đối lập trong cuộc sống và trong bản thân
  • Chiến thắng qua quyết tâm: vượt qua trở ngại bằng sự tập trung và kiên định
  • Hành động và tiến bước: rời bỏ vùng an toàn để theo đuổi mục tiêu
  • Sự hợp nhất các mặt đối lập: cân bằng giữa lý trí và cảm xúc, nam tính và nữ tính, hành động và trực giác
  • Nhân cách hóa (Persona): sự trưởng thành của cái tôi, khả năng đối mặt với thế giới bên ngoài
  • Tự chủ và kỷ luật: không bị điều khiển bởi bản năng mà chủ động định hướng chúng
==============================================================================
Những loại đá quý nổi tiếng dọc theo biên giới Mỹ - Mexico
Đặc điểmMã não Rio GrandeĐá JasperTinh thể Thạch anhĐá Obsidian
Thành phần chínhSiO₂ (Silica)SiO₂ (Silica) + Tạp chấtSiO₂ (Silica)SiO₂ (Silica) + Al₂O₃
Cấu trúc tinh thểVi tinh thể (Chalcedony)Vi tinh thể / Ẩn tinh thểKết tinh (Tinh thể lớn)Vô định hình (Thủy tinh tự nhiên)
Độ cứng (Mohs)6.5 – 76.5 – 775 – 5.5
Tỷ trọng~2.58 – 2.642.5 – 2.92.65~2.35 – 2.60
Đặc điểm nhận dạngTrong mờ, có dải màuĐục, nhiều màu, vết vỡ sòTrong suốt, cát khai kémĐen bóng, vết vỡ sò, sắc cạnh
 
CHƯƠNG X

Cựu linh mục Tobin – Cuộc giao tranh trên sông Little Colorado – Chuyến thăm xuống âm phủ – Người đàn ông uyên bác đã đến bằng cách nào – Glanton và Vị phán quan – Một lộ trình mới – Phán quan và lũ dơi – Phân dơi – Những kẻ đào ngũ – Diêm tiêu và than củi – Vùng đá núi lửa – Dấu móng ngựa – Núi lửa – Diêm sinh – Nền đá mẹ – Cuộc tàn sát thổ dân.

Những ngày tiếp theo, mọi dấu vết của người Gileños (Apache dọc theo sông Gila) đều biến mất và đoàn người tiến sâu hơn vào vùng núi. Bên những đống lửa bằng gỗ trôi trên vùng cao nhợt nhạt như xương, họ co ro trong im lặng trong khi những ngọn lửa chao đảo trong gió đêm bốc lên từ những thung lũng đá. Thằng nhóc ngồi bắt chéo dùng một chiếc dùi đục da mượn của cựu linh mục Tobin để vá một sợi quai da, và gã không áo dòng kia nhìn nó làm việc.

"Cậu chắc từng làm việc này rồi." Tobin nói.

Thằng nhóc quệt mũi bằng tay áo bẩn nhờn rồi xoay miếng da trên đùi.

"Không phải đâu." cậu đáp.

"Thế mà cậu có khiếu đấy." Tobin nói. "Giỏi hơn cả tôi nữa. Ơn Chúa ban chẳng mấy khi công bằng."

Thằng nhóc ngẩng lên nhìn ông, rồi lại cúi xuống tiếp tục làm.

"Đúng thế." cựu linh mục nói. "Cứ nhìn quanh đi rồi ngẫm về tay Phán quan."

"Tôi ngẫm đủ rồi." thằng nhóc đáp.

"Có thể cậu chẳng ưa gì ông ta, thế cũng phải thôi. Nhưng con người ấy làm được mọi thứ. Ta chưa từng thấy ông ta bắt tay vào việc gì mà lại không tỏ ra cực kỳ thành thạo."

Thằng nhóc xỏ sợi chỉ mỡ qua lớp da và kéo căng.

"Ông ta nói được tiếng Đức đấy", tay cựu linh mục nói.

"Tiếng Đức?"

"Ừ."

Thằng nhóc nhìn Tobin, rồi cúi xuống tiếp tục vá.

"Ta nghe tận tai ông ta nói. Bọn ta từng chặn một toán hành hương khùng khạo trên vùng đồng bằng Llano. Lão già dẫn đầu bọn họ bỗng cất tiếng nói tiếng Đức, cứ như thể cả bọn đang đứng giữa đất Đức vậy, và tay Phán quan kia đáp lại ngay bằng đúng thứ tiếng ấy. Glanton suýt ngã khỏi lưng ngựa vì sốc. Không ai trong bọn ta biết ông ta nói được thứ tiếng đó. Thế là có người hỏi ông ta học ở đâu. Biết ông ta trả lời sao không?"​

"Ông ta nói sao?"

"Bảo là học từ một người Đức."

Tay cựu linh mục nhổ toẹt xuống đất.

"Đến ta thì bỏ thời gian ra học với mười người Đức cũng chẳng học nổi. Còn cậu thì sao?"

Thằng nhóc lắc đầu.

"Không đâu," Tobin nói. "Ơn phước của Đấng Toàn Năng được cân đong rồi chia phát theo một cái cân chỉ mình Ngài biết, dĩ rằng chuyện ấy chẳng hề công bằng. Và ta cũng chẳng nghi ngờ gì rằng chính Ngài sẽ là người đầu tiên thừa nhận điều đó, nếu cậu đủ thẳng thắn mà hỏi thẳng mặt Ngài."

"Ai cơ?"

"Đấng Toàn Năng chứ ai, Đấng Toàn Năng." Cựu linh mục lắc đầu và liếc qua bên kia đống lửa, nhìn về phía viên Phán quan. "Cái tên to lớn trọc lóc ấy. Nhìn bề ngoài, cậu đâu có ngờ rằng ông ta có thể nhảy còn giỏi hơn cả Quỷ Dữ, phải không? Chúa ơi, ông ta là một vũ công thực thụ, cậu không thể chối cãi điều đó. Và cả kéo vĩ cầm, ông ta là tay kéo vĩ cầm giỏi nhất ta từng nghe, chấm hết. Giỏi ở mọi thứ. Ông ta biết mở đường trong rừng, bắn súng trường, cưỡi ngựa, lần dấu hươu. Ông ta đã đi khắp thế giới, còn cùng bàn với viên thống đốc ngồi thức đến bữa sáng, nào là Paris thế này, London thế kia, bằng năm thứ tiếng, giá mà cậu được nghe họ nói thì đáng lắm. Lão thống đốc tất nhiên cũng là một người học thức, nhưng tay phán quan..."

Tay cựu linh mục lắc đầu. "À, có lẽ đó cũng là cách Chúa cho thấy Ngài chẳng coi trọng học vấn đến thế. Đối với một Đấng biết mọi điều thì tri thức của con người có nghĩa lý gì? Ngài dành một tình yêu đặc biệt cho những con người bình thường, và sự khôn ngoan thiêng liêng thường ngự trong những điều nhỏ bé nhất. Cho nên cũng có thể tiếng nói của Đấng Toàn Năng lại vang lên sâu sắc nhất nơi những sinh linh sống lặng lẽ, chẳng mấy khi tự cất tiếng nói về mình."

Tobin nhìn thằng nhóc.

“Dù chuyện có ra sao”, gã nói, “Chúa gửi lời qua những sinh vật nhỏ bé nhất.”

Thằng nhóc nghĩ gã này muốn nói đến chim chóc hay những thứ bò lê dưới đất, nhưng tay cựu linh mục, đang nhìn, đầu hơi nghiêng, nói: “Không một con người nào được miễn trừ khỏi tiếng nói ấy.”

Thằng nhóc nhổ toẹt vào lửa và cúi xuống tiếp tục công việc.

“Tôi chưa nghe thấy tiếng gọi nào cả”, nó nói.

"Đến khi nó im bặt," Tobin nói, "cậu sẽ biết rằng suốt cả đời mình, cậu vẫn luôn nghe nó."

“Vậy ư?”

“Ừ.”

Thằng nhóc xoay mảnh da trong lòng. Tay cựu linh mục nhìn nó.

"Ban đêm," Tobin nói, "khi ngựa đang gặm cỏ và cả đoàn đều ngủ, ai là người nghe thấy tiếng chúng gặm cỏ?"

“Không ai nghe thấy nếu họ đang ngủ.”

"Đúng. Nhưng nếu lũ ngựa bỗng ngừng gặm cỏ thì ai là người tỉnh giấc?"​

“Mọi người.”

“Ừ”, Tobin nói. “Mọi người.”

Thằng nhóc ngước nhìn. "Còn Phán quan thì sao? Tiếng nói ấy có nói với ông ta không?"

“Phán quan à”, Tobin nói. “Ông ta không trả lời.”

“Tôi đã thấy ông ta trước đây”, thằng nhóc nói. “Ở Nacogdoches.”

Tobin cười một cách lo lắng. “Ai trong đoàn cũng quả quyết rằng mình từng chạm mặt cái gã có linh hồn đen như bồ hóng ấy ở một nơi nào đó trước đây.”

Tobin xoa bộ râu vào mu bàn tay. "Ông ta đã cứu cả đoàn, ta không dám phủ nhận điều đó. Cả nhóm xuống từ sông Little Colorado mà không có nổi một cân thuốc súng. Một cân, chẳng có lấy một chút nào. Ông ta thì ngồi chễm chệ trên một tảng đá, giữa cái sa mạc mênh mông nhất mà cậu có thể tưởng tượng. Cứ đậu trên tảng đá ấy như một người đang thong thả đợi xe ngựa đường dài. Brown nghĩ còn nghĩ ông ta là ảo ảnh. Có thể đã bắn luôn ông ta mấy phát rồi, nếu như lúc ấy bọn ta còn có cái gì để mà bắn."

"Sao các ông lại hết sạch thuốc súng?”

"Bắn hết vào bọn mọi rợ. Bị vây hãm chín ngày trong một cái hang, mất hầu hết ngựa. Bọn ta từng có quân số ba mươi tám người khi rời thành phố Chihuahua và chỉ còn mười bốn khi gặp tay phán quan. Bị đánh cho tan tác, chạy bán sống bán chết. Đứa nào trong bọn ta cũng biết rằng ở cái vùng đất bị Chúa bỏ quên ấy, sớm muộn gì cũng sẽ có một khe núi, một ngõ cụt, hay chỉ một đống đá nào đó, và rồi bọn ta sẽ bị dồn đến đường cùng, phải cố thủ ở đó với những khẩu súng đã cạn sạch thuốc súng. Còn tay phán quan thì đến quỷ dữ cũng phải nai lưng ra mà chờ ông ta ban lệnh."

Thằng nhóc cầm chiếc đinh ghim trong một tay, cái dùi trong tay kia. Nó nhìn gã cựu linh mục.

"Chúng ta đã đi trên đồng bằng suốt đêm và kéo dài sang tận ngày hôm sau. Mấy tay thổ dân Delaware cứ liên tục ra hiệu dừng lại rồi nằm rạp xuống đất để lắng nghe. Chẳng có lấy một nơi để chạy, cũng chẳng có lấy một chỗ để trốn. Ta không biết họ muốn nghe điều gì. Ai mà chẳng biết lũ mọi khát máu đang rình rập ngoài kia, và với riêng ta, chừng đó đã là quá đủ thông tin rồi, chẳng cần thêm nữa.

Buổi bình minh hôm ấy, ai nấy đều tin đó sẽ là lần cuối cùng mình còn được nhìn thấy mặt trời mọc. Cả bọn cứ đăm đăm dõi mắt về phía sau lưng, nhìn lại con đường mình vừa đi qua, và chỉ Chúa mới biết tầm mắt có thể vươn xa đến mức nào, mười lăm hay hai mươi dặm cũng nên.

Rồi vào khoảng giữa trưa hôm đó, chúng tôi bắt gặp tay phán quan. Ông ta ngồi trên tảng đá của mình giữa chốn hoang vu ấy, chỉ có một thân một mình. Ừ, mà cũng chẳng có tảng đá nào khác quanh đó, chỉ duy nhất một tảng thôi. Irving bảo chắc ông ta vác nó theo từ nhà, còn ta thì cho rằng đó là một cột mốc biên giới, dựng lên để đánh dấu nơi ông ta hiện ra từ hư vô. Ông ta mang theo khẩu súng trường y hệt như cái ông ta đang đeo bây giờ, toàn bộ được dát bạc Đức, và cái tên ông ta đặt cho nó được khảm bằng dây bạc bên dưới báng súng bằng tiếng Latinh: Et In Arcadia Ego, một lời ám chỉ đến sự chết chóc nằm bên trong nó. Chuyện đàn ông đặt tên cho súng thì chẳng có gì lạ, ta từng nghe đủ kiểu: Sweetlips, Hark From The Tombs, rồi đủ thứ tên đàn bà khác. Nhưng khẩu súng của ông ta là khẩu đầu tiên, và cũng là duy nhất ta từng thấy mang một câu khắc rút từ văn chương cổ điển.

Và tay phán quan ngồi đó. Không ngựa. Chỉ mình ông ta với hai chân bắt chéo, mỉm cười khi chúng ta thúc ngựa tiến lại gần. Như thể ông ta đã chủ động ngồi chờ từ trước vậy. Trên vai ông ta vắt một chiếc túi dã chiến bằng vải bạt cũ cùng một chiếc áo khoác benjamin bằng len cũ kỹ. Trong túi chứa một cặp súng lục ổ quay và một mớ tiền mặt đủ loại, cả vàng lẫn bạc. Ông ta thậm chí chẳng buồn mang theo bình đựng nước. Thật cứ như... chẳng ai tài nào đoán nổi ông ta từ đâu bước ra. Tay phán quan bảo trước đó ông ta đi cùng một đoàn xe hàng, rồi bỏ đoàn để tự thân lang bạt.

Davy muốn bỏ qua phán quan lại đó. Chuyện ấy chẳng hợp với cái danh dự méo mó của hắn, và đến tận bây giờ vẫn vậy. Glanton chỉ chăm chú nhìn. Phải mất cả ngày trời mới có thể đoán được ông ta nghĩ gì về cái bóng dáng trên mặt đất ấy. Đến bây giờ tôi vẫn không biết. Giữa hai kẻ ấy có một cuộc giao dịch bí mật nào đó. Một khế ước khủng khiếp. Cứ nhớ lời ta đi. Rồi cậu sẽ thấy ta nói không sai đâu. Glanton gọi dắt đến một trong hai con vật thồ cuối cùng còn lại của bọn ta. Gã cắt đứt dây buộc, để mặc đôi túi hàng rơi xuống đất nơi chúng rớt, rồi phán quan trèo lên lưng con vật, sau đó gã và Glanton cưỡi sóng đôi, và chẳng bao lâu sau họ đã trò chuyện như anh em. Phán quan cưỡi con vật ấy không cần yên như một người da đỏ, một tay cầm dây cương, một tay đặt khẩu súng trường trên vai của con ngựa, và ông ta đưa mắt nhìn khắp chung quanh với vẻ mãn nguyện nhất trên đời, như thể mọi chuyện đều diễn ra đúng hệt điều ông ta đã tính trước, như thể ngày hôm ấy vốn không thể nào đẹp hơn được nữa.

Bọn ta chưa cưỡi ngựa đi được bao xa thì ông ta đã chỉ cho một hướng đi mới, lệch khoảng chín điểm (rẽ góc ~101,25°) về phía đông. Phán quan chỉ ra một dãy núi cách đó chừng ba mươi dặm và chúng tôi kéo về phía những ngọn núi đó, chẳng ai buồn thắc mắc vì sao. Đến lúc đó Glanton hẳn đã kể cho ông ta nghe cặn kẽ tình cảnh mà cả bọn đang lâm vào. Thế nhưng nếu việc tay trắng giữa vùng hoang địa ấy, lại còn bị gần như cả xứ Apache săn đuổi, có khiến phán quan này bận lòng chút nào, thì chắc ông ta cũng giữ kín trong bụng, chẳng hé ra lấy một lời.”

Tay cựu linh mục ngừng lại để nhóm lại tẩu thuốc. Gã thò tay vào đống lửa trần, lấy ra một cục than hồng, đúng theo cách những người trinh sát da đỏ vẫn làm, rồi sau khi châm xong lại đặt cục than trở về giữa ngọn lửa, như thể nó vốn có chỗ của mình ở đó.

"Giờ cậu nghĩ coi, chúng ta kéo đến những ngọn núi đó là vì cái gì? Và làm sao gã biết được điều đó? Làm sao để tìm ra nó? Làm sao để sử dụng nó?"

Tobin dường như tự hỏi những câu ấy với chính mình. Gã nhìn vào ngọn lửa và rít tẩu thuốc.

"Phải, làm sao thật nhỉ...", gã lẩm bẩm. "Bọn ta đến chân đồi vào chiều tối và cưỡi ngựa dọc theo một con lạch khô, tiến tiếp có lẽ đến tận nửa đêm và hạ trại ở một nơi không có lấy một cành củi, cũng chẳng có nổi một giọt nước. Đến sáng, có thể thấy đám thổ dân trên đồng bằng về phía bắc, cách chừng mười dặm. Họ cưỡi ngựa hàng bốn, hàng sáu sóng đôi và không thiếu gì số lượng, và họ chẳng có vẻ gì là vội vàng.

Tay Phán quan đã thức suốt đêm theo lời mấy người canh gác. Ngắm lũ dơi. Ông ta leo lên sườn núi, ghi chép vào một cuốn sổ nhỏ rồi lại xuống. Không ai có thể vui vẻ hơn ông ta được nữa. Có hai người đã đào ngũ trong đêm, thế là bọn ta chỉ còn mười hai và thêm cả Phán quan nữa là mười ba. Ta đã quan sát kỹ lưỡng nhất có thể, cái tay phán quan ấy. Cả khi đó lẫn bây giờ. Ông ta có vẻ như một kẻ điên, rồi lại không. Còn Glanton thì ta luôn biết là thằng cha ấy điên thật, không cần nghi ngờ gì."​
 
Top